Trang

Thứ Tư, 19 tháng 2, 2020



Sự chuyển giao từ Nho học sang Tây học.


( Đàn Chim Việt )


Từ khi bỏ khoa cử trên toàn cõi Việt Nam ( 1919 ) đến nay đã tròn 100 năm. Khoảng cách này đủ độ lùi để chúng ta nhìn nhận lại những điểm được và không / chưa được của giáo dục Nho học và Tây học, qua đó làm cơ sở để đánh giá nền giáo dục Việt Nam hiện nay.

Trong xã hội Việt Nam cổ truyền, triều đại Lê Thánh Tông đánh dấu sự thay đổi hệ hình : từ văn hóa Phật giáo sang văn hóa Nho giáo. Trong suốt sự tồn tại của nó, Nho giáo không ít lần rơi vào khủng hoảng, đặc biệt là giai đoạn cuối Lê đầu Nguyễn khi tầng lớp quan binh nắm quyền, thương nghiệp phát triển và thị dân hình thành cùng với đạo lý suy đồi, thi cử gian lận, mua quan bán tước. Dù có rơi vào hoàn cảnh bi đát đến thế nào thì nhà nho vẫn còn hy vọng, họ tin vào vận động tuần hoàn của xã hội, của vũ trụ : bĩ cực thái lai, “ hết mưa là nắng lên thôi ”. Lịch sử Trung Quốc thịnh - suy, suy - thịnh mà họ học làm lòng đã cho những minh chứng như vậy, đây chỉ là sự khủng hoảng mang tính nội hệ hình mà thôi. 

Nhưng cuối thế kỷ XIX đầu XX, khi xuất hiện văn hóa phương Tây với vai trò ngày càng trở thành chủ đạo thì Nho giáo rơi vào một khủng hoảng khác, khủng hoảng thay đổi hệ hình. Từ hệ hình Nho học chuyển sang hệ hình Tây học, rộng hơn là từ văn hóa cổ truyền sang văn hóa hiện đại. Các nhà nho lúc này đứng trước một lựa chọn : thay đổi hay là chết, dĩ nhiên chết với cái tư cách của một nhà nho. Những người chống Tây biết đâu từ trong vô thức lại chẳng chống Tây học. Có thể thấy tâm trạng này qua thơ Tú Xương, một nhà nho bình dân sống ở thành phố Nam Định nơi hằng ngày chạm mặt với văn hóa phương Tây.



Trong một nền văn hóa Nho giáo thì giáo dục là yếu tố hàng đầu nhất là khi Nho giáo trở thành quốc giáo, chiếm ngôi độc tôn, giáo dục là toàn – nho. Nho giáo đào tạo ra con người chức năng, con người nho sĩ, mà bộ phận ưu tú nhất của nó trở thành tầng lớp quan lại điều hành đất nước. Cơ chế để tuyển chọn nho sĩ thư lại là thi cử. Khoa cử là vũ môn để cho những con cá hóa rồng, hôm qua còn là anh đồ hôm nay đã trở thành ông quan. Hôm qua còn bị chê là “ dài lưng tốn vải ”, hôm nay đã được cả làng cả tổng đón rước “ võng anh đi trước võng nàng theo sau ”. Biết bao con người nhờ khoa cử mà thay đổi thân phận xã hội. Bởi thế lâu dần hình thành lối học khoa cử, học để đi thi, thi đỗ để làm quan. Với một mục đích rõ ràng như vậy nên người ta chỉ dạy / học những tri thức làm quan bởi Nho giáo xét cho cùng là một học thuyết cai trị. 

Các kinh điển tứ thư ngũ kinh hoặc ngoại điển như các sách lịch sử Trung Quốc đều cấp đủ các bài học ứng xử trong mọi tình huống miễn là nhập tâm, bởi vậy cái được coi là khả năng của nho sinh là có trí nhớ tốt để học thuộc lòng. Đồng thời lối học từ chương cũng quan trọng không kém vì một ông quan cần phải được người dân nể phục văn tài, phải viết được những bài văn hay làm cảm động quỷ thần hoặc thuyết phục lòng người. Tuy nhiên bể học mênh mang làm sao mà học hết, thuộc hết, nên người ta chỉ học các sách tóm lược hoặc các loại sách “ bộ đề ” như “ Thi thiên, phú bách, văn sách năm mươi ”.

Các nhà sư phạm đều là những bậc đại nho, dạn dày trường ốc, lăn lộn quan trường, sau khi tiến vi quan thì lui về đạt vi sư dày công tạo nên những bộ sách giáo khoa, với lối học thực dụng thì sách giáo khoa là quyết định. Các nhà nho xưa nổi tiếng hiếu học, nào là mang đèn xuống hầm để học, không có đèn thì bắt đom đóm để học, họ có thể hiếu học nhưng chưa chắc đã hiếu tri vì tri thức đóng gói dễ trở thành gánh nặng. Tuy nhiên bất cứ một hệ thống nào cũng có ngoại lệ, đó là những nhà nho vượt khỏi cái lồng chật hẹp để tiếp xúc với các tư tưởng khác như Phật giáo, đạo gia, văn hóa dân gian và tư tưởng thị dân để có tư duy khác.

Khi thực dân Pháp chiếm trọn đất nước thì đầu tiên vẫn giữ chế độ khoa cử, hy vọng Nho giáo sẽ làm cho xã hội ổn định. Nhưng sau 2 đợt khai thác thuộc địa cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX, Pháp cần người Việt làm thông ngôn, ký lục, thông phán trong các cơ quan, xí nghiệp, nên mở trường Pháp – Việt để đào tạo. Đầu tiên chỉ có tiểu học, sau thành chung, đến tú tài rồi cao đẳng. Đồng thời con cái quan lại có công với Pháp, những học sinh xuất sắc được cấp học bổng đi Pháp. Cũng không ít nhà giàu bỏ tiền cho con đi du học. Như vậy chế độ khoa cử dần trở thành một khúc ruột thừa nên Pháp cắt bỏ. Tuy nhiên để thanh niên khỏi hẫng hụt tâm lý, xã hội rối loạn, Pháp tạo dựng một số hình thức trung gian như cho các ấm sinh học thêm tiếng Pháp và các tri thức hiện đại ở trường Hậu bổ hoặc cho sang Pháp học tại Trường Thuộc địa.

Hệ thống trường Pháp – Việt chủ yếu dạy / học bằng tiếng Pháp, một phần vì ý đồ đồng hóa, phần khác vì tiếng Việt chưa đủ từ ngữ và khả năng diễn đạt những tri thức mới. Chương trình học mô phỏng theo các trường bên chính quốc, ở các lớp trên thì người Pháp trực tiếp giảng dạy. Các học sinh Việt Nam được tiếp cận và tiếp thu các tri thức hiện đại và qua đó là thế giới hiện đại, dần dần hình thành nên tầng lớp trí thức Tây học thay thế tầng lớp trí thức Nho học. Trong đó đặc biệt phải kể đến những thanh niên đang học thành chung vào những năm 1925, 1926, họ vừa đông đảo về số lượng, đủ giỏi tiếng Pháp để vượt qua cái ngưỡng văn hóa thực dân, văn hóa chính quốc, đồng thời được bồi đắp tinh thần yêu nước qua phong trào đòi ân xá Phan Bội Châu và đám tang Phan Châu Trinh. Họ là tầng lớp trí thức Tây học bản địa. Sau này khi học xong, một số làm công chức trong bộ máy chính quyền, số khác làm nghề tự do, tạo thành tầng lớp trí thức độc lập, trí thức không phải quan / viên chức. Họ chính là chủ / khách thể của văn hóa đô thị hiện đại của Việt Nam.

Tại sao một tầng lớp trí thức Tây học của một xã hội thuộc địa lại có thể làm được nhiều việc như vậy ? Tôi nghĩ trước hết so với các nhà nho, họ đã đổi khác thái độ học tập. Họ không chỉ hiếu học để tìm cho mình một nghề nghiệp mà chủ yếu còn hiếu tri, khao khát những tri thức mới có ích để tìm ra những con đường cứu nước. Các phong trào Cần Vương, Văn Thân, Quang phục hội của Phan Bội Châu đều bị thất bại, tiếp bước chủ trương “ khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh ” của Phan Châu Trinh, họ muốn xây dựng cho đất nước một nền quốc ngữ, quốc văn, quốc học, tức xây dựng một nền văn hóa Việt Nam hiện đại. Đường lối thì ít nhiều khác nhau : kết hợp Đông – Tây theo nguyên lý nội thể ngoại dụng hoặc phương Tây thuần túy. Sự khác nhau có thể do xuất thân khác nhau, giáo dục khác nhau, xuất hiện ở những thời điểm khác nhau trong tiến trình xã hội Việt Nam nhưng họ đều là những nhân vật văn hóa của thời đại.

Một nền văn hóa bất kỳ nào cũng ngưng kết ở những nhân vật của nó. Ở giai đoạn chuyển giao giữa Nho học và Tây học, giữa văn hóa cổ truyền và văn hóa hiện đại hay còn gọi là sự chuyển đổi hệ hình, tôi muốn đưa ra một “ loại hình học ” các nhân vật thời đại :


1. Nhà nho truyền thống. Lúc này đã bị thời đại thay thế nên rút lui về ngõ hẻm hoặc thôn quê nhưng thỉnh thoảng từ hậu trường họ vẫn thốt ra những tiếng nói lạc lõng. Chủ trương không chấp nhận văn hóa phương Tây.

2. Nhà nho duy tân. Do đọc Thiên hạ đại thế luận của Nguyễn Lộ Trạch hoặc tân thư nên ủng hộ hiện đại hóa theo phương Tây, hô hào học chữ quốc ngữ, cắt búi tó, vận âu phục, mở trường học, lập các hội buôn. Tiêu biểu là Phan Châu Trinh, Lương Văn Can, Ngô Đức Kế, Huỳnh Thúc Kháng, Nguyễn An Khương ..... chủ trương học thêm văn hóa phương Tây.

3. Nhà nho Tây học. Các nhà nho theo Tây học để làm công việc xã hội – văn hóa, đặc biệt là làm báo. Tiêu biểu là Phan Khôi, Huỳnh Thúc Kháng.

4. Nhà Tây học nho hóa. Là nhà Tây học nhưng vì công việc liên quan đến văn hóa xã hội Việt Nam nên phải học thêm Nho học. Tiêu biểu là Phạm Quỳnh, Trương Vĩnh Ký, chủ trương Đông Tây kết hợp Đông học.

5. Nhà Tây học thuần túy. Họ muốn cắt đứt quá khứ để nhẹ bước theo con đường Âu hóa, hiện đại hóa. Tiêu biểu là Nguyễn Văn Vĩnh, Nhất Linh, xa hơn là Trương Vĩnh Ký.


Như vậy trừ các nhà nho truyền thống, các loại hình nhân vật còn lại đều có những đóng góp xuất sắc cho văn hóa Việt Nam. Tuy nhiên với buổi giao thời thì hai loại hình ( 3 ) và ( 4 ) căn bản hơn cả. Ở họ vừa giữ được nhân cách do nền giáo dục Nho học tạo thành vừa tiếp nhận ý thức cá nhân do giáo dục Tây học đưa đến. Nhân cách là một phạm trù mang tính tộc loại ( cộng đồng, xã hội ) , còn ý thức cá nhân thuộc phạm trù cá nhân cá thể, thiếu hoặc lệch lạc giữa 2 cái này thì con người không thể phát triển lành mạnh được, còn nếu yếu cả 2 cái thì cũng không xong. Bởi vậy đây chính là chiến lược của nền giáo dục chúng ta hiện nay.



Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét