Trang

Thứ Tư, 14 tháng 10, 2020


1 bài viết bênh vực quyền lợi của người Mỹ Da Đen rất hay và cảm động. Mỗi khi nghĩ tới những người Mỹ Da Đen đang chịu sự kỳ thị bất công dù ngấm ngầm hay công khai thì tất cả những ai có lương tri cũng đều cảm động đến rơi nước mắt. Sự đau khổ của người Da Đen ở trên đất Mỹ thật chẳng khác chi những người Hồi Giáo ở Tân Cương đang bị chính quyền Trung Quốc đàn áp vậy. Dù sao cũng có được niềm an ủi là người Da Đen ở Mỹ hay người Hồi Giáo ở Tân Cương thì cũng đều được cộng đồng  QUỐC  TẾ  có tư tưởng tiến bộ lên tiếng và không bao giờ bỏ rơi. 


bài viết đã được lược bỏ vài đoạn khó hiểu để cho dễ đọc hơn.


Về chuyện “ sao người Mỹ đen không chịu khó vươn lên như người gốc Á ? ”


( luật khoa )


Trong các bài viết hoặc các lập luận nổi lên sau cái chết của George Floyd gần đây, thuật ngữ “ model minority ” ( cộng đồng thiểu số tiêu biểu / kiểu mẫu ) được sử dụng để đổ lỗi cho người Da Đen và văn hóa của họ. Biểu hiện cụ thể của lập luận liên quan đến thuật ngữ này là :


“ Sao người Da Đen không cố gắng lên ? ”


“ Người châu Á cũng chịu bất công lúc đầu mà đổi đời được, sao người Da Đen lại không làm được ? ”


Trong bài viết này, tôi giải thích khía cạnh lịch sử – chính trị của thuật ngữ “ model minority ” và chỉ ra những hiểm nguy khi dùng lập luận này để chỉ trích người Da Đen ở Mỹ. Tôi viết hoa từ “ Da Đen ” để nhấn mạnh rằng từ Black ( viết hoa trong tiếng Anh ) khi nói đến người Da Đen không phải để chỉ màu da mà còn để nói rằng đó là một sắc tộc với nét đặc trưng văn hóa riêng.


Model Minority xuất hiện từ đâu ?


Năm 1966, nhà xã hội học William Petersen đã sử dụng khái niệm “ model minority ” để giải thích tại sao người Mỹ gốc Nhật có thể vươn lên trong xã hội Mỹ đầy sự kỳ thị người châu Á. Đỉnh điểm của sự kỳ thị là trong Chiến tranh Thế giới thứ Hai khi hầu hết người Mỹ gốc Nhật bị dồn vào những trại tập trung và bị mất hết tài sản. Bài báo của ông được đăng trên tờ New York Times năm 1966 mang tên “ Success Story, Japanese - American Style ” ( tạm dịch : “ Câu chuyện thành công của người Mỹ gốc Nhật ” ) cùng với một bài viết xuất hiện cùng năm đó trên tờ U.S. News & World Report về thành công của người Mỹ gốc Hoa đã góp phần tạo ra một khuôn mẫu định kiến về cộng đồng thiểu số kiểu mẫu cho người Mỹ gốc Á. 


Hai bài báo này đều nhấn mạnh sự chăm chỉ của người Mỹ gốc Nhật và người Mỹ gốc Hoa. Họ được khen là đã cố gắng vươn lên mà không cần một sự trợ giúp nào của chính phủ. Điều quan trọng là trong cả 2 câu chuyện “ thành công ” này, cộng đồng người Da Đen luôn được đem ra để so sánh với ý ngầm ám chỉ họ không thành công là vì có vấn đề. Peterson sử dụng từ “ problem minority ” – “ cộng đồng thiểu số có vấn đề ” để nói về những cộng đồng da màu bị vướng trong vòng thu nhập thấp, giáo dục kém, tỉ lệ tội phạm cao. Tóm lại theo Peterson, trong rất nhiều cộng đồng thiểu số ở Mỹ ( Mỹ gốc Á, Mỹ gốc Phi, Mỹ gốc Mexico, Mỹ Bản địa – người da đỏ ..... ) thì Mỹ gốc Nhật và Mỹ gốc Hoa được coi là 2 tấm gương sáng kiểu mẫu, “ điển hình tiên tiến ” mà các cộng đồng thiểu số khác ( trong đó có cộng đồng Da Đen ) nên noi theo.


Thoạt nghe thì thấy “ model minority ” là một lời khen tặng. Đó là một bước tiến về mặt hình ảnh của người Mỹ gốc Á trong mắt người Mỹ trắng, đặc biệt là so với giai đoạn từ giữa những năm 1800 đến suốt Thế Chiến II khi người châu Á bị xem là hiểm họa da vàng ( yellow peril ). Thuật ngữ này dùng để chỉ mối đe dọa xâm lấn và thống trị của người châu Á về mặt kinh tế và chính trị ; nỗi lo sợ sự thoái hóa đạo đức của người châu Á sẽ lan truyền ; sự thoái hóa giống nòi nếu người châu Á và người da trắng kết giao. 


Câu hỏi quan trọng ở đây là : người Mỹ gốc Á có thật sự là nhóm thiểu số “ kiểu mẫu ” hay không ?


Câu trả lời là : không.


Không phải người Mỹ gốc Á nào cũng thành công trên đất Mỹ. Chưa kể cộng đồng tị nạn người Campuchia và Hmong dù cùng gốc Á nhưng hay bị xem là tầng lớp dưới ( underclass ), họ thường bị xếp chung với cộng đồng Da Đen hơn là các nhóm sắc tộc gốc Hoa hay Việt ( Aiwa Ong dùng từ “ ideological blackening ” để nói đến vấn đề này ).


Trong một nhóm thì luôn có sự khác biệt về nhiều mặt, nhóm nào cũng có người thành công và có người không thành công, vì vậy không có sắc tộc nào là “ kiểu mẫu ” cả. Việc ta hay nghĩ rằng cộng đồng người Da Đen thường phạm tội hoặc cộng đồng người Mỹ gốc Á học hành giỏi giang là do truyền thông tập trung quá nhiều vào một khía cạnh của một nhóm ( overrepresentation ). Tình trạng này tạo ra một định kiến về nhóm người đó. “ Thiểu số kiểu mẫu ”, vì thế, là một định kiến, một sự dán nhãn. Nếu dùng lập luận thiểu số kiểu mẫu để đổ lỗi cho người Da Đen không cố gắng thì chúng ta đang định danh bản thân là một phần trong nhóm kiểu mẫu đó, tức là chấp nhận cái nhãn mác được áp đặt lên cộng đồng của mình.


Vậy khi ta chấp nhận cái mác “ thiểu số kiểu mẫu ” thì ta quên đi những gì ?


Thứ nhất, ta quên mất rằng khái niệm này xuất hiện trong bối cảnh của Phong trào Dân quyền những năm 1960 và mang một ý nghĩa chính trị nhất định. Ý nghĩa đó là : người Da Đen và người Mỹ gốc Mexico ( Chicano ) nên học tập theo người Mỹ gốc Á bằng cách tự vươn lên thay vì đấu tranh để đòi dân quyền. Một phần ý nghĩa của khái niệm “ thiểu số kiểu mẫu ” là người Mỹ gốc Á không những chăm chỉ tự vươn lên mà còn tự biết thân biết phận, không đấu tranh, không đòi hỏi quyền lợi như các nhóm khác. Nói ngắn gọn, “ thiểu số kiểu mẫu ” được xem là “ ngoan ”, mà “ ngoan ” tức là bị động, là chấp nhận những bất công mà không than phiền, không đấu tranh. Như vậy nếu ta than phiền rằng tại sao cộng đồng người Da Đen không chịu học tập, làm theo thước đo của nhóm thiểu số kiểu mẫu thì ta đang góp giọng bảo mọi người giữ nguyên thứ bậc chủng tộc mà trong đó nhóm người da trắng thuộc hạng cao nhất và có nhiều đặc quyền nhất ( privilege ).


Thứ hai, khi ta tự xem mình là nhóm thiểu số kiểu mẫu thì ta quên mất rằng người Mỹ gốc Á đã và vẫn đang bị kỳ thị trong xã hội Mỹ. Xuyên suốt lịch sử, người nhập cư từ châu Á luôn bị định kiến xấu, bị phân biệt đối xử về mặt kinh tế, không có quyền chính trị, bị hành hung, bị cách ly và bị gom vào trại tập trung ( trong Thế Chiến II ).


Ví dụ như khi nói đến sự “ thành công ” của người nhập cư từ châu Á ở thế hệ thứ nhất, ta hay nghĩ đến việc họ tự vươn lên bằng việc làm ăn nhỏ lẻ nhưng không phải tự nhiên mà nhiều người nhập cư từ châu Á thường tự mở doanh nghiệp nhỏ. Trong môi trường làm việc mang tính cạnh tranh, sắc tộc thường là lý do ngầm để người chủ da trắng trả lương thấp hay cao cho một nhóm người nào đó. Người lao động nhập cư trong thời kỳ đầu của nước Mỹ vì không có quyền công dân nên luôn bị trả lương thấp hơn hẳn người lao động da trắng và họ cũng bị những người chủ này đem ra làm strikebreakers [ phá hoại đình công ] để phá hỏng các cuộc đình công đòi tăng lương của công nhân da trắng. 


Vấn đề là người lao động nhập cư không hề muốn chấp nhận mức lương thấp này và họ cùng đoàn kết với nhau để đấu tranh nhưng phần lớn các tổ chức công đoàn ở Mỹ tại thời điểm đó không muốn cho người gốc Á tham gia. Kết quả là người lao động nhập cư không những bị người chủ da trắng bóc lột mà còn bị cả người lao động da trắng căm ghét và hành hung vì cái tội làm strikebreakers ( mặc dù không ai muốn làm strikebreakers cả ).


Vì sự kỳ thị này mà nhiều người nhập cư đã từ bỏ việc làm trong các hầm mỏ, nhà máy và phải tự mở cơ sở làm ăn nhỏ, việc kinh doanh nhỏ lẻ không phải là một đặc điểm văn hóa châu Á mà là một biện pháp tự vệ để tồn tại. Thêm nữa, sự thành công của người Mỹ gốc Á cũng là nguồn cơn của việc kỳ thị. Khi sự thành công của một nhóm thiểu số bị thổi phồng lên thì lằn ranh giữa “ cộng đồng kiểu mẫu ” và “ mối hiểm họa từ Phương Đông ” là rất mong manh. Nếu như người Mỹ gốc Á thành công quá thì họ sẽ trở thành hiểm họa vì khi đó thứ bậc chủng tộc và vị trí thượng đẳng của người da trắng bị đe dọa. Người Mỹ gốc Á cho đến tận bây giờ vẫn bị xem là “ ngoại quốc ” và khi người “ ngoại quốc ” thành công quá thì họ sẽ bị kết tội là lấy đi cơ hội đạt được giấc mơ Mỹ của người Mỹ “ đích thực ”. 


Kết quả là người Mỹ da trắng sẽ than phiền là đất nước của “ chúng ta ” ( chúng ta tức là người Mỹ da trắng ) bị ngập lụt trong cơn lũ châu Á từ trường học đến thị trường lao động trong những phố Tàu, phố Nhật, Little Saigon hay phố Manila. Bởi thế mới có những câu đùa như : “ M.I.T. là Made in Taiwan ” hay “ U.C.L.A là University of Caucasians Living among Asians ”, ám chỉ có quá nhiều học sinh gốc Á ở các trường nổi tiếng của Mỹ.


Nhưng nước Mỹ đã làm gì để sửa sai ?


Nước Mỹ ngay từ lúc lập quốc là một đất nước dành cho người da trắng vì chỉ có người da trắng tự do ( free white persons ) mới được trở thành công dân Mỹ. Luật cấm người Trung Quốc nhập cư ( 1882 ) được bãi bỏ năm 1943 không phải vì nước Mỹ muốn sửa sai mà là vì trong bối cảnh Thế Chiến II, Trung Hoa Dân Quốc ( Đài Loan ngày nay ) là đồng minh của Mỹ. Sự hình thành của một nước Mỹ đa văn hóa ( về mặt lý tưởng ) bắt đầu từ sau Thế Chiến II khi nước Mỹ muốn khẳng định sự vượt trội của mình trên trường quốc tế. Thế nhưng đa văn hóa không có nghĩa là sắc tộc nào cũng được xem là ngang bằng nhau. Qua các giai đoạn phát triển của đa văn hóa tự do ( liberal multiculturalism ) từ những năm 1980 đến những năm 1990 và đa văn hoá tân tự do ( neoliberal multiculturalism ) từ năm 2000, sự thượng đẳng của người da trắng luôn tồn tại ở Mỹ mặc dù ở dạng thức khó thấy hơn. 


Ta quên mất rằng cộng đồng người Mỹ gốc Á và người Mỹ gốc Phi dù có lịch sử khác nhau nhưng đều trải qua lịch sử bị đối xử không công bằng và đang sống trong một xã hội chưa hề hết phân biệt chủng tộc. Quan trọng nhất là nước Mỹ được như ngày hôm nay là do cộng đồng thiểu số đấu tranh mà có chứ không phải do mọi người ngoan ngoãn cặm cụi làm việc và im lặng. 


Nếu tự cho mình là cộng đồng thiểu số kiểu mẫu thì ta đã tự hướng về sự đồng hóa với người da trắng, tự cách ly mình với các cộng đồng người da màu đã trải qua lịch sử giống ta. Khác với một bộ phận người Mỹ da trắng lúc nào cũng muốn nước Mỹ trở lại “ như xưa ” ( the America that once was ), người da màu đấu tranh vì tiềm năng của một nước Mỹ trong tương lai ( the America that could be ). Nói như Gary Okihiro thì các giá trị cốt lõi của nước Mỹ không phải xuất phát từ bộ phận dân số chiếm số đông trong xã hội Mỹ ( người da trắng ) mà xuất phát từ những cộng đồng được xem là bên lề xã hội ( như cộng đồng người Mỹ gốc Á, gốc Phi, gốc Mexico, gốc Mỹ Latin, người Mỹ Bản địa – da đỏ ). Nước Mỹ được như hôm nay là 1 nước Mỹ đã trải qua một quá trình đấu tranh xuyên suốt lịch sử, do đó chỉ khi nào nhóm người bị đàn áp nhiều nhất trong xã hội có được sự công bằng thì lúc đó xã hội mới công bằng thật sự. Chỉ khi nào Black Lives Matter thì mới có All Lives Matter. 


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét