Trang

Thứ Tư, 7 tháng 2, 2018



Cách mạng Pháp và Edmund Burke .


( Nam Quỳnh )


Hầu tước De Launay cho đến lúc bị đám đông cuồng nộ đâm hàng trăm nhát dao và lưỡi lê, chặt đầu quăng xác xuống cống rồi nã thêm một tràng súng ngắn nữa trong ánh chiều sẫm khói Paris có lẽ vẫn không hiểu vì cái quái gì mà số phận lại nghiệt ngã với ông đến vậy. Nửa ngày trước, sáng 14 tháng 7 năm 1789, trong vai trò tổng đốc nhà ngục Bastille, De Launay lịch sự tiếp đón hai vị đại biểu của người dân thủ đô Paris. Không khí cách mạng đang sục sôi tại đó. Trong cơn khủng hoảng kinh tế và lương thực, bất đồng giữa phe thường dân và chính quyền Hoàng gia Pháp ngày càng sâu nặng đến mức khó mà đảo ngược. Hơn một tháng trước đó, người dân Paris đã tự thành lập chính quyền nhân dân địa phương, chính thức vào thế đối đầu với thế lực Hoàng gia và đa số quý tộc Pháp. Tuy nhiên cả hai bên vẫn chưa động thủ mà mới chỉ gầm gừ với nhau.

Trong những cơn đói sôi sục và trước tin đồn phe Hoàng gia sẽ huy động quân lính đàn áp mình, người dân Paris trở nên cực kỳ lo lắng. Nhà ngục kiêm pháo đài Bastille – vốn hay được dùng để giam giữ tù nhân chính trị, tức là tất cả những ai cả gan phê phán vương triều, chửi rủa quý tộc – từ lâu đã là cái gai trong mắt người dân phản đế tại Paris. Các thủ lãnh chính quyền nhân dân địa phương Paris quyết định phải vô hiệu hóa súng ống đồng thời tịch thu thuốc súng trong pháo đài Bastille. Không có ai thật sư cần được ‘ giải phóng ’ từ nhà ngục Bastille. Ngày hôm đó nhà tù có vỏn vẹn bảy tù nhân bao gồm bốn tù nhân thường phạm ( tội làm giả giấy tờ ) và ba người thuộc loại ‘ gia đình có điều kiện ’ trả tiền cho nhà tù ‘ nhờ ’ giam giữ người thân của họ vì nhiều lý do tế nhị khác nhau.



Thương lượng giữa De Launay và các đại diện nhân dân không đi đến đâu cả. De Launay, người về bản chất là một viên quan nhút nhát, chán phèo và chỉ biết tuân lệnh hơn là một tay quý tộc sắt máu, cương quyết không giao súng đạn khi chưa có lệnh hoàng gia. Khoảng 1h30' chiều, các đại biểu chính quyền nhân dân định ra về để thảo luận thêm với nhau, tìm cách thuyết phục De Launay. Đó cũng chính là lúc đám đông người dân đang vây quanh pháo đài Bastille mất kiên nhẫn. Được cầm đầu bởi một đám cựu sĩ quan quân đội bao gồm vài người đã từng tham gia cuộc Cách mạng Mỹ năm 1776, đám đông người dân Paris tấn công pháo đài. Phe bảo vệ pháo đài xả súng. Với vũ khí cướp được từ nhiều nơi khác, phe người dân đáp trả. Cuộc chiến ngã ngũ vào lúc khoảng 5h chiều, biết phe mình không đủ lương thực đề cầm cự lâu thêm, Hầu tước De Launay xin hàng.

Đám đông người dân xông vào bẻ kiếm của De Launay rồi gô cổ ông ta. Họ bàn cãi nhau xem phải làm gì với ông rồi quyết định đưa ông về tổng hành dinh chính quyền địa phương xét xử. Nhưng De Launay đã không bao giờ đi hết đoạn đường đó. Đầu bị chặt của De Launay bị treo lên một ngọn giáo đem đi diễu hành trên đường phố Paris. Biết rằng hành vi tấn công phá ngục Bastille đã đưa họ “ vượt sông Rubicon ”, đòn phản công của chính quyền Hoàng gia chỉ còn là vấn đề thời gian, người dân Paris hô hào nhau cầm súng đứng lên cùng lập chiến lũy trên đường phố, biến cả thủ đô Paris thành bãi chiến trường cho những cuộc đụng độ mới. Cuộc Cách mạng pháp kéo dài từ 1789 đến 1799 thường được xem là đã bắt đầu từ một ngày 14 tháng 7 đẫm máu như thế.

Cuộc cách mạng này đã làm thay đổi thế giới theo nhiều cách. Sự tàn bạo và đẫm máu của cuộc cách mạng 10 năm này cùng những hệ quả của nó dẫn đến một số cuộc cách mạng khác – những cuộc cách mạng không máu me, không súng đạn nhưng cũng không kém phần quyết liệt : những cuộc cách mạng của tư tưởng. Một trong số đó là cuộc cách mạng tư tưởng góp phần khai sinh ra chủ nghĩa bảo thủ ( conservatism ) xuất phát từ phản ứng với Cách mạng Pháp của một nhà tư tưởng chính trị lớn, Edmund Burke.


Edmund Burke, nhà tư tưởng chính trị

Edmund Burke ( 1729 - 1797 ) sinh ra tại Ireland trong một gia đình trung lưu có cha là luật sư. Burke cũng học luật nhưng bỏ ngang để theo nghiệp viết lách về triết học, tôn giáo và nghệ thuật tại Anh quốc. Sự nghiệp viết lách suốt đời này giúp ông trở thành bạn bè của nhiều nhà văn, nhà tư tưởng nổi tiếng của Anh và Mỹ thế kỷ 18. Năm 36 tuổi, sau nhiều năm làm thư ký cho một số chính trị gia Anh, Burke gia nhập đảng Whig ( một đảng chính trị cổ xưa nay không còn tồn tại ) và bắt đầu tham chính trong vai trò Nghị viên Anh quốc. Burke bắt đầu tạo dấu ấn lên chính trường bằng vốn học vấn uyên thâm cùng khả năng viết lách và hùng biện thao thao bất tuyệt của mình.

Ông dần trở thành ‘ ngòi bút ’ và ‘ tiếng nói ’ của cả đảng Whig, một đảng chính trị khi đó có tư tưởng quân chủ lập hiến : duy trì vương triều Anh quốc nhưng phải đặt vương triều đó dưới các hình thức kiểm soát hiến pháp của Quốc hội Anh, không cho phép vua chúa lạm quyền. Burke xây dựng sự nghiệp chính trị của ông chủ yếu dựa trên việc đấu tranh cho sự giới hạn quyền lực vua chúa đó. Ông cũng cổ vũ cho thị trường tự do và ủng hộ thực hiện minh bạch thông tin chính trị thông qua việc xuất bản rộng rãi cho công chúng nội dung các tranh luận tại quốc hội.

Burke cũng nổi tiếng với quan điểm cho rằng các đại biểu quốc hội tại Nghị viện Anh phải biết độc lập đưa ra phán quyết thay vì làm ‘ con rối ’ trong tay cử tri. Với một hình ảnh “ phong kiến nhưng cấp tiến ”, “ theo vua mà vẫn gần dân ” như thế, không lạ là nhiều nhà tư tưởng cùng thời với Burke nghĩ rằng ông cũng sẽ ủng hộ Cách mạng Pháp. Tuy nhiên, Burke đã làm nhiều người ngạc nhiên khi ông lên tiếng phản đối mạnh mẽ Cách mạng Pháp. Phản ứng của ông dẫn đến một cuộc tranh luận kéo dài nhiều năm với Paine và một số nhà tư tưởng khác về những tư tưởng chính trị nền tảng của học thuyết về quyền tự nhiên của con người ( natural rights ). Trong cuộc tranh luận đó, Burke cũng đồng thời xây dựng những nền tảng cho một tư tưởng chính trị chưa thực sự được định hình vào thời đại của ông là chủ nghĩa bảo thủ.


Cách mạng Pháp và quyền con người

Một trong những tư tưởng dân chủ tiến bộ làm nền tảng tri thức cho cuộc Cách mạng Pháp là học thuyết về quyền tự nhiên của con người. Học thuyết này cho rằng đã tồn tại sẵn những quyền tự nhiên ( natural rights ) là những quyền mà người nào sinh ra cũng đã có và không phụ thuộc vào văn hóa, lịch sử, hay chính quyền nào cả. Các nhà cách mạng Mỹ năm 1776 dùng học thuyết này để tranh đấu cho quyền tự do của người dân các bang thuộc địa Hoa Kỳ chống lại sự đàn áp bóc lột của chính quyền thuộc địa Anh. Chúng ta cũng có thể thấy bóng dáng của nó qua Tuyên ngôn Độc lập của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa năm 1945 : “ Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được ; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc ”.

Các nhà cách mạng Pháp năm 1789 cũng dùng học thuyết quyền tự nhiên này làm sức mạnh lý tính cho phong trào : chính quyền Hoàng gia, giới quý tộc và giới tăng lữ nhà thờ tại Pháp không thể dựa vào quyền lực sẵn có truyền từ bao đời qua để “ ăn trên ngồi trốc ” trong khi dân thường, trung lưu hay nghèo khó phải chịu thống khổ, người dân thường tuy không là vua chúa, quý tộc, tăng lữ nhưng vẫn có những quyền tự nhiên của họ. Trên phương diện đó, vua chúa, quý tộc, tăng lữ và thường dân phải bình đằng với nhau.

Hệ thống phong kiến cha truyền con nối và hệ thống nhà thờ “ ăn theo ” hệ thống phong kiến đang áp đặt một bộ khung chia chác quyền lợi “ phản tự nhiên ”, chỉ ưu tiên một thiểu số quý tộc và tăng lữ thay vì bình đẳng bảo vệ quyền tự nhiên của tất cả mọi người, vì vậy những hệ thống này phải bị kiểm soát hay xóa bỏ. Nếu đám vua chúa, quý tộc, tăng lữ cương quyết không chịu nhượng bộ thì người dân phải đứng lên bảo vệ cho những quyền đó và dẹp bỏ những kẻ cứng đầu.


Edmund Burke phản đối Cách mạng Pháp

Burke đầu tiên đưa ra các phản đối của mình trong tác phẩm “ Những suy tư về cuộc Cách mạng ở Pháp ” ( Reflections on the Revolution in France ) xuất bản năm 1790. Trong tác phẩm này, viết dưới dạng một lá thư dài gửi cho một người bạn ở Paris, Burke muốn phản ứng lại trào lưu ủng hộ Cách mạng Pháp tại Anh vốn đang nóng lên sau những chiến thắng đầu tiên của người dân Pháp. Burke chủ yếu mong muốn thuyết phục người đọc rằng không nên ủng hộ việc tiến hành một cuộc cách mạng như Cách mạng Pháp tại Anh quốc. Burke phê phán Cách mạng Pháp thông qua 3 luận điểm chính, nhiều khi được xoắn kết với nhau thay vì được chia rành rẽ trong tác phẩm :

1. Cuộc cách mạng này muốn gấp rút đưa vào thực tế một học thuyết siêu hình trừu tượng về quyền tự nhiên của con người. Sự gấp rút đó kéo theo một làn sóng bạo lực đẫm máu khủng khiếp không đáng có ;

2. Thứ học thuyết nền tảng cho cuộc cách mạng đó, một học thuyết về quyền con người bình đẳng muốn san bằng tất cả trật tự xã hội sẵn có là một nền tảng trí thức yếu ớt ( quyền chẳng biết từ đâu ra – tự nhiên là gì ? Chúa hay con người ? ) . Quan trọng hơn, việc tuyệt đối tin tưởng vào sức mạnh của nền tảng trí thức duy lý tính ( rational ) là một sai lầm vì nó kém thực tế, không nhìn nhận được thiên tư – mong muốn, cảm xúc, định kiến sẵn có – của con người. Đặc biệt là của chính người Anh ;

3. Hệ thống chính trị phong kiến cha truyền con nối, chế độ tư hữu tài sản, và hệ thống tôn giáo nhà thờ, những thứ mà cuộc cách mạng này muốn hủy diệt, là những thứ không thể bỏ đi vì chúng có vai trò thực dụng tối quan trọng trong việc duy trì sự ổn định của xã hội con người.

Chúng quan trọng và xứng đáng được duy trì không chỉ vì vai trò lịch sử của chúng mà còn vì chúng thuộc về truyền thống của con người, phù hợp với những thiên tư của con người. Không thể thay đổi hay chà đạp lên những thiên tư ấy bằng một bản kế hoạch mang tính duy lý kiêu ngạo của con người. Phê phán của Burke về tính bạo lực cách mạng rồi sẽ được lịch sử chứng minh là xác đáng khi Cách mạng Pháp bị cuốn sâu hơn vào một cơn cuồng nộ của súng đạn và máy chém sau năm 1790. 

Vậy cụ thể Burke đã phê bình những gì về Cách mạng Pháp ?


Vai trò của kinh nghiệm, sự hiểu biết từ thực tế truyền đời

Trong cái nhìn của Burke, những nhà cách mạng Pháp đang cho rằng họ đã có trong tay tất cả những gì họ cần để thay đổi nước Pháp theo đúng hình ảnh lý tưởng của họ : một đất nước tự do, bình đẳng, bác ái, nơi quyền tự nhiên của mọi người đều được bảo vệ.

Chỉ cần có lý tưởng là đủ !

Con người chỉ cần can đảm, mạnh bạo, kiên trì là có thể xây dựng một xã hội hoàn toàn mới dựa theo bất cứ lý tưởng nào của họ. Chiếu theo một niềm tin được xây dựng từ cách mạng khoa học thế kỷ 16 và 17 tại Châu Âu, lý tính ( rationality ) – khả năng tư duy hợp lý và khoa học - là một khả năng có sức mạnh vô biên giúp con người thực hiện lý tưởng của mình. Trái lại theo Burke, việc phá bỏ và xây dựng lại một xã hội hoàn toàn mới không thể là một việc chỉ cần có lý tính và một niềm tin sắt đá vào một thứ lý tưởng nào đó là có thể thực hiện được. Chú tâm của Burke ở vào vế xây dựng và duy trì : xây lại mới khó, phá thì ai chả phá được. Burke đã chất vấn những nhà tư tưởng của cách mạng Pháp như sau :

“ Bàn luận về một thứ quyền trừu tượng của con người như quyền được có thức ăn và thuốc men để làm gì ? Vấn đề nằm ở phương pháp kiếm ra được những thứ đó và quản lý chúng. Mỗi lúc bị yêu cầu phải tính toán để có thể làm được những việc này tôi luôn luôn tư vấn là chúng ta hãy kêu gọi sự giúp đỡ của một người nông dân và một ông bác sĩ thay vì một giáo sư siêu hình học ( metaphysics ) ” .

Con người cần có tri thức hiểu biết để có thể khai thác và quản lý tài nguyên, tài sản, cũng như của cải trong xã hội một cách hiệu quả. Nếu đảm bảo được tài nguyên, tài sản, của cải trong xã hội được quản lý hiệu quả và phân chia hợp lý thì sẽ góp phần giữ vững hòa bình ổn định cho xã hội đó. Theo Burke, tất cả tri thức và hiểu biết theo kiểu ông vừa tả không đến từ một lý thuyết triết học siêu hình trừu tượng nào mà phải đến từ kinh nghiệm và hiểu biết thực tế. Đó là những thứ đã được con người lựa chọn từ thực tiễn, trải qua thử thách trui rèn cũng như kiểm nghiệm của thời gian.

Vậy sự hiểu biết cùng kinh nghiệm thực tế từ đâu mà có ?

Chúng đến từ truyền thống và những thiết chế sẵn có trong xã hội ( như hệ thống chính quyền phong kiến, chế độ tư hữu tài sản, nhà thờ, giai cấp quý tộc ) , được hình thành nhờ công sức mà nhiều thế hệ trước đã gom góp và xây dựng nên. Với Burke, hệ thống chính quyền phong kiến, chế độ tư hữu tài sản, nhà thờ, giai cấp quý tộc đóng vai trò quan trọng không phải vì bản thân những thiết chế đó tốt đẹp gì, Burke cũng không hề cổ xúy cho việc đặt những thiết chế phong kiến truyền thống lên bàn thờ để rồi chổng mông lên bái. Là một người đã dành gần cả đời phê phán lũ quý tộc và đòi giới hạn quyền lực của vua chúa, Burke hiểu rõ đám vua chúa quý tộc có thể quậy phá, ham mê của cải và lạm dụng quyền lực như thế nào.

Với Burke, các thiết chế truyền thống không được phép miễn nhiễm trước những thay đổi thời cuộc nhưng quá trình thay đổi các thiết chế truyền thống sao cho phù hợp với thời cuộc phải là một quá trình chậm rãi thay vì “ thần tốc vũ bão ”. Những thiết chế đó phải được duy trì vì chúng là những thứ lưu giữ truyền thống, là nguồn cội tri thức và trí thức qua nhiều thế hệ. Chúng có một vai trò thực dụng giúp con người tiếp cận một cách mau chóng và tiện dụng kinh nghiệm, kỹ năng, hiểu biết trong việc xây dựng, quản lý và duy trì xã hội. Có thể ví von là Burke đã nhìn những thiết chế phong kiến, tôn giáo truyền thống như những “ data bank ” – “ ngân hàng dữ liệu điện toán ” thời cận đại.

Trong khi các nhà cách mạng Pháp muốn “ đập màn hình ”, “ xóa ổ cứng ”, sau đó quay ra ngồi lắp ráp, lập trình lại từ đầu một máy tính với hệ thống điều hành hoàn toàn mới thì Burke cổ xúy việc giữ lại máy móc cũ, những “ bộ nhớ ” truyền thống xã hội. Tuy cũ nhưng không hề vô dụng.


Vai trò của thiên tư và bản tính của người dân Anh

Bên cạnh việc phê phán cái nhìn mà ông cho là muốn “ xóa bỏ tất cả làm lại từ đầu ” một cách ngu xuẩn và kém thực tiễn của Cách mạng Pháp, Burke còn nhận định rằng tin tưởng vào nền tảng của một cuộc cách mạng với lý thuyết siêu hình về quyền bình đẳng tự nhiên của con người là một chính sách kém thực tế vì nó không nhìn nhận được phi lý tính, khía cạnh “ cảm xúc ” thực tế của con người. Ở đây là của bản thân người Anh. Dùng suy đoán từ cảm nhận cá nhân mình thay vì nghiên cứu tâm lý học thực nghiệm vốn chưa tồn tại vào thời của mình, Burke đã có phần võ đoán khi cho rằng về bản tính, người Anh “ ngại ” những thứ sáng tạo mới mẻ, quá mang tính ‘ cách mạng ’. Theo Burke, người Anh có một “ sự chậm chạp lờ đờ và lạnh tanh ” ( “ cold sluggishness ” ) chí ít là trong các vấn đề tư tưởng, đạo đức ; và họ nên tự hào về điều đó thay vì cảm thấy xấu hổ.

Lợi dụng tâm lý bài Pháp khá thịnh hành của người Anh ( Anh – Pháp mấy đời phong kiến đánh nhau, sự ghét bỏ, ngại ngần đã thành lịch sử ) , Burke hùng biện là nhờ cá tính ‘ kém nồng nhiệt ’ , ‘ ngại sáng tạo ’ đó mà người Anh vẫn giữ được sự độc lập tư tưởng với người Pháp ! Trong mắt Burke, người Anh không dễ trở nên quá khích về tư tưởng, không dễ bị kích động như người Pháp. Người Anh ôn nhu, sùng đạo, tôn trọng luật lệ, tuân thủ trật tự trị an và tôn trọng truyền thống lịch sử. Người Anh yêu vua và kính Chúa. Người Anh về bản chất muốn hưởng hòa bình cuộc sống hơn là đạt lấy một thứ lý tưởng siêu hình về nhân quyền hay sự bình đẳng nào đó. 

Burke cho rằng những đức tính này không xuất phát từ một sự nhìn nhận duy lý tính nào cả mà từ chính cảm xúc ( feelings ) mang tính bản quán ( native ) của bản thân người Anh. Ông đã viết rằng những cảm xúc này tự nhiên như hơi thở, như “ những trái tim bằng máu thịt đang đập trong lồng ngực chúng ta ”. Burke gọi những cảm xúc đó là những cảm xúc không dạy mà có ( “ untaught feelings ” ) và là những định kiến ( prejudices ). Cái nhìn của người hiện đại dễ khiến chúng ta hơi cau mày khi thấy Burke cổ xúy cho “ định kiến ” nhưng với quan điểm dựa vào bối cảnh thời đại của Burke lại có một sức thuyết phục khá kỳ lạ. Theo Burke, con người phải được nhìn nhận trong trạng thái tự nhiên là “ những sinh vật của thói quen ” ( creatures of habits ). Con người tuân theo cảm xúc mà họ thường xuyên cảm nhận, theo thói quen hằng ngày và theo những lối mòn tư duy sẵn có.

Con người có lý trí nhưng lại không duy lý tính tới mức có thể dùng lý trí để hoàn toàn lập trình lại bản thân mỗi người theo một quy chuẩn lý tưởng trừu tượng nào đó. Nhà nghiên cứu Russell Kirk phân tích rằng “ định kiến ” trong tư tưởng của Burke “ không phải là sự tin tưởng mù quáng ( bigotry ) hay mê tín ( superstition ) cho dù thỉnh thoảng định kiến có thể suy đồi thành những thứ như thế. Định kiến là những quyết định có từ trước ( prejudgement ), là câu trả lời từ trực giác và từ sự thống nhất ý kiến có từ tổ tiên ( ancestral consensus of opinion ) vốn có thể giúp cho một người đưa ra một quyết định dựa trên thuần lý trí ( pure reason ) khi mà họ không có đủ thời gian hay kiến thức để suy nghĩ thêm ”.

Khi tự do một mình trong hoàn cảnh bình thường, để tiện cho việc đưa ra các quyết định – bao gồm cả những quyết định chính trị quan trọng, con người thường sẽ nghe theo những định kiến sẵn có của bản thân thay vì những kêu gọi duy lý tính mới mẻ nào đó, và những định kiến của người Anh là những niềm tin cảm xúc đầy kiêu hãnh của họ vào truyền thống đất nước, vào kinh nghiệm truyền đời, vào sự ôn nhu chậm rãi không máu lửa ồn ào của cuộc sống. Vì thế theo Burke, những diễn xướng về một thứ nhân quyền tự nhiên bình đẳng siêu hình nào đó đơn giản là không phù hợp với cá tính, với cảm xúc và suy nghĩ của những người dân Anh bình thường. Khăng khăng vào sức mạnh lý tưởng của thuyết quyền tự nhiên để đòi làm một cuộc “ Cách mạng Pháp ” ở Anh là ngược ngạo và trái với lẽ tự nhiên.


Chủ nghĩa bảo thủ và những bài học hiện đại

Tác phẩm “ Những suy tư về cuộc Cách mạng ở Pháp ” hoàn toàn đi ngược lại làn sóng cảm xúc đầy phấn khởi chào đón Cách mạng Pháp của phần đông giới trí thức Anh – Mỹ năm 1790, thế nên nó đã nhanh chóng nhận được sự đáp trả không e dè của những ngòi bút ủng hộ tư tưởng dân chủ, nhân quyền và Cách mạng Pháp. Thomas Paine đã viết tác phẩm nổi tiếng Quyền Con Người ( Rights of Man ) để phản biện Burke. Thông qua những lần tranh luận bằng bút chiến với Thomas Paine và một số tác giả khác, về sau Burke đã định hình rõ ràng hơn suy nghĩ của mình, vì vậy lần đầu tiên chủ nghĩa bảo thủ trong tư tưởng chính trị cận đại đã được hệ thống hóa và Burke đã đóng góp không ít cho điều đó. Chủ nghĩa bảo thủ trong tư tưởng chính trị hiện đại ngày nay vẫn mang những nét cốt yếu đã được Burke đưa ra trong các phê phán đầu tiên của ông về Cách mạng Pháp : 

- Cổ vũ sự duy trì truyền thống nhưng duy trì một cách tích cực thay vì mù quáng.

- Nhấn mạnh sự thay đổi chậm rãi ôn hòa sao cho phù hợp với thời cuộc nhưng vẫn dựa vào truyền thống.

- Tin tưởng vào kinh nghiệm truyền đời và tôn trọng mặt bất toàn phi lý trí – những cảm xúc, định kiến, đức tin sẵn có – của con người khi quyết định những vấn đề chính trị quan trọng.

- Luôn nghi ngờ những sản phẩm tư tưởng ‘ cấp tiến ’ siêu hình mang vẻ muốn áp đặt một “ siêu kế hoạch ” để đưa toàn bộ con người vào một khuôn khổ lý tưởng mới mẻ nhưng nặng tính trừu tượng, thuần duy lý tính.

Tư tưởng cách mạng từ tốn ôn hòa của Burke cũng trở thành tư tưởng, tinh thần chính trị truyền thống rất đặc thù của Anh quốc. Từ thời của Burke, chính quyền tại Anh có thể thay đổi, ngả theo tư tưởng này, cuốn theo tư tưởng kia, nhưng giữa các phe phái tư tưởng chính trị luôn có một sự thống nhất về phương pháp tranh đấu : chậm rãi, ôn hòa và không bạo lực. Phải chăng điều đó phản ánh tính chính xác trong nhận định của Burke về cá tính con người Anh hơn là phản ánh sức ảnh hưởng quyết định từ tư duy của ông ? Chẳng ai hiểu rõ điều này ngay cả bản thân những người Anh “ chậm chạp, lờ đờ, lạnh tanh ”. ( Mà thật ra thì họ vẫn luôn kín đáo tự hào về những bí ẩn của mình ). 

Ngoài ra chúng ta cũng không ngạc nhiên khi thấy tư tưởng bảo thủ của Burke đã trở thành phương tiện đắc lực trong tay những ai muốn chống lại những học thuyết mang tính bạo lực cách mạng – những lý thuyết muốn bật gốc rễ, san bằng tất cả để xây lại như chủ nghĩa cộng sản. Hoặc những tư tưởng muốn dùng tư duy thuần duy lý tính để kiểm soát kinh tế, xã hội và can thiệp sâu rộng vào đời sống con người như những phiên bản mạnh mẽ nhất của chủ nghĩa xã hội ( socialism ). Trong thời hiện đại, chủ nghĩa bảo thủ thường được gắn kết với chính trị cánh hữu ( right - wing politics ) là một nhóm có nhiều tư tưởng và khuynh hướng chính trị khác nhau nhưng đều có điểm chung là đề cao tự do cá nhân con người. Họ cũng đề cao việc bảo vệ tín ngưỡng tôn giáo ( chủ yếu là Thiên chúa giáo ) và chống lại việc mở rộng quyền lực nhà nước để chính quyền được phép can thiệp vào mọi mặt đời sống của người dân.

Cách mạng Pháp từ lâu đã được nhiều nhà tư tưởng của chủ nghĩa cộng sản và chủ nghĩa xã hội xem là một hình mẫu để chứng minh bạo lực cách mạng trong lịch sử là cần thiết, rằng một thứ lý tưởng siêu hình nào đó có thể làm nền tảng cho những thay đổi xã hội triệt để sâu rộng được áp đặt một cách duy lý tính từ trên xuống. Ngày 14 tháng 7 năm nay hãy thử cùng trông ra ngoài quan điểm đó bằng cách nhìn Cách mạng Pháp qua con mắt của Edmund Burke năm 1790. Lý tưởng dù đẹp đến mức nào đi nữa trên lý thuyết cũng không đáng phải trả giá bằng việc hủy hoại tất cả những truyền thống sẵn có trong xã hội vốn xưa cũ mà hữu dụng lại gần gũi với bản tính con người. Và cách mạng, không nhất thiết lúc nào cũng phải đến bằng đao gươm và đại bác.



Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét