Trang

Thứ Ba, 26 tháng 3, 2019



đây là bài viết trích trong các bài viết nhiều kỳ liên quan đến trận Tết Mậu Thân nhưng vẫn dễ theo dõi, phần này đề cập đến việc xem xét lại việc hành hình 1 cán binh Việt Công ở trận Tết Mậu Thân một cách rất rõ ràng và chặt chẽ.



* Tết, Bảy Lốp và thường dân.


(  Võ Văn Quản  )


Lực lượng tham gia chính yếu.

Sẽ có nhiều tranh cãi về việc xác định xem ai là người đứng đằng sau cuộc “ Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 ”. Nhà nước Việt Nam đương đại đã thừa nhận vai trò “ lãnh đạo ” của mình trong trận chiến. Rất nhiều tài liệu nghiên cứu sử, phân tích quan hệ quốc tế, bình luận chính sách ..... đều chỉ ra sự chỉ đạo của Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ( VNDCCH ) đằng sau sự kiện đẫm máu này.

Trong số các tài liệu đó, người viết cho rằng tham luận “ General Nguyên Giáp and the Mysterious Evolution of the Plan for the 1968 Tet Offensive ” của tác giả Merle Pribbenow, cựu nhân viên 27 năm của Cục Tình báo Trung ương Mỹ ( CIA ) với phần lớn thời gian làm việc liên quan đến chiến tranh Việt Nam, là một tài liệu tổng hợp khá đầy đủ và khoa học những điểm thống nhất và tranh cãi trong quá trình chính quyền VNDCCH đi đến quyết định tổng tiến công với nhiều thông tin thú vị về bất đồng giữa tướng Võ Nguyên Giáp và Lê Duẩn.

Tuy nhiên trước năm 1975, phía Bắc Việt từ chối công nhận sự liên kết giữa mình và nhóm vũ trang Việt Cộng ở miền Nam, cho rằng Việt Cộng là một nhóm dân quân địa phương, thể hiện quyền tự quyết và kỳ vọng thống nhất của người dân miền Nam Việt Nam.

Như vậy có thể tóm tắt 3 phe tham chiến chính yếu.



Phe thứ nhất là Quân lực Việt Nam Cộng hoà, đại diện quốc gia ở miền Nam Việt Nam cùng với quân đội, cố vấn quân sự Hoa Kỳ.

Sự hiện diện của nhóm quân nước ngoài của Hoa Kỳ có thể được lý giải thông qua khái niệm công pháp quốc tế “ lời mời can thiệp ” ( intervention by invitation ) , tức chính phủ Việt Nam Cộng hoà ( VNCH ) đưa ra lời mời chính thức dành cho chính phủ Hoa Kỳ để quân đội và cố vấn quân sự Hoa Kỳ hỗ trợ, đóng quân tại miền Nam Việt Nam. Gắn kết với thực tiễn hiện nay, các học giả Anh – Mỹ cho rằng sự hiện diện của quân đội Nga tại Syria phù hợp với pháp luật quốc tế vì chính phủ Assad đã gửi lời mời cho Nga.

Phe thứ hai cũng tại miền Nam Việt Nam là quân Giải phóng miền Nam Việt Nam ( còn gọi là Việt Cộng, trực thuộc Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam Việt Nam ). Họ tham gia với tư cách là một tổ chức vũ trang nằm trong vùng thuộc chủ quyền của nhà nước Việt Nam Cộng hòa. Pháp luật quốc tế không cấm, và cũng không thể cấm sự tồn tại của những nhóm vũ trang này.

Hoạt động chiến sự của họ, vì vậy, nói hơi lạ một chút, là không trái với pháp luật quốc tế ( khác với phù hợp ) , miễn là các nhóm này không can dự vào các hoạt động khủng bố, vi phạm luật nhân quyền quốc tế hay luật nhân đạo quốc tế. Cũng do đó, tính hợp pháp hay hợp hiến của chúng là do pháp luật quốc gia quyết định, và ít quốc gia nào lại thừa nhận một tổ chức vũ trang như thế.

Phe thứ ba là Quân đội Nhân dân Việt Nam thuộc nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ở phía Bắc.

Trong trận Mậu thân thì quân đội Bắc Việt phối hợp và kết hợp tương đối nhịp nhàng với lực lượng quân Giải phóng, một biểu hiện cho thấy tính gắn kết giữa hai lực lượng. Theo đó, quân đội Bắc Việt được dùng như một trong những mũi tiến công chính, nhưng mặt khác cũng là mồi nhử quân đội Hoa Kỳ và các đơn vị thiện chiến của quân lực Nam Việt ra khỏi các đô thị lớn, đặc biệt là tại Sài Gòn.

Một trong những mồi nhử như vậy có thể kể đến là trận Khe Sanh ( bắt đầu từ  21 / 1 / 1968 và kéo dài hơn hai tháng ) với sự tham gia của hơn 40.000 quân chính quy Quân đội Nhân dân Việt Nam khiến cho hơn 6.000 thủy quân lục chiến Hoa Kỳ phải rời khỏi các căn cứ đồn trú gần Sài Gòn và di chuyển lên phía Bắc.

Ngay sau giao thừa Tết Mậu Thân, tức rạng sáng ngày 30 / 1 / 1968  Dương Lịch, cuộc tổng tiến công bắt đầu tại hơn 36 thành thị, 64 châu thành và nhiều làng mạc khác, là một cú giáng bất ngờ cho lãnh đạo quân đội VNCH lẫn Hoa Kỳ. Bạn đọc có thể tìm hiểu thêm nhiều thông tin trong quyển “ RAND in Southeast Asia: A History of the Vietnam War Era ”. Tổng quan, quân đội Bắc Việt có tham chiến trực tiếp trong chiến dịch này.


Các khía cạnh của trận Mậu Thân qua lăng kính luật nhân quyền và luật nhân đạo quốc tế.

Công pháp quốc tế có hai khung pháp lý quy định về chiến tranh vũ trang để điều chỉnh hành vi của các bên được gọi là “ xung đột vũ trang quốc tế ” ( international armed conflict ) và “ xung đột vũ trang phi quốc tế ” ( non - international armed conflict ). Dù hai khái niệm này còn gây nhiều tranh cãi trong việc xác định danh nghĩa của các cuộc chiến có sự tham gia, hỗ trợ của quốc gia thứ ba, với ba nhóm vũ trang tham gia như phân tích ở trên, trận Mậu Thân được xem như là bao gồm cả hai loại xung đột: xung đột vũ trang quốc tế ( giữa quân đội Bắc Việt và quân đội Nam Việt – Hoa Kỳ ) và xung đột vũ trang phi quốc tế ( giữa quân đội Nam Việt – Hoa Kỳ và quân Giải phóng ).

Tấn công dịp Tết

Một vi phạm đầu tiên là việc quân Bắc Việt và quân Giải phóng tiến công dịp Tết, liên quan đến tính thiện chí trong công pháp quốc tế. Theo ghi nhận, chiến tranh Việt Nam có truyền thống thỏa thuận ngừng bắn dịp Tết ( được biết đến với tên gọi “ Tet truce ” ) nhằm tạo điều kiện cho quân nhân được đoàn viên, thể hiện tinh thần dân tộc và văn hóa chung của cả hai miền. Do các tham vọng chiến thuật, quân đội Bắc Việt vẫn chủ động phối hợp với quân Giải phóng thực hiện chiến dịch.

Đây là vụ việc quá nổi tiếng với bức ảnh của tướng Nguyễn Ngọc Loan xử bắn Nguyễn Văn Lém ( tự Bảy Lốp ). Vụ việc này là một trong những nguyên do chính khiến công luận Hoa Kỳ dần trở mặt với chiến tranh Việt Nam và thường được dùng để chứng minh sự tàn bạo, sự vi phạm pháp luật quốc tế của quân đội VNCH.

Nguyên do của giây phút “ giận quá mất khôn ” này của ông Loan được các bên lý giải khác nhau nhưng nó không phải là vấn đề mà người viết quan tâm. Câu hỏi đặt ra là Bảy Lốp có địa vị pháp lý gì theo công pháp quốc tế. Một số quan điểm cho rằng Bảy Lốp có tư cách pháp lý của một tù nhân chiến tranh ( prisoner of war ) và vì vậy cần được bảo vệ theo quy chế quy định bởi Hiệp định Geneva Số 3 trong chuỗi 4 Hiệp định Geneva về nguyên tắc chiến tranh ký kết bởi các quốc gia vào năm 1949 vốn đến nay đều được xem là tập quán pháp lý quốc tế.

Tuy nhiên, người viết cho rằng đây là quan điểm chưa phù hợp.

Bảy Lốp là một đặc công của Việt Cộng. Như phân tích ở kỳ 3, chúng ta đồng ý rằng Việt Cộng là một tổ chức vũ trang nổi dậy nội địa chứ không phải là một chủ thể của công pháp quốc tế. Như vậy Bảy Lốp không thể được hưởng quy chế tù nhân chiến tranh. Khi ông Loan thực hiện hành vi hành quyết không thông qua xét xử đối với Bảy Lốp, điều này có thể vi phạm pháp luật quốc gia VNCH và các cam kết quyền con người mà VNCH có tham gia và đã nội luật hóa ; song không vi phạm pháp luật nhân đạo quốc tế và các tập quán chiến tranh quốc tế.

Mặc khác, nếu chúng ta cho rằng Việt Cộng là một đơn vị ( agent ) đại diện cho chính phủ VNDCCH, từ đó Bảy Lốp trở thành quân dân trực thuộc quân đội Bắc Việt thì Bảy Lốp cũng bị tước quyền hưởng quy chế tù nhân chiến tranh vì 3 lý do:

( i ) Bảy Lốp vi phạm nguyên tắc phân biệt quân nhân với thường dân trong chiến tranh ( having a fixed distinctive sign recognizable at a distance ). Các nhóm quân Việt Cộng, kể cả Bảy Lốp, đều không mặc sắc phục quân sự để phân biệt với thường dân trong quá trình giao chiến.

( ii ) Bảy Lốp vi phạm nguyên tắc mang vũ trang mở ( carrying arms openly ). Tương tự như vi phạm đầu tiên, các nhóm vũ trang Việt Cộng thường xuyên giả dạng thường dân, giấu vũ khí và tấn công quân lính Mỹ – Nam Việt Nam theo kiểu phục kích, bất ngờ. Chiến thuật này thường được báo chí Việt Nam ca ngợi như việc giấu thuốc nổ, bom để đánh khách sạn dân sự là ví dụ cụ thể cho kiểu chiến tranh vi phạm tập quán quốc tế này.

( iii ) Bảy Lốp vi phạm quy định về việc không tấn công thường dân và các mục tiêu dân sự mà chúng ta sẽ phân tích ở phần sau.

Người đọc có thể tham khảo thêm về những quy định này tại Điều 4 Hiệp định Geneva 1949 và bình luận chi tiết của Tổ chức Chữ thập đỏ quốc tế. Dù ở trường hợp nào, người viết cho rằng ông Nguyễn Văn Lém đều không đủ điều kiện để được hưởng các miễn trừ và lợi ích bảo vệ dành cho tù nhân chiến tranh.


Tấn công thường dân và các mục tiêu dân sự

Tấn công các mục tiêu dân sự là đặc sản của Việt Cộng và cũng là vi phạm nghiêm trọng nhất trong các vi phạm của Việt Cộng nói riêng và liên minh Bắc Việt nói chung trong quá trình diễn ra trận Mậu Thân. Vậy thường dân và mục tiêu dân sự là gì?

Thường dân và mục tiêu dân sự được định nghĩa bằng biện pháp loại trừ nhằm bảo vệ tối đa những nhóm này. Những người không phải thành viên tham chiến trực tiếp ( combatant ) đều được xem là thường dân, điều này đồng nghĩa với việc kể cả các thành viên chính phủ, nhân viên công quyền, địa điểm làm việc của họ ..... đều là những mục tiêu dân sự. Tuy nhiên, cả quân Giải phóng lẫn Quân đội Nhân dân Việt Nam đều không tôn trọng các quy định này.

Minh chứng cụ thể nhất là việc tấn công vào tòa đại sứ Hoa Kỳ tại Sài Gòn được ca ngợi hết mực trên báo chí và qua các tư liệu lịch sử Việt Nam. Một số báo cáo khác còn cho rằng, trong quá trình chiếm đóng ngắn hạn một số tỉnh lỵ , lực lượng Việt Cộng cũng bắt bớ và giết hại khoảng 3.000 thường dân, nhân viên công vụ khác, với tội danh “ phản cách mạng ”. Trong và sau năm 1968, việc đe dọa và khủng bố trở thành một chiêu bài hiệu quả để kiểm soát công luận miền Nam Việt Nam.

Hiển nhiên những bình luận nói trên không nhằm khỏa lấp các vi phạm luật nhân đạo quốc tế của quân đội Hoa Kỳ hay VNCH mà cụ thể nhất là sự kiện Mỹ Lai. Tuy nhiên, ở giới hạn của bài viết tập trung vào trận Mậu Thân, Mỹ Lai sẽ được dành lại cho một bài viết khác.


Vi phạm nghĩa vụ mặc trang phục phân biệt với thường dân.

Nghĩa vụ mặc trang phục phân biệt không hẳn là nghĩa vụ quan trọng nhất, nhưng là nghĩa vụ căn bản nhất của pháp luật và tập quán chiến tranh quốc tế.

Nghĩa vụ này trước hết nhằm thỏa mãn yêu cầu rằng việc giao chiến trong chiến tranh hiện đại chỉ là “ cuộc đấu cờ ” giữa những đơn vị có thẩm quyền giao chiến với mục tiêu triệt hạ và giảm đến mức tối thiểu sức chiến đấu của các đơn vị quân đội đối phương. Chiến tranh hiện đại không phải là một cuộc “ tổng khởi nghĩa toàn dân ” nơi mà ai cũng trở thành người tham chiến và ai cũng có thể trở thành mục tiêu bị giết hại. Vi phạm điều này sẽ đi ngược lại hoàn toàn tôn chỉ của pháp luật nhân đạo quốc tế.

Nghĩa vụ hiển nhiên thứ hai là nhằm bảo vệ thường dân khỏi sự thù địch, lo ngại và khả năng gây thiệt hại từ phía các đơn vị có thẩm quyền chiến đấu. Quân đội của bên nào cũng có nghĩa vụ bảo vệ thường dân, họ không thể làm điều này nếu những “ thường dân ” luôn có khả năng rút vũ khí từ sau lưng để tấn công họ.

Bằng cách vi phạm nghiêm trọng nguyên tắc này trong Mậu Thân, các nhóm vũ trang Việt Cộng và quân đội Bắc Việt đã tạo nên sự bức xúc và mệt mỏi của quân lính Hoa Kỳ và miền Nam Việt Nam cũng như sự nguy hiểm thường trực dành cho dân thường trong suốt quá trình trận Mậu Thân diễn ra.




* sau khi đã xem xét và phân biệt giữa “ binh lính mặc thường phục ” với “ thường dân ” theo lý thuyết thì trong thực tế, khi gặp phải chiến tranh du kích mà quân du kích trộn lẫn với dân chúng ( được  NHÂN  DÂN  bao che, nuôi dưỡng  ???  ) thì sẽ phải xử lý ra làm sao  ?? Có cách nào khác hơn là đem cả đám dân chúng có quân du kích trà trộn trong đó ra làm “ cỏ ” hết không  ???  Nếu nói về lý trí, về luật pháp quốc tế thì chắc chắn đó là 1 điều không thể chấp nhận được.



Thảm sát Mỹ Lai và một phiên tòa không bao giờ tới.


( Võ Văn Quản )


Cuối năm 1969, Nhà Trắng vốn đã bận rộn lại càng trở nên hoang mang hơn sau khi mẩu tin của nhà báo trẻ Seymour Hersh được đăng tải trên hàng chục tờ báo Mỹ. Vụ lính Mỹ thảm sát dân thường ở Mỹ Lai ( Quảng Ngãi, Việt Nam ) bắt đầu lộ diện và gây sốc trên toàn quốc.

“ Chúng ta phải làm thế nào đây ? ” – Nixon hoang mang hỏi.

Ông đã có quá đủ mối lo ở trong nước, việc để xảy ra thêm một vụ bê bối khác ở chiến tranh Việt Nam không phải là thứ mà ông muốn nghe lúc này. Các lãnh đạo chính phủ Hoa Kỳ, các chuyên viên cấp cao của Nhà Trắng căng thẳng bàn bạc để tìm cách giải thích thông tin về vụ việc với công luận Mỹ.

Ngày 21 / 11 , trong một cuộc họp của Hội đồng An ninh Quốc gia ( National Security Council ), cố vấn Henry Kissinger nhấn mạnh rằng Nhà Trắng cần phát triển một kế hoạch đối phó, thiết lập chính sách báo chí truyền thông và phải cố gắng duy trì bằng được một đường hướng thống nhất trong mọi phản hồi để ứng phó với báo chí và dư luận trong tương lai gần.

Mười ngày sau, ngày 1/12, Nhà Trắng lập ra một đội đặc nhiệm cổ cồn trắng với các nhiệm vụ hạ uy tín của nhân chứng, mà theo ghi chép của Chánh văn phòng Nhà Trắng “ Bob ” Haldeman, đó là bao gồm sử dụng các chiêu bẩn nếu có thể, và bảo đảm rằng những nhân viên công vụ có thẩm quyền liên quan không được phát ngôn hớ hênh khi trả lời báo chí.

Song mọi nỗ lực của những chuyên gia truyền thông tốt nhất thế giới đều không có tác dụng trong một môi trường tự do thông tin và báo chí mạnh mẽ như ở Hoa Kỳ. Sự kiện nhanh chóng trở thành cơn ác mộng truyền thông kinh hoàng nhất mà một tổng thống Hoa Kỳ có lẽ đã từng phải dàn xếp.

Kém cỏi, rệu rã, uất ức, tàn độc

Mọi chuyện bắt đầu từ ngày 16 / 3 / 1968.

Đại đội Charlie, hay đại đội C ( Charlie company – C company ) khi đó nhận được lệnh thực hiện một chiến dịch tìm và diệt quen thuộc trong chiến tranh Việt Nam. Đối tượng là một ngôi làng tại Mỹ Lai – phía Bắc tỉnh Quảng Ngãi, thường được ghi trong bản đồ chiến thuật quân sự Hoa Kỳ với tên gọi “ PinkVille ”. Đây là một khu vực mà lính Mỹ thời kỳ này ngán ngẩm gọi là “ India country ” – ám chỉ rằng chúng nằm trong sự kiểm soát quân sự gần như tuyệt đối của quân Việt Cộng và các khu vực dân cư thân cộng.

C Company là một đại đội chắp vá nếu xét theo tiêu chuẩn Mỹ. Vừa thành lập không lâu vào giữa năm 1967, đại đội này đã được thông báo rằng họ sẽ phải triển khai tác chiến ở Việt Nam. Sau đó họ tham gia vào một chương trình huấn luyện rút gọn diễn ra vỏn vẹn trong tháng 11 năm 1967. Một tháng huấn luyện, ngoài các kỹ năng chiến đấu, còn có cả chương trình đào tạo cách đối xử với tù binh chiến tranh, các điều khoản của bốn Công ước Geneva về luật nhân đạo quốc tế, khái niệm thường dân cũng như Bộ Nguyên tắc tham chiến của Hoa Kỳ ( USA Rules of engagement ).

Người chỉ huy đại đội là William L. Calley Jr., thường được gọi với biệt danh Calley ‘ Cùn ’ ( ‘ Rusty Calley ’ ). Đây là nhân vật mà tướng William C. Westmoreland trong cuốn tự truyện 1976 của mình ( Bản báo cáo quân nhân – A Soldier Reports ) khẳng định sẽ không bao giờ có được một chân sĩ quan nếu Nghị viện Hoa Kỳ không táy máy can thiệp vào hoạt động tuyển quân của Lầu Năm Góc. Ông chỉ trích chính sách lùi thời hạn nhập ngũ cho các sinh viên đại học khiến cho quân đội Hoa Kỳ mất đi nguồn cung quân nhân chất lượng họ thường có và buộc phải hạ tiêu chuẩn tuyển quân.

Về Calley, anh ta có dáng vẻ bề ngoài kinh điển của thanh niên vùng ngoại ô Florida thời kỳ này – cao khoảng 1m60, nhìn không khỏe mạnh lắm và rất khó đoán tâm trạng. Không có gì nổi trội khi còn học trung học, Calley chật vật qua được một vài lớp ở trường cao đẳng cộng đồng địa phương trước khi bắt đầu chuỗi ngày lang thang nhảy việc. Vì không còn tiền nên khi nhận thư trình diện để được đánh giá lại cho việc tuyển quân nhập ngũ, Calley tham gia một cách hào hứng đến bốc đồng vào quân đội Hoa Kỳ.

Tháng 3 / 1967, chỉ tròn một năm trước vụ thảm sát Mỹ Lai, Calley mới bắt đầu được đào tạo ở trường sĩ quan quân đội Hoa Kỳ ( Officer Candidate School – OCS ) và tốt nghiệp hạng ..... 120 / 156. Mặc dù thiếu trình độ và được đào tạo một cách vội vã, Calley lại trở thành chỉ huy trưởng của đại đội C với một cái nhìn đơn giản về chiến tranh Việt Nam : kẻ nào gắn với Việt Cộng đều là kẻ thù. Calley kể lại rằng ở trường sĩ quan, nhiều cựu chiến binh chia sẻ rằng khi tham chiến tại Việt Nam, họ không phân biệt được giữa kẻ địch và dân thường.

Việc phe Việt Cộng tham chiến một cách thiếu quy củ và không tuân thủ các nguyên tắc về trang phục và trang bị vũ khí nhằm phân biệt thường dân ( civilian ) và người tham chiến ( combatant ) cùng kiểu chiến tranh du kích đã gây ra ảnh hưởng tâm lý nghiêm trọng lên một số quân nhân Hoa Kỳ. Calley là một trong số đó. Anh ta kể rằng, “ Kẻ nào ở đó cũng là Việt Cộng cả. Người già, đàn bà, hay thiếu niên, trẻ em đều là Việt Cộng. Trong bụng đàn bà Việt Cộng, tôi cá là có đến hàng ngàn tên Việt Cộng con sẵn sàng ra đời. ”

Môi trường của chiến tranh Việt Nam rõ ràng không giúp ích gì để thay đổi cách suy nghĩ của Calley. Sau chưa đầy hai tháng làm công tác hậu cần cho các đội khác, đại đội Charlie mới chỉ tiếp cận trực tiếp với quân Việt Cộng một tới hai lần là nhiều nhất, thế nhưng đã chịu thương vong từ hoạt động bắn tỉa, bẫy mìn, và các bẫy chông treo. Vì thế sự kinh hoàng, ức chế, tức giận và thù hận không thể giải tỏa ở đại đội C là điều dễ hiểu.

Nhưng trường hợp của Mỹ Lai rõ ràng không phải là một trong số đó. Chiến dịch diễn ra mà không có phản kháng, không phát hiện một thành viên phe Việt Cộng nào, và không hề có một tổn thất nào được ghi nhận từ đại đội Charlie. Người bị thương duy nhất của đại đội là một binh sĩ tự bắn vào chân của mình để không phải tham gia vào cuộc thảm sát ( tuy nhiên cũng có tài liệu cho rằng người này chỉ vô tình bắn trúng chân ).

Theo bình luận của bản thân nhà báo Seymour Hersh, Mỹ Lai là hậu quả của một chuỗi những sai lầm : sai lầm về tình báo cho rằng tiểu đoàn 48 của quân Việt Cộng đang tiếp tục hoạt động tại Sơn Mỹ cho đến niềm tin lệch lạc của nhiều binh lính tham gia chiến dịch rằng những người dân ở các ngôi làng tại Sơn Mỹ như Mỹ Lai đều là những kẻ có cảm tình với cộng sản, hay sự quả quyết rằng chính quyền Việt Nam Cộng Hòa sẽ chấp thuận bất kỳ hành vi chiến tranh nào mà quân đội Hoa Kỳ thực hiện trong lãnh thổ của họ.

Tất cả mọi thứ tệ hại tập hợp lại trong một đơn vị : một nhóm quân nhân không được đào tạo – giáo dục kỹ lưỡng, khao khát trả thù, tham vọng lập công bằng cách đếm xác, và một kẻ chỉ huy lệch lạc không đủ năng lực. Kết quả là hơn 500 thường dân bị tra tấn, cưỡng hiếp, và cuối cùng bị giết bằng những cách thức phi nhân tính, trong đó nạn nhân chủ yếu chỉ là người già, phụ nữ, và trẻ em.

Sự bối rối của công lý

Rất khó để người dân Mỹ tại thời điểm đó tin là điều này thật sự đã diễn ra. Với họ, chỉ 20 năm trước thôi, quân đội Hoa Kỳ còn có thể được xem là một quân đội hoàn toàn chính nghĩa, phụng sự lẽ phải và công bình, và người ta chỉ có thể tìm thấy những tội ác chiến tranh ở một nơi xa xô do những tên phát xít điên cuồng hay đám lính vùng viễn Đông man rợ gây ra.

Mỹ Lai đã vấy bẩn lên hình tượng đẹp đẽ đó của lính Mỹ. 

May mắn là xã hội, môi trường chính trị và bản thân nhà nước Hoa Kỳ có tính đa nguyên nên vụ thảm sát vẫn còn cơ hội được làm sáng tỏ trước công luận Mỹ, do đó không khó để người Mỹ thừa nhận và gọi tên thứ mà quân đội nước này đã thực hiện tại Mỹ Lai – một tội ác chiến tranh kinh hoàng. Bản thân quân đội Hoa Kỳ đã khởi tố Calley và tuyên án tù giam với kẻ thủ ác.

Tuy nhiên, sự thật trần trụi về Mỹ Lai có lẽ khiến cho chính quyền Nixon quá bối rối. Thông tin về Mỹ Lai chỉ được giới hạn ở tên và chức vụ của Calley cùng với tội danh ‘ giết người ’ mơ hồ, được giải thích bằng cụm từ ‘ giết hơn một thường dân ’ còn mơ hồ hơn thế. Hoa Kỳ đã quá quen với việc được xem là vị cứu tinh, không phải kẻ tội đồ. Vậy nên tôi có thể hiểu vì sao Nixon muốn bảo vệ danh tính quốc gia để cứu rỗi hình ảnh của quân đội Hoa Kỳ cùng những điều mà xã hội Hoa Kỳ muốn đại diện.

Nhưng sự cố chấp quyền lực của người Mỹ khiến họ không thể thật sự chuộc tội hay sám hối.

Hoa Kỳ từng là một trong những thành viên sáng lập quan trọng nhất của Tòa án Hình sự Quốc tế ( ICC ), Tòa Nuremberg, cũng như Toà án Quân sự Quốc tế vùng Viễn Đông ( IMTFE ). Họ là người ủng hộ hào phóng và mạnh mẽ nhất, là nhân tố năng động nhất của các tòa hình sự quốc tế khác như Tòa án Hình sự Quốc tế về Nam Tư cũ ( ICTY ) hay Tòa án Hình sự Quốc tế về Rwanda ( ICTR ).

Nhưng đến khi nhận thấy các quân nhân, tướng lĩnh và quan chức Hoa Kỳ có khả năng trở thành đối tượng của các tòa án này, Hoa Kỳ lại trở mặt để giữ lấy ‘ chủ quyền quốc gia ’ của mình. Năm 2000, Tổng thống Bill Clinton ký ban hành Đạo luật Ủy nhiệm Quan hệ Quốc tế ( Foreign Relations Authorization Act ) ngăn chặn các chính phủ hỗ trợ tài chính cho Tòa án Hình sự Quốc tế ( mục 705 ). Đạo luật đồng thời cũng nghiêm cấm mọi hình thức dẫn độ công dân Mỹ đến một quốc gia thứ ba có khả năng chuyển giao công dân cho toà án này.

Cho đến nay, thảm sát Mỹ Lai vẫn chưa có được một phiên tòa quốc tế thật sự để giành lại công lý với đúng tên gọi của tội đã phạm : tội ác chiến tranh ( war crime ). Và có lẽ ngày đó cũng còn rất xa, xa đến nỗi có thể không bao giờ thực hiện được. Đây cũng không chỉ riêng Hoa Kỳ. Nga, Trung Quốc, Ấn Độ, Israel ..... những quốc gia xuất khẩu vũ khí và hoạt động quân sự nhiều nhất thế giới đến giờ vẫn từ chối trở thành thành viên chính thức của ICC.

Điều họ cần nhận ra là, pháp luật nhân đạo quốc tế không phải là một công cụ chính trị. Nó là rào cản duy nhất ngăn cản loài người trở lại con đường man rợ mà Đệ Nhất và Đệ Nhị Thế Chiến đã trải qua. Nếu những tội ác này không bị trừng phạt một cách đúng chuẩn mực, chúng ta sẽ lại tiếp tục rơi vào vòng xoáy của sự thoái thác, biện bạch, và tội ác của ngày xưa mà thôi.


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét