Trang

Thứ Ba, 3 tháng 4, 2018


1 bài viết rất sâu, rất rộng về Lý Thường Kiệt và các cuộc chiến thời đó cùng với trình thuật rất trung thực , tỉ mỉ và chi tiết đã nói lên khả năng nghiên cứu vô cùng xuất sắc của học giả Hoàng Xuân Hãn, bấy lâu nay chỉ nghe đến danh của ông mà không biết công trình của ông tường tận ra làm sao. Bài viết đã lược bỏ nhiều đoạn dễ gây nhàm chán cùng những chú thích từ các sách sử rất nhiều của tác giả để dễ đọc và dễ theo dõi .



Lý Thường Kiệt, lịch sử ngoại giao và tông giáo triều Lý .

( Hoàng Xuân Hãn )


Phần I – Bại Chiêm Phá Tống

CHƯƠNG NHẤT – GỐC TÍCH


1. Gốc tích

Lý Thường-Kiệt quê phường Thái-hòa, ở trong thành Thăng-long, Thái-hòa cũng là tên một núi nhỏ ở phía tây trong thành Thăng-long, bây giờ, ở phía nam đê Bách-thảo, gần chỗ rẽ xuống trường đua ngựa. Lý Thường-Kiệt có nhà ở gần núi ấy. Tuy là họ Lý, nhưng ông không phải là người hoàng tộc. Có chỗ chép tên húy ông là Tuấn, và nói Thường-Kiệt chỉ là tự mà thôi. Nhữ Bá-Sĩ bàn rằng có lẽ ngày xuất thân mới dùng tự làm tên.

Cha, tên An-Ngữ, sung chức Sùng-ban-lang-tướng ở triều Lý. Mẹ, họ Hàn. Năm 20 tuổi sinh Thường-Kiệt. Ấy là vào năm Thuận-thiên thứ 10 ( 1019 ) đời Lý Thái-Tổ. Sau lại sinh Lý Thường-Hiến, mà có chỗ cũng gọi là Thường-Hiển.

Khoảng niên hiệu Thiên-thành, đời Lý Thái-Tông, cha đi tuần biên địa ở Tượng-châu, thuộc Thanh-hoá, bị bệnh rồi mất vào năm Tân-mùi ( 1031 ). Thường-Kiệt bấy giờ mười ba tuổi, đêm ngày thương khóc không dứt. Chồng cô là Tạ Đức thấy thế đem lòng thương và dỗ dành. Nhân đó hỏi ông về chí hướng. Ông trả lời : “ Về văn học, biết chữ để ký tên là đủ. Về vũ học, muốn theo Vệ Thanh, Hoắc Khứ, lo đi xa vạn dặm để lập công, lấy được ấn phong hầu để làm vẻ vang cho cha mẹ. Đó là sở nguyện ” . Tạ Đức khen là có chí khí bèn gả cháu gái tên là Thuần Khanh cho ông, dạy học các sách binh thư của Tôn, Ngô.

Thường-Kiệt đêm ngày học tập. Đêm đọc sách, ngày tập bắn cung, cưỡi ngựa, lập doanh, bày trận. Các phép binh thư đều thông hiểu cả. Tạ Đức lại khuyên đọc sách nho. Thường-Kiệt rất chịu gắng công học tập nên chóng thành tài.

Từ lúc nhà Đinh mở nước, các vua đều lấy vũ công mà gây dựng cơ đồ. Đến Lý Công-Uẩn xuất thân cũng là tay vũ tướng cho nên triều đình và xã hội bấy giờ chuộng vũ. Thanh niên thì lấy nghề làm tướng là vinh. Hễ mỗi khi có giặc dã nổi lên, tuy tại nơi rất xa lánh, vua cũng thân chinh hoặc sai hoàng tử đi cầm quân. Lý Thường-Kiệt là con một vũ tướng, được dạy nghề vũ, thích nghề vũ, sự ấy là lẽ dĩ nhiên.

Năm ông 18 tuổi ( 1036 ), mẹ mất. Hai anh em lo đủ mọi lễ tống táng. Trong khi cúng tế, hễ có việc gì, cũng tự tay mình làm. Lúc hết tang, nhờ phụ ấm, Thường-Kiệt được bổ chức Kỵ mã hiệu-úy , là một chức quan nhỏ về đội quân cưỡi ngựa.




2. Vào cấm đình

Năm lên 23 tuổi, là năm Tân-tị ( 1041 ) , niên hiệu Càn-phù hữu-đạo đời Lý Thái-Tông, ông được bổ vào ngạch thị vệ để hầu vua và sung chức Hoàng-môn chỉ-hậu. Chức này là một chức hoạn quan. Như trên đã nói, ông cưới vợ mấy năm về trước. Thế thì vì lẽ gì ông lại tĩnh thân để làm hoạn quan ? Về việc này có nhiều thuyết.

Lý Thường-Kiệt đã tự yếm ; đó là một sự thật, tuy thần tích có nói ông đã lấy vợ mà sau sử ta cũng như sách Mộng-khê-bút-đàm của người Tống đều nói ông là một hoạn quan. Thuyết nói ông vì can vua mà bị nhục hình thì chắc sai. Việc bắt và tha Nùng Trí-Cao là vào tháng 11 năm Tân-tị 1041 , và cũng năm ấy ông được vào cấm thất. Không lẽ trong hai tháng cuối năm mà ông bị phạt nặng rồi được cất lên cao như thế. Vả không lẽ vua vừa tha và phong hầu cho một nghịch thần mà lại bắt tự yếm một người tôi trung trẻ tuổi.

Thuyết sau có lý hơn. Hoạn quan xưa nay nhiều quyền thế vì thường ngày ở cạnh vua. Nhất là từ đời Đường, hoạn quan lại càng được thế. Khi trước, tuy được vua tin nghe, nhưng hoạn quan cũng thường chỉ hành động trong cung thất. Từ đời Đường thì được công nhiên cầm chính quyền hay làm đại tướng. Vì những lẽ ấy, đời sau lắm kẻ tự tĩnh thân để được chọn. Đối với Lý Thường-Kiệt có đặc biệt hơn vì được vua ban tiền và sai làm. Ông nghe lời. Bấy giờ ông 23 tuổi. Không biết bà vợ ra sao, hay là lúc ấy đã mất rồi. Không sách nào nói đến. 

Ông vào cấm thất . “ Chưa được một kỷ ( 12 năm ) , tiếng nổi nội đình ” . Được thăng nhiều lần lên đến chức Đô-tri, ông coi tất cả mọi việc trong cung. Năm Lý Thánh-Tông lên ngôi ( 1054 , ông 36 tuổi ) , vì đã có công phù dực, ông được thăng chức Bổng-hành-quân-hiệu-úy , tức là một chức vũ quan cao cấp. “ Hàng ngày ông hầu cận bên vua, hiến việc tốt, can việc xấu, giúp vua hết mọi cách. Vì cần lao giúp rập nên được cất lên chức Kiểm-hiệu-thái-bảo , là một chức tại triều rất cao .


CHƯƠNG II – ĐÁNH CHIÊM THÀNH

Đầu đời Lý, Chiêm-thành là một nước phồn thịnh, địa giới từ vùng Bình-thuận đến vùng Quảng-bình ngày nay. Cực bắc là châu Bố-chánh, phía nam núi Hoành-sơn, giáp địa phận Hoan-châu thuộc nước ta. Vùng biên giới ấy không khi nào được yên. Châu Hoan và châu Ái bị quân Chiêm quấy nhiễu luôn. Các vua ta thường thường phải sai quân đi chinh phạt.

Đinh Tiên-Hoàng mới nhất thống sơn hà mà nước ta đã bị quấy. Nguyên do là Đinh Bộ-Lĩnh đã diệt mười hai sứ quân mà trong số ấy có Ngô Nhật-Khánh. Nhật-Khánh là dòng dõi Ngô Quyền. Bấy giờ y còn trẻ. Vua Đinh lấy mẹ y làm hậu, đem em gái y gả cho con giai mình là Liễn và gả con gái mình cho Nhật-Khánh. Tuy nhiên Nhật-Khánh vẫn oán rồi chạy vào Chiêm-thành. Cuối năm Kỷ-mão ( 979 ) , Nhật-Khánh đưa hơn nghìn thuyền Chiêm về đánh kinh đô Hoa-lư. Chẳng may khi vào cửa bể Đại-ác và Tiểu-khang ( thuộc hải phận Ninh-bình Nam-định ngày nay. Đại-ác nay là Đại-an, tức là cửa Đáy, Tiểu-khang thuộc huyện Yên-mô ) , thuyền bị bão đánh chìm. Quân Chiêm tan và Nhật-Khánh cũng bị chết . 

Sau khi Lê Hoàn lên ngôi, sai sứ sang giao hiếu với Chiêm-thành ( 982 ) . Hai sứ là Từ Mục và Ngô Tử-Canh đều bị Chiêm giữ lại. Vua Lê mang quân vào đánh, phá thành trì, hủy tông miếu, giết chúa và bắt vô số dân đưa về. 

Đó là cuộc nam phạt đầu tiên trong lịch sử độc lập của các vua ta. Chiêm-thành vì đó mà phải kinh sợ, nhún nhường. Có lúc vua Lê không chịu nhận sứ Chiêm, chúa Chiêm phải sai cháu là Chế Cai sang cống để tạ tội ( 994 ). Tuy vậy , năm 997 , Chiêm lại ngấp nghé ở biên thùy. 

Sau khi Lý Công-Uẩn lên ngôi, Chiêm-thành chịu cống. Năm 1011 có cống sư tử ( có lẽ là tên cá sấu ) , nhưng năm 1020 vua Lý Thái-Tổ đã phải sai con là Khai-thiên-vương và tướng Đào Thạc phụ vào đánh đất Bố-chánh. Chiêm-thành qua một hồi nội loạn ; các con cháu hoàng tộc tranh ngôi nhau cho nên nam thùy ta cũng được tạm yên. Thỉnh thoảng phái nào thua lại đem đồ đảng sang nước ta xin phụ, như con vua Chiêm sang năm 1039 và năm 1040 dân Bố-chánh kéo nhau hàng trăm tới ở nước ta. 

Trong khoảng 16 năm, Chiêm-thành không hề cống hiến gì ta nữa. Mùa hè năm 1043 lại còn tới quấy ở ven bể. Vì thế, năm 1044, vua Lý Thái-Tông mới có cuộc thân chinh. Chuyến ấy quân ta vào sâu trong nước, giết chúa là Sạ Đẩu, bắt 30 voi, 5000 nguời, chém giết ba vạn người. Tháng bảy năm ấy, vua Lý kéo vào kinh đô, bắt cung nhân, nhạc nữ rất nhiều. Sau cuộc đại bại này, Chiêm-thành rất kính nể ta và theo lệ cống hiến đều đều. Lúc hiến voi trắng, lúc hiến tê trắng, lúc sang mừng vua Thánh-Tông lên ngôi. Sau khi cống vua ta một con tê trắng vào năm 1065 , Chiêm-thành không sai sứ sang ta nữa. 

Nguyên nhân của sự chiến tranh Chiêm-Việt là sâu xa hơn chứ không phải vì cớ trên mà thôi.

Một mặt , Lý Thánh-Tông là vị vua đầu tiên có óc lập một đế quốc, có danh ngang với một nước thiên tử. Vua đặt quốc hiệu Đại-Việt ( 1054 ) , tôn các vua trước là Thái-Tổ, Thái-Tông, coi các nước nhỏ là chư hầu và muốn ngăn cấm Chiêm-thành thần phục nước Tống. Chiêm-thành trước bị Lý Thái-Tông đánh phá kinh đô, giết chúa, bắt dân, tự nhiên đã trở nên thâm thù với ta. Chiêm-thành lẩn lút sang thần phục Tống và tìm cách dựa thế Tống để trả thù ta. Năm Tống Hoàng-Hựu thứ 7 ( 1035 ) , Quảng-tây an-vũ-sứ tâu rằng : “ Chiêm-thành vốn không hay tập binh. Ở gần Giao-chỉ thường hay bị lấn. Nay Chiêm-thành soạn sửa quân bị để chống Giao-chỉ ” . Từ lúc Rudravarman III, mà sử ta gọi Chế-Củ, hay là Đệ-Củ, lên ngôi vào khoảng cuối năm 1061, chí báo thù của Chiêm lại càng mạnh. 

Xem thế thì ta cũng không lấy gì làm lạ rằng Rudravarman III không chịu cống vua Lý nữa và vua Lý Thánh-Tông nhân đó đánh Chiêm-thành. Xét chính sách triều Lý sau này ta sẽ thấy rằng các vua Lý đã có định tâm lấn nước Tống để mở bờ cõi miền bắc. Đối với Chiêm-thành hèn yếu hơn Tống vạn bội, chắc rằng vua Lý Thánh-Tông cũng muốn xâm chiếm đất đai.


2. Sửa soạn

Đối với một cuộc hành binh vĩ đại như vậy , sử ta chép rất sơ lược. Hình như đời Lê Thánh-Tông, đoạn sử này của Lê Văn-Hưu để lại đã bị thiếu sót, hay là Ngô Sĩ-Liên biên Đại-Việt Sử-ký Toàn-thư tự ý ước lược đi ? May còn có sách Việt-sử-lược đời Trần y nguyên để lại, chép khá rõ ràng. Quân ta có 5 vạn. Quân ấy không phải có sẵn, phần lớn huy động dân thường.

Theo Chu Khứ-Phi và Ngô Thì-Sĩ , khoảng đầu đời Lý, binh chế theo phép quân phủ vệ đời Đường và quân cấm sương đời Tống. Mục đích ban đầu là bảo vệ nhà vua ở kinh đô, chống lại việc đảo chính cướp ngôi. Binh dùng về việc này là hạng binh tốt nhất, gọi là thân quân ; tên riêng là thắng quân hoặc cấm quân. Cấm quân họp thành một vệ, gọi là cấm vệ, Cấm-vệ chia ra 10 quân, mỗi quân gồm 200 người, cả thẩy là 2.000 người, đóng chung quanh kinh thành, thường ngày túc trực. Lúc vua đi đâu xa thì đi theo. Theo lệ nhà Lê, cấm quân đều có khắc ba chữ Thiên-tử-binh trên trán. Năm 1028 đời Lý Thái-Tông có 10 quân cấm vệ, đặt tên là Quảng-thánh, Quảng-vũ, Ngự-long, Bổng-nhật, Đằng-hải, mỗi hiệu đều có tả quân, hữu quân. Đời Lý Thánh-Tông lại thêm 6 quân nữa. Cấm-vệ có đến 16 quân, cộng 3.200 tên. Tên quân cũng đặt lại như sau ( 1059 ) : Ngự-long, Vũ-thắng, Long-dực, Thần-điện, Bổng-thánh, Bảo-thắng, Hùng-lược, Vạn-tiếp ; Mỗi hiệu cũng chia làm tả hữu.

Vì lần này vua Thánh-Tông thân chinh nên 3.200 cấm binh này chắc ở trong số 5 vạn nói trên.

Mục đích thứ hai của lính là giữ trị an trong nước và chống lại ngoại xâm. Về việc này thì dùng lính hạng nhì như loại sương quân nhà Tống. Quân này không có số nhất định. Người dân nào đến tuổi cũng phải đăng lính nhưng vẫn được ở nhà cày bừa, mỗi tháng mới phải đi phen một kỳ ngắn. “ Lúc chinh phạt thì cất quân ấy giao cho các tướng. Nếu quân không đủ thì lấy dân đinh mà dùng. Việc xong rồi lại trở về cày ruộng ” . Trong khi phải đi phen, sương quân đóng ở các châu, huyện để phòng bị khi có dụng binh. Hạng lính này ngày thường ít tập tành nhưng được số đông. Chắc trong số 5 vạn quân kia thì sương quân chiếm phần lớn.

Số 5 vạn có thật hay không ? Nước ta dân số bấy giờ bao nhiêu không thể biết được. Nhưng theo sử ta có thể chống lại 10 vạn quân Tống mấy năm về sau thì chắc ta có hơn 5 vạn quân. Vả lại phép kiểm điểm dân đinh bấy giờ rất ngặt, cách nuôi lính bấy giờ rất kiệm. Dân không trốn được, nuôi lính không tốn ; cho nên cất một đạo quân năm vạn chắc là dễ dàng .

Đường giao thông bằng bộ vào Chiêm-thành gặp trở ngại. Theo lời sứ Chiêm tâu với vua Tống ( 1074 )  thì từ kinh đô Chiêm đến kinh đô Giao-chỉ phải đi 40 ngày và toàn đường núi. Cho nên cuộc hành quân này chắc chắn chỉ dùng đường thủy. Mà thủy quân ta từ trận Bạch-đằng đời Ngô Quyền đã lập được nhiều chiến công.

Bắt đầu từ tháng 5 năm trước, Mậu-thìn ( 1068 ) , vua Lý sai sửa chữa và đóng thêm chiến hạm.

Tục ta đời xưa rất tin về điềm lành dữ , nhận đó là ý trời tỏ cho biết trước sự thắng lợi hay thất bại của một việc dự định làm ; tỏ ý trời muốn xui hay ngăn mình làm một việc gì. Nhất là về đời Lý , óc dị đoan lại càng mạnh. Sử gia để ý đến tất cả những sự việc vụn vặt nhưng khác thường. 


3. Xuất quân. Trận Nhật-lệ

Cuối năm Mậu-thìn ( 1068 ) , thủy quân đã dự bị sẵn sàng. Đợi ra giêng, thuận gió bắc sẽ xuất quân. Đến tháng hè, thuận gió nồm sẽ trở về. Vua thân chinh chừng 5 tháng.

Ngày Mậu-tuất tháng 2 năm Kỷ-dậu là ngày dương lịch 24 tháng hai 1069 , vua Lý Thánh-Tông hạ chiếu thân chinh Chiêm-thành . Quân có 5 vạn . Lý Thường-Kiệt được chọn làm đại tướng quân và đi tiền phong , kiêm chức nguyên soái . Ông xin cho em là Thường-Hiến đi theo ; Hiến được trao chức tán kỵ vũ uý .

Số quân 5 vạn kia chắc hoàn toàn đi đường thủy. Nếu mỗi mành chở được 250 quân và lương thực thì phải chừng 200 chiếc. Lúc Lý Thái-Tông đánh Chiêm-thành ( 1044 ) đã sai đóng vài trăm chiến thuyền, vậy chuyến này chắc cũng có số thuyền ấy.

Từ đời Lý Thái-Tông có đặt lệ tuyên thệ. Mỗi đầu năm hay mỗi lúc có việc quan hệ, các triều thần hội lại hoặc ở đền thờ vọng thần Đồng-cổ, hoặc ở sân Long-trì, rồi cùng phát lời thề : “ Làm con bất hiếu, làm tôi bất trung, thần minh giết chết ” . Lần này vua sắp đi vắng kinh đô lâu, sự biến rất có thể xẩy ra trong nước, kẻ có lòng tranh ngôi sẽ có cơ hội rất thuận tiện. Vì vậy ngày Đinh-mùi quần thần phải hội tại Long-trì để tuyên thệ.

Ba ngày sau, ngày Canh-tuất , vua xuống thuyền xuất quân, giao quyền bính lại cho Ỷ-Lan nguyên phi và thái sư Lý Đạo-Thành . Thuyền xuôi dòng sông Lô ( Nhị-hà ) , qua Lý-nhân-hành-cung ( vùng Nam-xương ) , rẽ xuống phía Nam rồi ra cửa Đại-an. Cửa Đại-an nay trên sông Đáy cách bể chừng 20 cây số thuộc địa phận làng Quần-liêu, huyện Đại-an, tỉnh Nam-định. Cửa ấy hồi cận đại cũng có tên là cửa Liêu-hải. Từ thời Lý về trước, cửa này là chỗ các thuyền mành qua lại để đi từ con sông nước ta ra bể vào Nam.

Bảy ngày sau khi dời khỏi Thăng-long, thuyền đến Nghệ-an vào ngày Đinh-tị ( DL 15-3 ) , từ đó đến cửa Nam-giới thuyền đi mất ba ngày. Cửa Nam-giới, nay gọi là cửa Sót, ở phía Nam núi Hồng-lĩnh, thuộc phủ Thạch-ha, tỉnh Hà-tĩnh. Bờ Nam cửa có núi, nay còn tên núi là Nam-giới. Từ thời Lý về trước, cửa này là cửa bể lớn cuối cùng ở vùng nam nước ta trước các cửa nước Chiêm-thành. Có lẽ tên Nam-giới ( bờ cõi phía Nam ) lấy nghĩa ở sự ấy. Cửa này can hệ vì lẽ lúc bấy giờ quân Chiêm thường vào nước ta bằng chỗ đó, và từ Nghệ-an đi vào có con sông nhỏ dọc theo phía núi Hồng-lĩnh rồi ra cửa ấy. Đời sau lúc Lê Thánh-Tông đi đánh Chiêm-thành cũng qua sông ấy. Có lẽ Lý Thánh-Tông cũng dùng đường này. Thật ra thuyền thường đi khoảng này, dài chừng 50 cây số, chỉ mất một ngày. Nhưng sông hẹp, chiến thuyền lớn đi chậm hơn. Vả chắc quân có đóng nghỉ lại Nghệ-an. 

Năm ngày sau, quân đến cửa Nhật-lệ là cửa Đông-hải ngày nay. Đây là cửa bể thứ ba của Chiêm-thành kể từ núi Hoành-sơn đi vào. Cửa đầu nhỏ là cửa Di-luân hay cửa Ròn. Cửa thứ hai rộng nhưng cạn, là cửa Bố-chánh hay cửa Gianh. Hai cửa này không quan hệ lắm về việc phòng thủ.

Địa thế nước Chiêm rất đặc biệt : một dải đất hẹp và dài, chẹt giữa bể đại dương và núi cao ngất. Phía bắc có núi Hoành-sơn và sông Bố-chánh ( sông Gianh ) ngăn cản đường từ Giao-chỉ vào. Dải đất hẹp ấy lại bị nhiều dãy núi chắn ngang đến bờ bể. Ngoài núi Hoành-sơn ở cực bắc thì còn có núi Hải-vân ở phía nam Thuận-hoá, núi Thạch-tân ở phía nam Quảng-ngãi, núi Đại-lãnh ở phía nam Phù-yên. Các dãy núi “ xương sườn ” ấy ngăn thành mấy cánh đồng : Bình-Trị-Huế, Nam-Ngãi, Bình-Phú, Khánh-Thuận. Dân Chàm chỉ ở các đồng bằng ấy và hình như giao thông với nhau chỉ toàn đường bể. Đường Thiên-lý bấy giờ chưa có, vua Chiêm chỉ để ít quân phòng thủ ở Bố-chánh và thủy quân tập trung ở cửa Nhật-lệ , còn đại quân đóng giữ Kinh-đô và cánh đồng Bình-định ngày nay.

Lúc thuyền quân ta tới Nhật-lệ, thủy quân Chàm chặn đánh. Lý Thánh-Tông sai tướng đại-liêu-ban Hoàng Kiện tiến đánh. Quân Chiêm thua. Quân ta không đổ bộ ở Nhật-lệ vì mục đích vua Lý là phá Kinh-thành và bắt chúa. Cho nên thuyền quân lại thẳng xuống phương nam. Thuyền dọc theo bờ bể, vượt khỏi những đồi cát trắng mà ta còn thấy ngày nay. Bốn ngày sau qua khỏi khoảng cát Đại-tràng-sa. Ấy vào ngày Kỷ-tị tháng hai ( 27 - 3 ) .

Ngày hôm sau ( 28 - 3 ) thuyền đến cửa Tư-dung. Cửa này nay gọi là Tư-hiền. Xưa cửa rất sâu, thông với phá Hà-trung ( Cầu Hải ở địa đồ Đông-Dương ) và là cửa vào các phá và sông thuộc xứ Ô Lý ( Thuận-hoá ) vì bấy giờ chưa có cửa Thuận-an. Phá Hà-trung sâu và kín. Thủy quân Chiêm đã bị phá cho nên thuyền ta vào nghỉ ở Tư-dung không bị cản trở gì. Rồi Thánh-Tông lại theo bờ bể xuống miền nam.


4. Trận Tu-mao

Thành Phật-thệ, kinh đô Chiêm-thành đời bấy giờ, ở vào địa phận tỉnh Bình-định ngày nay. Tên Chàm là Vijaya, sau có tên là Chà-bàn, ta thường chép lầm ra Đồ-bàn. Vijaya ở phía bắc thành Bình-định bây giờ, bên nam sông Khu-cương hay Hà-giao, ở chính giữa một cánh đồng phì nhiêu hình thoi, mỗi đường nối góc dài chừng 30 cây số. Ba phía bắc, tây, nam, đều có núi cao che chở. Muốn tới thành Vijaya chỉ có phía đông là dễ dàng. Sông Khu-cương chảy vào vũng Nước-mặn, góc cực bắc. Nhưng sông cạn, thuyền lớn khó vào. Vì thế mỗi lúc quân ta tới đánh Vijaya đều đưa thuyền vào cửa Thi-nại rồi đổ bộ ở ven bờ vũng Nước-mặn.

Sử chép rằng quân ta đổ bộ, tiến lên đóng ở bờ sông Tu-mao, thấy tướng Chàm là Bố-bì-đà-la bày trận trên bờ sông. Quân ta xông tới đánh, giết tướng Bố-bì-đà-la. ” Quân Chàm chết nhiều không kể xiết “. Sông Tu-mao nói trên đây là sông nào ? Theo địa thế mà đoán, ta có thể ngờ là nhánh cực nam của hạ lưu sông Tam-huyện gọi là sông Tân-an. Có ba dòng sông chắn ngang đường tới Đồ-bàn, sông này ở trước nhất. Khi gặp quân Chiêm, hai anh em Thường-Kiệt và Thường-Hiến chia quân làm hai cánh đánh tạt ngang, chém được ba vạn người. Có lẽ đó cũng là trận sông Tu-mao mà công trong trận đầu tiên này thuộc về Thường-Kiệt.

Trong Ức-trai dư-địa-chí có kể chuyện rằng : ” Lý Thường-Kiệt kéo đại quân tới sông Phan-định. Sông Phan-định tiếp với phủ Hoài-nhân ( gồm địa hạt thuộc tỉnh Bình-định từ Quảng-ngãi đến sông Khu-cương ) . Sông có nhiều sư tử ( tức là cá sấu ). ” Sư tử ” khuất phục được các thú khác ; tê, tượng đều phải sợ. Sông Phan-định có ba đoàn sư tử. Nó ở dưới nước, vẫy đuôi làm dợn sóng đổ thuyền. Lúc Lý Thường-Kiệt đánh Chiêm, đại quân kéo đến sông ấy, vì sợ ” sư tử “, quân không qua sông dễ dàng được “. Theo đó, sông Phan-định có thể cũng là sông Tu-mao .

Qua khỏi sông Tu-mao còn phải vượt hai sông khác mới tới Vijaya. Nghe tin quân mình thua ở sông Tu-mao, Rudravarman III đang đêm đem vợ con bỏ thành chạy trốn về phía nam. Cũng đêm ấy quân ta kéo tới gần thành Vijaya. Lúc quân ta đến bến Đồng-la, ( có lẽ trên sông Thạch-yển là sông chắn thứ ba, gần phía nam thành ) , người trong thành ra hàng. Vua Lý Thánh-Tông vào thành nhưng vua Chiêm đã trốn thoát.


5. Bắt vua Chiêm

Lý Thường-Kiệt đem quân đuổi theo xuống miền nam. Tháng tư quân ta đuổi đến biên giới nước Chân-Lạp. Bấy giờ Chiêm-thành gồm có vùng Phan-rang, Phan-thiết ngày nay. Phan-rang, tên Chàm là Pandurango vốn là một thành phố lớn, có lẽ vua Chiêm đã chạy đến đó. Chân-lạp lại là một cừu quốc của Chiêm, vua Chiêm không dám chạy qua đó ; cùng thế phải ra đầu hàng. Lý Thường-Kiệt bắt được Đệ-Củ ở biên giới Chân-Lạp và cầm tù cả thảy 5 vạn quân.

Cuộc đuổi bắt vua Chiêm kéo dài ngót một tháng, từ đầu tháng ba đến tháng tư. Chiêm-thành bị đại bại. Tuy Lý Thánh-Tông tự cầm quân nhưng công chiến thắng hoàn toàn thuộc về Lý Thường-Kiệt từ trận đầu đến trận cuối. 


6. Khải hoàn. Tha vua Chiêm

Sau khi bắt được Rudravarman III , vua Lý đãi yến quần thần tại điện vua Chiêm, bấy giờ là tháng năm. Muốn tỏ sự hân hoan “ vua thân hành múa khiên và đánh cầu trước bệ ” . Vua lại sai kiểm số tất cả các nhà trong và ngoài thành, cả thẩy có hơn 2.560 khu đều sai đốt hết. 

Tháng ấy ( tháng năm ) , vua kéo quân về, đem theo Rudravarman III. Cuộc rước vua về cung rất là long trọng. Các quan hữu tư sắp đặt binh lính nghiêm trang, nghi vệ rực rỡ. Vua lên bờ ngự trên chiếc báu xa ( xe nạm ngọc ) . Quần thần đều cỡi ngựa, dắt vua Chiêm-thành theo sau. Vua Chiêm-thành mình mặc áo vải trắng, đầu đội mũ làm bằng cây gai, tay trói sau lưng, có giây vải quyến buộc. Năm tên lính hiệu Vũ-đô dắt đi, các đảng thuộc cũng bị trói dắt theo sau.

Tháng bảy, vua làm lễ tâu việc thắng trận ở Thái-miếu .

Cuối năm, sai Quách Sĩ-An và Đào Tông-Nguyên sang sứ Tống để báo tin thắng trận. Lời biểu có câu : “ Nước Chiêm-thành đã lâu không tới cống, tôi tự đem quân đánh, đã bắt được chúa nó về ” . Vua Tống tuy không bằng lòng nhưng cũng phải nhận Chiêm-thành là một phiên quốc của ta, bèn ban cho chánh sứ Sĩ-An chức lục trạch và phó sứ Tông-Nguyên chức nội điện sùng ban. 

Thế là vua Lý Thánh-Tông đã thỏa lòng tự lập : sau khi xưng Đế, lập được vũ công xứng đáng với danh hiệu ấy, vua bèn đổi niên hiệu Thiên-huống báu-tượng ( trời cho voi quí ) ra Thần-vũ để ghi vũ công lớn lao ấy. Rudravarman III xin dâng đất chuộc tội. Vua Lý bằng lòng. Ba châu Bố-chánh, Địa-lý, Ma-linh thuộc Chiêm-thành từ đó nhập về nước ta. Nay là địa phận Quảng-bình và phía bắc Quảng-trị. Rudravarman III được tha về nước.

Vua Lý sau đó thưởng quân công cho các tướng sĩ, ban cho Lý Thường-Kiệt chức tước sau này : Phụ-quốc Thái phó, dao-thụ Nam-bình tiết-độ-sứ, Phụ-quốc thượng-tướng-quân, Thượng-trụ-quốc, Khai-quốc-công, Thiên-tử nghĩa nam . Chức thái phó là thứ ba trong hàng tể chấp ; Tiết độ sứ là thứ hai trong hàng tướng ; tước là Thượng-trụ-quốc Khai-quốc-công. Đặc biệt vua nhận ông làm con nuôi, tức là vào hàng vương ; và tuy ông ở triều nhưng được giao cho coi binh lính ở vùng Nam-bình, có lẽ là ba châu mới giành được. Ông bấy giờ 51 tuổi.

Chẳng bao lâu vua lại trao cho ông chức Thái-úy, Đồng trung-thư môn-hạ bình-chương-sự là chức thứ hai trong triều. Ông giúp vua trông nom quốc chính. “ Dân sự vì đó được nhờ ” . 

Đứng đầu triều có Thái sư Lý Đạo-Thành đã giữ chức ấy từ năm Thánh-Tông lên ngôi ( 1054 ) . Đạo-Thành và Thường-Kiệt giúp vua trong hai năm, trong nước rất yên ổn. Mùa hè năm Canh-tuất ( 1070 ) gặp trời đại hạn, lấy lúa, tiền, vải ở kho phát chẩn cho dân nghèo. Về hình luật, định số tiền cho tội nhân có thể nạp để chuộc tội ( năm Tân-hợi 1071 ) . Về tạo tác, mùa xuân năm Canh-tuất ( 1070 ) dựng điện Tử-thần. Về tôn giáo và giáo dục, bấy giờ là lúc Nho-giáo được chính thức tôn sùng : tháng tám năm ấy, vua sai dựng Văn-miếu, tô tượng Khổng-tử. Chu-công và Tứ-phối vẽ tượng 72 hiền để thờ trong miếu ; lại cho Hoàng Thái-tử tới đó học tập . Có lẽ cũng có ảnh hưởng ít nhiều của Thường-Kiệt khi bé có đọc sách nho.

Tuy vậy Phật-giáo cũng không bị sao lãng. Tháng chín năm ấy dựng chùa Nhị-thiên-vương ở góc đông nam thành, vua viết bia chữ Phật cao một trượng sáu thước để lại tại chùa Tiên-du ( Phật-tích, Bắc-ninh ngày nay ) .

Thanh thế nước ta bấy giờ rất lớn, Tống phải kiêng nể. Vua Tống luôn luôn dặn biên thần đừng gây sự với ta, còn Chiêm-thành thì kính sợ và thần phục, năm Tân-hợi ( 1071 ) sư Chiêm tới cống .


7. Kết quả

Trong cuộc nam phạt, Lý Thường-Kiệt vừa làm tham mưu, vừa làm thống soái. Ông đã có công lấy thành, bắt chúa Chiêm, cho nên nước ta mới được nhường khoảnh đất ba châu phía nam dãy Hoành-sơn. Trong cuộc nam tiến của dân tộc Việt-Nam, Lý Thường-Kiệt có công đệ nhất vì đã mở đường cho các đời Trần, Hồ, Lê, Nguyễn về sau. Trước đó tuy Lê Đại-Hành, Lý Thái-Tông cũng có đánh Chiêm-thành nhưng chỉ bắt người, lấy của rồi về chứ không hề nghĩ tới việc mở mang bờ cõi .


CHƯƠNG III – CẦM QUYỀN BÍNH

Tháng giêng năm Nhâm-tý, Thần-vũ thứ tư, vua Lý Thánh-tông mất vào ngày Canh-dần ( 1 - 2 - 1072 ) , thọ 50 tuổi. Hoàng thái tử Càn-đức lên ngôi tức là Lý Nhân-tông.

Càn-đức là con Ỷ-lan nguyên phi, sinh năm Bính-ngọ tháng giêng ( 1066 ) bấy giờ mới bảy tuổi. Quyền bính ở trong tay Lý Đạo-Thành và Hoàng thái hậu Thượng-Dương họ Dương.

Mẹ Càn-đức tuy được phong làm Hoàng thái phi nhưng không được tham dự chính quyền. Thái phi nguyên là Ỷ-lan phu nhân, một cô gái nhà quê. Nhân khi vua Thánh-tông hiếm con, đi cầu tự ở chùa làng Siêu-loại gặp Ỷ-lan trong vườn dâu ; vua để ý tới và đem về cung . Vì sau sinh con trai nên được tôn làm nguyên phi. Khi Thánh-tông vắng mặt ở kinh ( 1069 ) , Thái phi đã được thay vua cầm quyền. Thái tử còn trẻ ; lẽ ra trước khi mất vua cha phải phó thác cho một đại thần, nhưng sử không chép vua Thánh-tông ủy quyền phụ chánh cho ai. Ta xem đó nghi rằng vua mất một cách nhanh chóng không kịp di chúc cho nên trong cung cấm có chuyện cạnh tranh. 

Phe Thượng-Dương thái hậu được Lý Đạo-Thành ủng hộ nên Thái hậu được cầm quyền và Lý Đạo-Thành làm phụ chánh. 

Lý Đạo-Thành là một bậc lão thần, vua Thánh-tông lúc mới lên ngôi đã chọn ông làm thái sư ( 1054 ) , ông ở ngôi tể tướng trong 18 năm. Nay vua còn trẻ, chức phụ chánh thuộc về ông là phải. Ông lại là một nhà nho học , ông theo lẽ thường tôn Thượng-Dương thái hậu lên chấp chính, đó là một cái cớ xung đột giữa ông và Ỷ-lan thái phi. Là một văn quan, mộ nho, mộ phật, chắc ông chuộng hoà bình, trái với Lý Thường-Kiệt là một vũ tướng đương tuổi còn hăng hái ( 54 tuổi ) . Thường-Kiệt vẫn giữ chức thái uý cầm binh quyền nhưng đứng sau thái sư Đạo-Thành. Đã có xung đột giữa hai người thì chẳng bao lâu ắt sẽ có sự biến.

4 tháng sau khi Nhân-tông lên ngôi, phe Thường-Kiệt đắc thắng. Thường-Kiệt được cất lên làm tể chấp, còn Lý Đạo-Thành bị giáng xuống làm chức thị lang. Đó là kết quả của việc Nguyên-thái-phi vận động ở trong, cho nên ta không lấy làm lạ rằng năm sau có việc Thái-phi ép Thái-hậu tự tử để giành lấy chính quyền.

Sách sử đều chép rằng : Thái-phi tính hay ghen, thấy mình là sinh mẫu mà không được dự chính bèn nói với vua rằng : “ Mẹ già đã khó nhọc nuôi nấng con, mới có ngày nay. Bây giờ được phú quí thì người khác giành mất chỗ. Họ sẽ đặt mẹ già vào chỗ nào ? ” Vua bèn giam Thái-hậu và 72 thị nữ vào cung Thượng-dương ( cung riêng của Thái-hậu ) rồi ép phải chết theo vua Lý Thánh-tông.

Còn Lý Đạo-Thành phải giáng chức làm tả gián nghị đại phu, ra coi châu Nghệ-an . Đạo-Thành ra đó lập viện Địa-tạng, trong ấy để tượng Phật và vị hiệu vua Lý Thánh-tông để thờ. Lý Thường-Kiệt chuyên cầm quyền bính cùng Thái-phi mà bấy giờ cũng tôn lên làm Linh-nhân Hoàng thái hậu. 

Tuy các sử đều không chép, nhưng trong việc khuynh đảo Thượng-dương thái hậu chắc Thường-Kiệt cũng có một phần trách nhiệm. Sử chỉ đổ lỗi cho Ỷ-Lan xui con và cho Nhân-tông vì nhỏ tuổi nghe lời mẹ. Nhưng thật ra vua mới tám tuổi ; Thượng-dương lại cầm quyền, nếu không có một đại thần cầm quân đội trong tay giúp thì làm sao ép Thái-hậu tự tử được ? Còn Lý Đạo-Thành, theo như lời bàn của Ngô Sĩ-Liên, chắc đã phản kháng việc ấy nên mới bị biếm ra Nghệ-an và ôm hận, mang theo thần vị vua Thánh-tông để thờ. Đạo-Thành làm thế để tỏ lòng uất ức.

Nhưng có nhiều chứng cớ làm ta không thể nghi ngờ rằng trước hoặc sau khi Thượng-dương Thái-hậu mất, Thường-Kiệt cầm hết quyền bính trong tay : văn và vũ. Do đó, Thường-Kiệt đã a phụ Ỷ-lan trong việc tranh giành ngôi thứ với Hoàng Thái-hậu và trong việc bức tử 72 nhân mạng. Đó là một vết đen trong sử xán lạn của Lý Thường-Kiệt. Nhưng ông là võ tướng ; trong trận đánh Chiêm cũng như sau này trong các trận đánh Tống, ông còn hi sinh biết bao là nhân mạng nữa, gấp trăm ngàn lần sự bức sát này.

Muốn gỡ tội ít nhiều cho Ỷ-lan, và có lẽ cho ông, ta nhận thấy đời Lý còn giữ tục bắt các cung nhân chết theo vua. Xem như sau khi Ỷ-lan mất ( 1117 ) có ba thị nữ chết theo, và sau khi vua Lý Nhân-tông mất ( 1127 ) cũng có cung nữ lên đàn lửa để chết theo vua.


2. Liên kết nhân tâm

Vua gia phong cho ông chức Đôn-quốc thái-úy, Đại-tướng-quân, Đại-tư-đồ và ban cho hiệu Thượng-phụ-công. Thế là ông coi việc văn, việc vũ, và kiêm cả chức cấm quan. ” Ông bấy giờ trong thì cầm đại chính, ngoài thì coi sư lữ. Dốc một lòng lấy sự yên xã tắc làm vui, trong ngoài đều được yên ổn ” . Bấy giờ ông 55 tuổi ( năm 1073 ) . Sự yên ổn ấy chỉ có bề ngoài. Thật ra ở biên thùy có nhiều triệu chứng chiến tranh. Năm sau ( Giáp dần 1074 ) , Chiêm-thành lại bắt đầu quấy biên cảnh và dọc biên giới miền bắc, Tống cũng sửa soạn việc động binh.

Có lẽ vì thế Lý Thường-Kiệt lo toan đoàn kết trong nước để kết thúc nhân tâm. Việc đầu tiên là xóa sự hiềm khích gây ra vì chuyện Thượng-dương thái hậu. Năm ấy ( Giáp-dần 1074 ) , mời Lý Đạo-Thành từ Nghệ-an trở về giữ chức Thái-phó bình-chương quân quốc trọng sự, hợp tác với Thường-Kiệt coi việc dân và quân trong nước để cho Thường-Kiệt rảnh tay sắp đặt việc chống Tống và thay ông trong khi phải xuất ngoại cầm quân. Lý Đạo-Thành là một bậc lão thành được sĩ phu ngưỡng vọng, việc ông bị biếm vào Nghệ-an chắc đã gây mầm chia rẽ lớn ở triều.

Bấy giờ bên triều Tống cũng có việc hai phái tân cựu cạnh tranh. Tân và cựu không phải chỉ trong phương pháp mà còn ở cả cá nhân. Phái tân có thủ lĩnh Vương An-Thạch ; trong phái ấy, nhiều người đều còn trẻ. Phái cựu gồm hầu hết các lão thần. Thấy Vương An-Thạch và đồng phái còn ít tuổi mà lên cầm quyền, phái cũ không bằng lòng, cho nên sự xung đột về chủ nghĩa lại tăng kịch liệt.

Chắc rằng ở nước ta cũng chịu ảnh hưởng của cuộc xung đột ấy. Vua còn trẻ, đáng lẽ các lão thần phụ chính mà bây giờ quyền lại vào tay một vũ tướng mới hơn 50, thêm nữa lại là một hoạn quan. Phái già chắc bất mãn. Muốn lấy lòng phái ấy, Thường-Kiệt tất phải hậu đãi các lão thần. Vì vậy mới có việc mời Lý Đạo-Thành trở về dự chính và việc vua hạ chiếu cho phép những công thần 80 tuổi mỗi khi vào chầu được chống gậy và ngồi ghế.

Việc thứ hai là tôn kẻ học giả để chiêu dụ hiền tài. Từ trước tuy có lập Văn-miếu ( 1071 ) , tuy có dùng nho quan nhưng chưa hề có mở khoa thi để khuyến khích và tuyển nhân tài. Năm Ất-mão ( 1075 ) , vào tháng hai, vua hạ chiếu tuyển các nhà minh-kinh bác-học, chọn kẻ hiểu sách Kinh, học rộng, và mở khoa thi Nho đầu tiên ở nước ta. Lê Văn-Thịnh đậu khoa ấy và được vào dạy vua Nhân-tông bấy giờ lên 10 tuổi. Trong các việc này chắc Lý Đạo-Thành có ảnh hưởng lớn. Thế cũng đủ tỏ rằng hai nhà họ Lý kia đã thành thật đồng tâm cộng sự. Nhờ sự hoà hảo trong triều mà sau này tuy Tống tìm cách chia rẽ các đại thần để dễ bại quân ta nhưng đã hoàn toàn thất bại.

Ta sẽ thấy vũ công của Lý Thường-Kiệt trong năm sắp tới rất to. Mà xem việc trên đây, ta cũng thấy về chính trị, ông cũng là tay rất giỏi.



CHƯƠNG IV : CHÍNH-SÁCH BẮC-CƯƠNG TRIỀU LÝ

Đời Lý ở nước ta đồng thời với nhà Tống bên Trung-quốc.

Nhân bên Trung-quốc có cuộc phân tranh đời Ngũ-đại cho nên ở miền Nam, dân Giao-chỉ đã có cơ tự lập. Từ khi Khúc Thừa-Mỹ ( 919 ) , Ngô-Quyền ( 939 ) chiếm cứ được đất đánh lui quân Nam-Hán thì trung nguyên, xứ Bắc-kỳ bây giờ, đã do tay người Giao-chỉ tự quản trị. Nhưng công ấy không chỉ bởi một người nên quyền lực chưa được tập trung. Kịp khi Ngô Xương-Văn mất, các tướng tá tranh giành nhau, nhưng sự tranh giành ấy cũng không ra ngoài trung nguyên.

Đến khi nhà Đinh nhất thống sơn hà ( 968 ) thì bên bắc nhà Tống cũng vừa mới được lập ( 963 ) . Hai nước còn bận việc trị an những nơi gần căn cứ mình cho nên chưa nghĩ đến việc biên thùy. Nhưng khi nghe tướng Tống đã vượt xuống Lĩnh-nam vào vùng Lưỡng-Quảng ( 970 ) thì Đinh liền sai sứ sang Tống xin giao hiếu và Tống cũng nhận cho ta tự trị , phong cho Đinh Bộ-Lĩnh làm An-nam quận-vương. Tiếng rằng tự trị thật ra Tống chẳng có quyền thực tế gì ở nước ta, chỉ có điều là ta thỉnh thoảng phải sang cống phương vật và chịu Tống phong cho chức tước theo lệ chư hầu.

Sở dĩ Tống chưa muốn chiếm lại nước ta như đời Đường là vì còn bận việc nơi khác. Cuối đời Đinh, cha con vua Đinh bị nạn ( 979 ) , tướng là Lê Hoàn có ý chiếm ngôi. Tống, bấy giờ trong nước đã gần yên, nhân cơ hội định chiếm lại Giao-chỉ. Lấy cớ đánh Hoàn, Tống sai quân sang xâm lấn nước ta. Nhờ Hoàn đánh bại thủy quân Tống ở sông Bạch-đằng, giết đại tướng Hầu Nhân-Bảo ở Chi-lăng ( giáp giới Bắc-giang và Lạng-sơn ) và phá tan lục quân của Thẩm Khâm-Tộ ở Tây-Kết ( tháng ba năm Tân-tị 981 ) , nước ta tránh khỏi ách Tống. Vua Tống phải nhận Lê Hoàn làm chủ ở nước ta ( 986 ) .

Phía bắc, Lê Hoàn đánh lui quân Tống, phía nam đại phá quân Chiêm. Nước ta nhờ đó có cơ đồ khá vững vàng. Nhưng khoảng đất Hoàn cai trị không quá vùng trung nguyên, còn miền thượng du thì hình như chưa ràng buộc gì cả. Tuy nhiên biên giới miền đông bắc đã rõ ràng; và trên hai con đường thông lộ lớn, từ châu Vĩnh-an ở vùng Hải-ninh, Mông-cái, đến Khâm-châu ( Kintcheou ) và từ huyện Quang-lang, là Ôn-châu, ở phía nam Lạng-sơn, đến Ung-châu ( Nanning ) thì hai nước kiểm soát cẩn thận. Biên thần Tống thường thám thính tình hình nước ta nhưng Tống còn bận việc bắc cương đối với Liêu ( vùng Bắc-bình và Mãn-châu ), Hạ ( vùng Thiểm-tây ) cho nên chưa muốn gây hấn với ta, dẫu có khi dân ta sang quấy ( 995 ) mà Tống cũng làm ngơ. Đến lúc Lê Hoàn mất, các con tranh nhau ngôi, quan Tống xin đem quân sang đánh nước ta ( 1006 ) nhưng vua Chân-tông vẫn không bằng lòng, vua nói rằng : “ Hoàn đã trung thành, ta không nên nhân y chết mà đánh. Vả núi sông Giao-chỉ hiểm trở, thủy thổ độc dữ , có lấy được cũng vô ích ” .

Sau đó vua Tống lại bằng lòng cho Lý Công-Uẩn nối nhà Lê. Tính rộng rãi của Tống Chân-tông đã tỏ rõ trong câu trả lời cho tả hữu về việc Công-Uẩn tranh ngôi Lê : “ Lê Hoàn bất nghĩa mà được nước, Lý Công-Uẩn bắt chước rất là đáng ghét ; nhưng man tục như thế, không nên trách ” . Từ lúc Lý lập nước ( 1009 ) , ngoài việc các vương toan cướp ngôi Thái-tông thì bên trong không có sự cạnh tranh nào khác, cho nên các vua Lý rất chú ý đến việc biên cương phương nam và phương bắc.

Về phương nam, biên giới đã rõ ràng vì có dãy núi Hoành-sơn ngăn đôi hai nước Chiêm và Việt. Dân Chàm cũng như dân ta sinh nhai về cày cấy. Gần biên giới chung, dân ta và dân Chàm sống trên hai đồng bằng châu Hoan và Bố-chánh cách nhau xa nên ít sinh sự xâm lấn lẫn nhau trừ phi những vụ giặc bể Chàm vào cướp ven bể rồi bỏ đi mà thôi.

Còn về phương bắc, ngoài hai dân tộc Hoa và Việt, có nhiều dân tộc khác mà cả hai nước đều gọi là Man ( Thổ, Nùng, Mán ) chiếm miền rừng núi rất rộng ở giữa hai bình nguyên lớn : triền sông Lô ( Nhị-hà ) ở ta và triền sông Uất ( Nanning ) ở Tống. Từ miền Cao-bằng bây giờ sang đông, biên giới đã khá rõ ràng. 

Nhìn biên giới Tống-Việt trên bản đồ ta sẽ thấy chỉ chừng một phần tư biên giới Trung-Việt ngày nay là khá định. Còn dư, về phía tây, đều thuộc những bộ lạc hầu như độc lập. Ai mạnh, kẻ nấy cai quản.

Trước khi Tống lập quốc, họ Nùng đã mạnh. Có Nùng Dân-Phú được vua Nam-Hán phong làm thủ lĩnh 10 châu ở Quảng-nguyên. Sau khi Tống Thái-tông lên ngôi, Dân-Phú lại xin qui phục ( 977 ) và được phong chức kiểm-hiệu tư-không. 

Đầu đời Lý, có Nùng Tồn-Phúc quê ở động Tượng-cần, châu Thạch-an thuộc Cao-bằng bây giờ , làm thủ lĩnh châu Thảng-do ( có lẽ ở miền Trung-thảng thuộc Cao-bằng ) . Tồn-Phúc giết em là Tồn-Lộc thủ lĩnh châu Vạn-nhai ( Vũ-nhai ở Thái-nguyên bây giờ ) và em vợ là Đương-Đạo thủ lĩnh châu Vũ-lặc ( ở Cao-bằng ) , thuộc Tả-giang . Tồn-Phúc nhờ các lò vàng trở nên giàu có, chiêu tập dân các động chung quanh : tự xưng đế và không chịu cống vua Lý. Y tự lập nước Trường-sinh, xây thành, luyện binh; quyết chí độc lập. 

Tháng hai năm Mậu-dần ( 1038 ), Lý Thái-tông tự cầm quân tới đánh, bắt được Tồn-Phúc và con cả là Trí-Thông ; vợ là Ả-Nùng và con thứ là Trí-Cao chạy thoát qua động Lôi-hỏa. Trí-Cao bấy giờ mới 14 tuổi. Năm Tân-tị ( 1041 ) , Ả-Nùng và Trí-Cao trở về chiếm lại châu Thảng-do rồi đổi ra nước Đại-lịch. Lý Thái-tông sai quân đánh bắt được Trí-Cao, nhưng thương tình cha và anh đã bị giết nên tha cho về, cấp thêm đất ở vùng châu Tư-lang. Theo một thoại , Lý Thường - Kiệt ( 23 tuổi ) cố can vua đừng tha vì sợ có hậu hoạn nhưng vua không nghe, rồi hai năm sau ( 1043 ) vua lại sai sứ đến tận nơi phong hàm thái-bảo. 

Năm Mậu-tý ( 1048 ) Trí-Cao lại làm phản. Tiêu-chú nói Trí-Cao thông với người xung quanh vua Lý định cướp nước ( có lẽ cướp vùng Quảng-nguyên ). Vua sai tướng đánh, Trí-Cao thua chạy sang đất Tống, cướp châu An-đức ở phía bắc vùng Bảo-lạc ngày nay. Trí-Cao lại lập nước, đặt tên là Nam-thiên-quốc, lấy hiệu Cảnh-thụy và xin phục dịch nước Tống nhưng Tống sợ mất lòng vua Lý nên khước từ. Trí-Cao chạy tới Văn-thôn thuộc Hữu-giang , ở đó do thám tình hình Ung-châu. Bấy giờ có Ky-Mân làm quan Tống bị biếm phải đi tuần thú ở Ung. Mân muốn lập công bèn đưa quân đi tuần sâu vào man địa gần nơi Trí-Cao đóng. Bị Trí-Cao bắt, Mân nói dối rằng được triều mệnh sai tới chiêu dụ. Trí-Cao mừng, sai bộ hạ đi theo Mân về Ung dâng biểu cầu phong, lại dâng vật báu : ngà voi, vàng, bạc. Vua Tống lại từ khước, viện lẽ Trí-Cao thuộc nước ta.

Trí-Cao rất tức giận. Trong bị ta đánh, ngoài bị Tống từ mới định tâm nổi loạn. Lại có tiến sĩ Hoàng Sư-Mật thường qua lại Quảng-nguyên buôn vàng trở nên quen thuộc. Sư-Mật vốn là người Quảng-châu. Y tỏ bày tình hình trong hạt mình cho Trí-Cao nghe và nhận làm mưu chủ. Sau khi kết đảng với bộ hạ của viên coi châu Ung, Trí-Cao ngầm đốt sào huyệt mình rồi hội quân mà nói rằng : “ Của cải chúng ta tích trữ cả đời nay bị thiên tai đã hoá ra tro. Chúng ta không còn kế gì sinh sống nữa, chỉ có cách đánh lấy Ung-châu để tự lập ” . Quân chúng đều nghe theo. 

Tháng tư năm Hoàng-hữu thứ tư ( Nhâm-thìn, 1052 ) , Trí-Cao đem 5000 quân dọc sông Hữu-giang mà xuống miền đông, lấy trại Hoành-sơn ( Điền-châu bây giờ ) vào tháng tư ; rồi xuôi sông Uất xuống đánh thành Ung. Vì có nội công, Ung mất ngày mồng một tháng năm ( DL 31 - 5 - 1052 ) .

Trí-Cao đặt quốc hiệu Đại-nam, tự xưng là Nhân-huệ hoàng đế, cải nguyên Khải-lịch rồi dọc theo sông Tầm xuống sông Tây mà tiến tới Quảng-châu. Các châu lị không có thành trì, quân Tống lại hèn nhát, còn quân Trí-Cao là quân vong mạng cho nên đến đâu được đó. Các châu dọc sông đều lần lượt mất. Vừa trong hai tuần mà từ Ung-châu quân Cao-Trí đã đến Quảng-châu. Quân và tướng Tống đều sợ hãi, may có Vương-Hãn đóng thành chống lại. Trí-Cao đánh suốt ngày đêm, trong 57 ngày không hạ được bèn rút quân lui. 

Trong các trận, Trí-Cao giết hơn 3000 tướng tá Tống, bắt hàng vạn người. Qua đâu đốt phá đó. Vua Tống rất lo bèn sai các quan sở tại là nho thần Dư Tĩnh, Dương Điền, Tôn Miễn ra dẹp nhưng không ngăn nổi thế giặc.

Vua Lý Thái-tông rất quan tâm đến việc Trí-Cao đánh bại Tống. Thấy quân Tống bị đại bại, biết binh lực Tống ở miền nam rất kém, vua nhân cơ hội muốn thử thách, bèn xin đem 2 vạn quân đi đường bể tới Khâm-châu tiếp viện. Vua Tống chưa dám bằng lòng. Dư Tĩnh nói rằng : “ Trí-Cao là nghịch thần của Giao-chỉ. Ta nên nhận lời cho Giao-chỉ xuất quân ; chớ trái ý tốt của nó ” . Rồi nhiều lần Tĩnh dâng sớ về bàn. Cuối, Tĩnh tâu : “ Ung-châu và Giao-chỉ tiếp đất, nay nếu ta không nhận lời, Giao-chỉ giận sẽ giúp Trí-Cao ” . Vua Tống bèn ưng thuận cho phép Tĩnh tự liệu.

Nhưng ngày Canh-ngọ tháng 9 , tướng Tống là Địch Thanh được chuẩn lời tình nguyện đi đánh Trí-Cao . Địch Thanh là một vũ tướng có nhiều mưu kế. Thanh sợ trúng mưu ta nên tâu cùng vua Tống rằng : “ Mượn binh ngoài dẹp giặc trong không lợi cho ta đâu. Chỉ vì một Trí-Cao mà sức Lưỡng-châu không chống chế nổi đến phải mượn quân ngoài thì giả quân ấy nhân đó làm loạn, ta lấy gì để ngăn ? ” . Vua Tống bèn hạ chiếu ngăn không cho quân Lý vào cõi .

Sau khi rút khỏi Quảng-châu, Trí-Cao tới đánh Hạ-châu nhưng không phá được bèn rút về phía tây. Dọc đường, Trí-Cao đánh bại nhiều tướng Tống rồi kéo đánh Tân-châu. Dư Tĩnh bỏ chạy về Ung. Lần lượt Tân và Ung đều mất. Tĩnh sai tướng Trần Thự đem một vạn quân đón giặc. Thự chù chừ nên bị thua to ở trạm Kim-thành trên đường từ Tân tới Ung. Ấy là ngày mồng một tháng chạp .

Tháng giêng năm Quí-tị ( 1053 ) , Địch Thanh đến Tân-châu hội chư tướng. Vì các tướng đều có ý khinh Thanh nên Thanh ra lệnh chém Trần Thự. Ai nay đều khiếp. Trước đó, Thanh cầm quân ở vùng Diên-Phu chống Hạ ( vùng Thiểm-tây ) nên đem nhiều quân kỵ ở vùng ấy theo xuống. Có kẻ bảo Trí-Cao phải chặn ải Côn-lôn trong núi trên đường Tân-Ung, đừng để Thanh xuống đồng bằng vì ở đồng bằng dùng kỵ binh rất lợi. Nhưng Địch Thanh muốn hành quân gấp nên không đợi lương thực tới, ra lệnh biện tại chỗ lương thực ăn mười ngày. Trí-Cao tưởng là Thanh còn đóng quân lại nghỉ nên không nghe lời bày mưu ; lại còn nhân ngày thượng nguyên ( rằm tháng giêng ) trương đèn đặt hội. Thanh cho quân tiến gấp qua ải Côn-lôn thẳng tới thành Ung. Đang đêm, Địch Thanh mặc áo thường, lẩn vào tiền quân mà vượt ải. 

Trí-Cao được tin báo, lật đật đem quân chặn lại. Hai quân gặp nhau ở phố Qui-nhân. Ấy là ngày 17 tháng giêng. Thanh cho bộ binh ra trước, dấu kỵ binh ở sau. Còn Trí-Cao thì, trái lại, cho quân kiêu dũng cầm trường thương ra trước, để quân hèn ốm ở sau. Lúc giáp trận, quân tiền phong Tống thua. Nhưng Thanh nghiêm hiệu lệnh, các tướng sĩ không dám lùi. Rồi Thanh trèo lên cồn cao, cầm cờ ngũ sắc, ra hiệu cho kỵ binh hai cánh đổ ra, đánh vào sau quân kiêu dũng của Trí-Cao. Quân tả tiến sang hữu, quân hữu tiến sang tả. Rồi tả lại về tả, hữu lại về hữu, cắt quân địch làm hai đoạn. Quân Trí-Cao tan vỡ chết mất hơn ba nghìn. Trí-Cao rút quân về thành. Đang đêm đốt thành bỏ chạy. Quân Thanh đuổi đến Điền-châu nhưng không kịp nữa. 

Trí-Cao đem tàn quân về đóng ở trại Đặc-ma ( phủ Quảng-nam, miền đông Vân-nam ) đồ tâm trở lại Ung-châu. Một mặt, Trí-Cao kết thân với thủ lĩnh trại ấy là Nùng Hạ-Thành để mua ngựa và mộ quân vì Đặc-ma là nơi sản xuất rất nhiều ngựa tốt , một mặt sai Lương Châu tới nước ta xin quân giúp. 

Ý chừng vua Lý Thái-tông cũng muốn tiếp tục thử thách sức Tống và trả thù việc vua Tống đã không giữ lời hứa cho quân mình tới Khâm-châu bèn sai viên chỉ huy Vũ Nhĩ đem quân đi giúp. Nhưng sau khi thấy Trí-Cao thua và thế Địch Thanh mạnh, Lý lại thôi không phái quân đi nữa. Hai năm sau, Dư Tĩnh cho quân vào Đặc-ma bắt được mẹ, em và con Trí-Cao. Còn Trí-Cao thì chạy vào nước Đại-lý ( thuộc Vân-nam ngày nay, phía tây Côn-minh ) rồi chết ở đó.

Trên đây lược kể lại chuyện Nùng Trí-Cao. Ta thấy rõ rằng hồi bấy giờ biên giới miền bắc nước ta thật là chưa định mà Tống cũng thường bỏ không phòng bị. Vua Lý, trái lại, rất có chủ kiến muốn nhân sự bất định ấy mà bành trướng lãnh thổ về phía Bắc. Muốn vậy, hoặc chỉ cần phủ dụ man dân, hoặc uy hiếp chúng để chúng theo mình, vì hễ chúng theo tức thì lãnh thổ chúng cũng sáp nhập về mình. Đến lúc người Tống biết ra thì thường đã chậm rồi. Nếu không muốn sinh sự, Tống ắt phải nhận. Nói tóm lại, đối với man dân ở bắc thùy, Lý đã dùng chính sách chiêu dụ hoặc uy hiếp để đi đến chính sách “ làm trước cãi sau ” đối với Tống. Mà thật vậy, khác với những triều đại khác, các vua Lý đã không chia rẽ hoa, di, và lợi dụng việc hôn nhân để kết thúc các dân tộc biên thùy. 

Tuy vậy, ở vùng thượng du, uy quyền trung ương có khi bị các tù trưởng khinh miệt, hoặc chúng không nạp thuế, hoặc chúng tự lập một nước nhỏ, hoặc chúng theo lời dụ dỗ của quan Tống mà bỏ ta theo Tống.

Các vua quan triều Lý, tuy chịu ảnh hưởng đạo Phật thường tỏ thái độ khoan hồng, nhưng về chính trị , họ rất tin rằng muốn ràng buộc các phiên thần thì phải dùng cả uy lẫn đức. Xem như việc đời Lý Thái-tông, khi Chiêm-thành không tới cống, vua hỏi quần thần : “ Tiên đế mất đã 16 năm mà không có một sứ Chiêm-thành nào tới cả, vì sao vậy ? Ấy là vì Trẫm không gia uy đức sao, hay vì nó cậy có sông núi hiểm trở ? ” . Các quan trả lời : “ Chúng tôi cho rằng tuy Bệ-hạ có gia đức nhưng uy chưa trương rộng, ấy vì cớ đó. Từ khi Bệ-hạ lên ngôi, nó trái mệnh không tới chầu, tuy Bệ-hạ thi bố đức huệ để tỏ lòng yêu nhưng chưa từng trương vũ uy mà đánh nó. Không phải làm như vậy mà kẻ ở xa sợ ” . 

Cũng vì lẽ ấy mà mỗi khi có biên biến, các vua thường sai đại tướng hoặc các hoàng tử đánh dẹp. Nhiều lần vua tự thân chinh. Chuyện họ Nùng vừa kể trên là một bằng chứng. Vùng thường hay có biến nhiều nhất là vùng Tuyên-quang, Thái-nguyên, Bắc-cạn, Cao-bằng ngày nay. Nhưng các châu ở vùng Đà-giang và Thao-giang cũng có lần phải dẹp. 

Với hai chính sách đức và uy, nhà Lý đã kết thúc được dân vùng bắc thùy. Nhờ vậy, cương vực được mở mang dần dần sang địa phận Tả và Hữu-giang ; và lúc Tống định tiêu diệt nước ta, quân các phiên trấn đã giúp ta được phần lớn.



CHƯƠNG V : BANG GIAO LÝ TỐNG

1. Giao-thông

Giao-chỉ tiếp đất với Tống dọc theo biên thùy đầy núi rừng hiểm trở. Đường giao thông bằng bộ khó khăn. Đường bể dễ dàng hơn nhiều vì các cửa bể Khâm, Liêm cách biên giới chung chỉ một vài ngày. Đường thủy từ Khâm-châu vào nước ta như sau : từ Khâm-châu, thuyền đi hướng tây-nam, một ngày đến châu Vĩnh-an ; theo trại Đại-bàn ( đảo Kế-bào ngày nay ) thuộc Ngọc-sơn tới Vĩnh-thái, Vạn-xuân ( vùng Vạn-kiếp, sông Lục-đầu ), liền tới Thăng-long thuyền đi mất năm ngày.


2. Giao-dịch

Ngoài sự bang giao chính thức bằng các sứ bộ, hai nước Tống Lý có sự giao dịch hằng ngày ở biên thùy. Trên những chỗ đường thông lộ lớn, qua biên giới, sự buôn bán khá thịnh và có tổ chức. Tống cũng như Lý, sợ người ngoài giả mạo vào buôn bán để do thám cho nên lúc thường tuy cho đi lại thông thương nhưng chỉ được tụ họp tại một nơi nhất định gọi là bạc - dịch - trưởng ( chợ quốc tế ).

Bạc - dịch - trưởng lớn nhất gần biên thùy ta là Khâm-châu. Trường ấy ở ngoài thành, tại trạm Giang-đông. Người nước ta đi thuyền đến đó buôn bán. Lái buôn hạng nhỏ có các phường chài đem cá, sò đến đổi lấy vải ; có hàng xén tới mua giấy bút, gạo vải. Sự buôn nhỏ ấy hằng ngày vẫn có không cần xin phép riêng.

Đến như việc buôn to thì phải có viên coi châu Vĩnh-an ở nước ta thông điệp cho viên coi Khâm-châu trước rồi kẻ phú thương mới được đem hàng hóa vào. Cũng có lúc triều đình ta sai sứ tới Khâm-châu buôn bán. Các hàng của ta có : vàng, bạc, tiền đồng, trầm hương, thục hương, sinh hương, trân châu, ngà voi, sừng tê. Về mặt Tống, các đại thương ở vùng Thục ( Tứ-xuyên ) một năm tới một lần, đem gấm Thục đổi lấy hương chở về Thục. Buôn như vậy rất to, mỗi lần trao đổi có hàng nghìn quan tiền.

Trên đây chép theo Chu Khứ-Phi là người đã chứng kiến những sự giao dịch ấy ( Sách chép xong năm 1188 ) , Khứ-Phi còn nói rõ cách buôn bán bấy giờ chẳng khác ngày nay bao nhiêu. Hai bên đem hàng mặc cả cùng nhau, hồi lâu mới định giá, định giá rồi thì không được thương nghị với ai nữa, đó là một lệ ai cũng theo. Lời Khứ-Phi nói : “ Giá người mà cả đầu đã định rồi thì trời đất cũng không bằng ” , nghĩa là ai trả cao bao nhiêu cũng không được bán vì lúc ngả giá phải nhờ quan cân hương và giao gấm. Hình như các hàng ấy phải để sẵn ở công sở. Quan thuế đánh hàng Tống mà thôi, cứ một quan tiền thu ba mươi đồng.

Lúc hai nhà buôn gặp nhau, mời nhau uống rượu làm vui, lâu rồi mới nói đến buôn bán. Trong lúc mặc cả, tùy tùng trả thêm dần dần đến lúc giá gần bằng nhau rồi đến ngang nhau. Người Tống thường găng giá. Họ sai người nhà làm nhà ở, buôn bán lặt vặt để cấp rồi họ ở đó mãi, cứ ngâm giá cho người ta mỏi mệt phải bán rẻ. “ Nhưng phú thương kia ( Việt ) ngoan cố, nó không nhúc nhích, cầm vững giá lâu, làm cho ta khốn đốn ” .

Theo Khứ-Phi, người Giao vốn thực thà. Chắc vì vậy người Tống mới cân hàng một cách gian trá tuy rằng Khứ-Phi chép trái lại, cho nên Lý đã ba lần sai sứ sang Khâm-châu để thử lại cân. Vì hay bị lừa nên người nước ta cũng trở nên dối trá. Khứ-Phi nói tiếp : “Gần đây, người Vĩnh-an rất gian giả. Vì nhà buôn ta ( Tống ) bán cho chúng thuốc giả, chúng đúc lẫn đồng vào vàng bạc ; hương thì tẩm muối cho nó chìm ( để giả trầm hương ) hoặc đổ chì vào những lổ hổng trong hương. Nhà buôn ta đều bị lừa ” . Nói tóm lại đời Tống Lý hai nước giao dịch nhiều ; không những chỉ giữa dân biên thùy mà cả đến những cự phú từ phương xa cũng dự. Hàng hoá như ngà, hương, đạt tới miền kinh đô và Thục ; hàng tơ, vải, gấm, giấy của Tống được dùng ở xứ ta.

Chắc từ đời bắc thuộc đến Đinh, Lê, sự buôn bán ở biên thùy đã có rồi. Sử chép rằng : năm 1009 , Lê Chí-Trung ( Ngọa-triều ) xin buôn bán với Ung-châu . Lại chép : năm 1012 , Lý Công-Uẩn xin cho thuyền tới Ung-châu buôn bán, vua Tống Chân-Tông chỉ bằng lòng, theo lệ cũ, cho tới buôn bán ở Quảng-châu và ở trại Như-Hồng ( Khâm-châu ) mà thôi. Sự giao dịch với Tống có lợi nhiều cho nước ta về nhu cầu của dân cũng như về quốc dụng, vả đó cũng tiện cho việc do thám tình hình nước Tống. Sau này quan Tống cấm ta sang buôn bán, vì đó ít nhiều mà đã có cuộc Lý Tống chiến tranh.

Còn ở nước ta, ngoài những trạm biên thùy thì có một trường bạc-dịch lớn lập ở Vân-đồn. Đảo Vân-đồn ở trong nhóm đảo mà bản đồ Đông-dương đề : đảo “ De la Table ” . Phía nam đảo ấy có một đảo nhỏ ngăn thành một lối vào gọi là cửa Vân-đồn. Đời xưa đó là một căn cứ hải quân quan trọng và cũng là một hải cảng duy nhất mở cho thuyền ngoại quốc đến buôn bán.


3. Tu-cống

Từ khi quân Tống bị thất bại bởi tay Lê-Hoàn, nước ta được nhận là phiên quốc. Lại nhờ các vua Tống trước đời Thần-tông khá hiền từ nhu nhược cho nên dẫu trong nước ta có lúc biến mà quân Tống cũng không lợi dụng thời cơ.

Từ lúc Lý lên ngôi, ta cố giữ lễ phiên thần để kết tình hòa hảo. Hơn hết các triều đại khác, đời Lý đã luôn luôn sai phái bộ đi cống. Không quản đường sá khó khăn, nhiều lần ta đem cả đàn voi, tê, đến tận kinh đô Tống, gần Khai-phong, ở sát sông Hoàng-hà. Mỗi lúc ở triều Tống có việc vua thăng hà hay đăng cực, ta có sứ sang điếu hay sang mừng. Mỗi lúc ở triều ta có việc tang hay hỉ, cũng có sứ ta sang Tống báo tin, hay cầu phong. Mỗi lúc được phong, vua ta lại sai sứ sang tạ ơn.


4. Biên-sự buổi đầu

Tuy giữ đạo phiên-thần tu-cống nhưng các vua Lý vẫn gìn giữ cẩn thận bắc thùy. Mỗi lúc các biên-lại Tống dụ thổ dân lấn đất đai, vua Lý liền phản kháng. Khi thì sai quan sang biện bác, khi thì sai tướng sang chống cự, có lúc tướng ta giết quan Tống, đốt đồn trại Tống, mà chung qui Tống cũng phải làm ngơ.


5. Can-thiệp trực-tiếp

Chính sách bắc thùy triều Lý trong 40 năm bắt đầu có kết quả. Tuy Tống vẫn coi châu Quảng-nguyên như thuộc châu Ung của mình nhưng thật đã hoàn toàn theo vua Lý.

Viên coi Ung-châu là Tiêu Chú cũng phải tâu về triều rằng : “ Giao-chỉ tuy có triều cống, thật ra vẫn ngầm ngấm họa tâm, thường dùng cách tâm-thực mà lấn vương thổ. Ví dụ về đời Thiên-thành ( 1023 - 1031 ) , quan ta là Trịnh Thiên-Ích có trách Giao-chỉ tự tiện thu thuế ở động Vân-hà ( vậy khi ấy Vân-hà thuộc Tống, có lẽ ở vùng Lạng-sơn, hoặc sau đổi ra Vân-mịch, tức phố Van-mit trên địa đồ Đông-dương ) ; thế mà nay động Vân-hà đã ở sâu vào đất Giao-chỉ vài trăm dặm. Ấy thật vì năm này qua năm khác nó lấn dần cho đến ngày nay ..... ”

Tiêu Chú là một viên biên-quan đời Tống, am hiểu tình hình nước ta vào bực nhất. Chú là một nhà nho học có tiếng, xuất thân tiến sĩ, mà lại rất thích việc binh. Coi huyện Phiên-ngu ( Quảng-châu ngày nay ) lúc Trí-Cao tới đánh. Trong lúc các quan to đều hoang mang sơ hãi, Chú đã lập kế hoạch du kích quân Nùng. Chú lại vào các man động kết thúc dân chúng. Sau khi Trí-Cao thua chạy về đạo Đặc-ma, Chú đã thân hành đem quân đến nơi do thám và bắt được mẹ và con Trí-Cao. Chú lại sai người vào tận nước Đại-lý tìm Trí-Cao nữa. Đối với Giao-chỉ, không những Chú muốn thu phục lại Quảng-nguyên mà còn tham vọng đánh lấy đất Lý nữa. Nối lời tâu trên, Chú nói : “ Tôi nay đã rõ chỗ quan yếu, thấu chỗ lợi hại. Nếu không đánh bây giờ mà lấy Giao-chỉ đi thì sau sẽ có điều lo cho Trung-quốc ” . 

Lời tâu ấy thật là xác đáng và tiên tri. Từ năm Trí-Cao bị thua ( 1053 ) , Tiêu Chú được coi Ung-châu tức là chỗ cuống họng vào đất nước ta. Một mặt, Chú xin về triều để bày tỏ phương lược, một mặt ngầm thi hành ý định, lấy lợi nhử dân Quảng-nguyên, bảo ngầm chúng soạn binh giáp, trữ lương tiền, tuyển lính mán, dạy cỡi ngựa bắn cung ; dung nạp dư đảng của Nùng Trí-Cao và chiêu tập các du sĩ. Nhưng những quan trên Chú như Lý Sư-Trung, Tiêu Cố coi giữ Quảng-tây, cho Chú hay sinh chuyện nên thường gạt bỏ lời trình của Chú. Với chính sách mưu chiến của Tiêu Chú, sự xích mích giữa Tống và Lý ngày càng nhiều, những biên sự ngày trước chỉ vì biên lại gây nên sắp trở thành việc xung đột lớn giữa hai nước .


6. Việc động Tư-lẫm

Lý Thánh-tông biết rõ ý định của Chú nên đã phản ứng lại một cách mạnh bạo hơn. Nhiều việc bất hòa xẩy ra ở vùng biên thùy có tính cách quyết liệt hơn trước. Năm 1057, sứ ta là Mai Nguyên-Thanh đem hai “ kỳ lân ” qua Quảng-châu, định cống vua Tống. Nói đến kỳ lân, đời xưa ở Á-đông là một việc rất quan hệ. Người Trung-quốc tin rằng chỉ khi có thánh nhân ra đời và gặp vận thì kỳ lân mới hiện. Đến như Khổng-tử ra đời không gặp vận, kỳ lân có hiện cũng chỉ là kỳ lân què ! Vì lẽ ấy các quan Tống cãi nhau sôi nổi về việc kỳ lân của Giao-chỉ cống. Ta đoán đó là con tê giác. Nhưng triều đình Tống bàn cãi nhau mãi. Vua Tống bèn gọi vật ấy là “ thú lạ ” và để lại Quảng-châu.

Chắc rằng việc Tống từ khước “ kỳ lân ” này không làm cho vua Lý hài lòng. Vả Tiêu Chú đem quân đi tuần các khê động gần biên giới ta có ý đe dọa. Vua Tống phải hạ chiếu răn cấm. Lý Sư-Trung làm đề điểm hình ngục Quảng-tây cũng lo toan chỉnh đốn hành chính, binh lương và giao thông ở miền Ung-châu. Sư-Trung nói : “ Vùng Lĩnh-nam không tiện phái lính thú đến đó. Xin mộ thổ đinh, nhà nào bốn năm đinh thì chọn một thay phiên nhau, tới lúc ngoài mùa làm ruộng thì họp lại tập tành ” . Trong vùng Quảng-tây mộ được hơn bốn vạn người. Sư-Trung lại cho thông thương buôn bán, lập lại các chợ Ung-châu, đào sâu kênh Linh-cừ nối Hồ-nam với Quảng-tây.

Được những tin ấy, tháng hai năm sau vua Lý Thánh-tông sai quân đóng miền đông bắc, từ châu Vĩnh-an vào địa phận Khâm-châu và từ châu Tô-mậu vào trại Cổ-vạn . Sử ta chỉ nói qua rằng : “ Ta diễu quân rồi rút về. Làm thế vì người Tống tráo trở ” . Các sách Tống chép rõ quân ta đánh Cổ-vạn, giết viên quản-câu Lý Duy-Tân và đánh động Tư-lẫm ở phía tây thành Khâm-châu. 

Tiêu Chú trình : “ Giao-chỉ cướp các động Tư-lẫm, Cổ-vạn, Chiêm-lãng, bắt dân và gia súc mười bảy thôn nhiều không kể xiết. Tôi muốn hạ lệnh cho Quảng-châu giữ sứ giả Giao-chỉ không cho nó đem tiến thú lạ, đợi đòi chúng trả người và vật bị cướp đã. Nếu chúng không nghe, tôi lập tức đưa quân đánh sâu vào đất chúng ” . Vua Tống sai Tiêu Cố, Tống Hàm và Lý Sư-Trung là ba quan coi lộ Quảng-tây cùng Tiêu Chú xét việc mà xử trí . Tháng 9 năm ấy Sư-Trung tâu : “ Viên coi Ung-châu là Tiêu Chú muốn đánh Giao-chỉ. Sợ người nước ấy nghe mà không yên. Xin cấm Chú không được sinh biên sự ” . Vua Tống nghe lời tâu nên chuyện ta đánh Tư-lẫm không thành chuyện to.


7. Việc châu Tây-bình. Thân Thiệu-Thái

Trong lúc ấy lại xẩy ra một việc khác ở châu Tây-bình giáp Lạng-châu. Nguyên có dân ta chạy trốn đến đó. Viên coi quân ở đó là Vi Huệ-Chính dấu đi. Vua Lý Thánh-tông sai quân vào đòi lại. Quân ta do châu mục Lạng-châu phò mã Thân Thiệu-Thái dẫn từ động Giáp kéo vào huyện Như-ngao thuộc châu Tây-bình. Vua Tống hạ lệnh cho Ung-châu đem quân dẹp. Viên đô giám tuần kiểm Tống Sĩ-Nghiêu đem quân cự lại. Quân ta rút lui. Sĩ-Nghiêu đem quân vượt biên giới động Giáp, bị quân ta đánh, giết và bắt được nhiều tên. Việc này xẩy ra năm 1059, có lẽ đồng thời với việc Tư-lẫm nói trên. Sang năm sau, Thân Thiệu-Thái lại kéo quân vào đánh, giết Tống Sĩ-Nghiêu và vài tướng nhỏ là Lý Đức-Dụng, Tả Minh, Hà Nhuận, Trần Bật . Việc tâu về triều, vua Tống hạ chiếu sai Tiêu Cố đem quân tới Ung-châu, hợp cùng Tống Hàm, Lý Sư-Trung ngăn đánh.

Quân Thiệu-Thái đã qua châu Tây-bình đánh vào trại Vĩnh-bình làm chấn động cả Ung-châu ( theo lời Dư Tĩnh ) . Ti chuyển vận Quảng-tây xin đem các quân lộ Kinh-Hồ-bắc, chừng 3000 tên, giỏi nghề thương và mộc, đến đánh. Vua Tống lại bảo phải kiểm điểm quân mà thay kẻ già yếu, ý chừng muốn đánh to. Quân ta vẫn tiến, bắt chỉ huy sứ Dương Lữ-Tài , dân đinh và gia súc nhiều vô kể. Viên coi Quế-châu là Tiêu Cố và viên coi Ung-châu là Tiêu Chú đều bị cách chức vì đình thần kết tội “ đã không xét công việc các biên lại, để chúng gây sự làm hại cho quan quân ” . Tháng chạp năm ấy ( 1060 ) quân Lý cũng chưa lui. Lại thêm quân vùng châu Tô-mậu cũng kéo vào Ung-châu họp cùng quân động Giáp. Tống liền sai viên lại bộ thị lang Dư Tĩnh làm an phủ-sứ xuống họp cùng Lý Sư-Trung mà bàn việc đánh dẹp.

Dư Tĩnh muốn xui Chiêm-thành họp sức rồi đem quân Quảng-nam-tây-lộ tấn công nhưng có lẽ chưa thi hành được. Sử ta chép : Dư Tĩnh đánh không được bèn dùng phép ôn hoà mà điều đình. Một mặt, Lý Sư-Trung tâu về triều kể tội Tiêu Chú đã hà hiếp man dân, bắt dân tìm vàng riêng cho mình để đến nỗi mất lòng dân. Một mặt, Dư Tĩnh nhận lỗi rằng bởi các viên coi biên trại tham công sinh sự và hẹn với quan ta họp nhau để thương nghị. Trong Tống-sử nói Dư Tĩnh đến nơi, gọi viên dụng sự Giao-chỉ là Phi Gia-Hữu mà trách hỏi. Nhưng theo lời Dư Tĩnh tâu vua Tống thì chính Tĩnh đã dùng chước bàn hoà trước . 

Vua Lý Thánh-tông sai Phi Gia-Hữu tới thương nghị. Tĩnh yêu cầu trả lại Dương Lữ-Tài và dân đinh mà Thân Thiệu-Thái đã bắt. Gia-Hữu cũng bàn hòa và trả lời : “ Việc này xẩy ra là vì dân gần biên giới cướp nhau rồi vô ý phạm đến quan quân. Tôi sẽ đòi chúng để tra hỏi và sẽ trừng trị. Còn những kẻ chúng bắt , tôi sẽ trả lại ” . Được lời, Tĩnh rất mừng bèn hậu tạ Gia-Hữu. Sử ta nói Dư Tĩnh hối lộ Gia-Hữu rất nhiều để xin lại tướng Lữ-Tài. Cuối cùng vua Lý không bằng lòng trả nhưng cũng bắt năm người giải tới biên giới Khâm-châu mà chém.


8. Việc động Lôi-hỏa. Nùng Tông-Đán

Sau khi Nùng Trí-Cao bị bại trận. Họ Nùng còn có bọn Nùng Tôn-Đán là kiệt hiệu hơn cả. Tông - Đán coi vùng động Lôi-hỏa về phía tây bắc Cao-bằng ngày nay , Tông-Đán tụ họp con là Nhật-Tân và dư đảng của Nùng Trí-Cao, căn cứ vào chỗ hiểm mà chống với quân Tống. Đối với vua Lý, Tông-Đán vẫn được coi như là phiên thần nối dòng Trí-Cao.

Trong đời Lý Thánh-tông, năm 1057, Tông-Đán đem quân vào đánh đất Tống thuộc Ung-châu. Tiêu Chú, coi Ung-châu, muốn đưa quân động-đinh đánh. Nhưng quan trên là Tiêu Cố coi Quế-châu không ưng và muốn chiêu hàng. Viên chuyển-vận-sứ Quảng-tây là Vương Hãn cũng bàn rằng : “ Tông-Đán giữ vùng núi rậm, nếu nó đặt phục binh đón quân ta thì quân ta chưa chắc đã thắng nổi. Đánh sẽ chỉ làm tăng biên hoạn mà thôi ”. Hãn bèn một mình đem quân tới gần động Lôi-hỏa, sai người triệu con Tông-Đán là Nhật-Tân mà khuyên rằng : “ Cha mày, trong thì bị Giao-chỉ thù, ngoài thì bị các quan biên thần ít thưởng. Mày về bảo cha mày nên chọn đường có lợi mà đi ” . Tông-Đán được ban chức trung-vũ tướng-quân, Nhật-Tân chức tam-ban tá-chức và được coi châu Ôn-nhuận . Tuy sách Thần-tông Thực-lục cho công chiêu dụ Tông-Đán là của Vương Hãn nhưng Tống-sử và mộ-chí Tiêu Cố ( do Vương An-Thạch viết ) thì nói đó là công của Tiêu Cố.

Tuy vậy Tông-Đán vẫn không theo Tống. Cho nên năm 1060, lúc quân ta do Thân Thiệu-Thái lĩnh kéo vào châu Tây-bình đánh quân Tống, Vương Hãn bấy giờ coi Đàm-châu lại khuyên nên dè Nùng Tông-Đán và chiêu dụ nó. Năm 1062 , Tông-Đán và con đem các động thuộc mình là Lôi-hỏa và Kế-thành nộp cho Tống và xin tới ở Lạc-châu. Tống nhận đất, cho Tông-Đán coi châu Thuận-an ( là vùng Lôi-hỏa, Kế-thành mới được đổi ra tên ấy ) và bổ Nhật-Tân coi việc thuế ở Ung-châu. Như vậy cha con Tông-Đán vẫn giữ đất cũ là đất mà ta vẫn coi thuộc ta cho nên chúng không lấy làm yên tâm vì sợ vua Lý Thánh-tông đánh. Vả chăng động Lôi-hỏa bên cạnh Quảng-nguyên bấy giờ do Lưu Kỷ quản. Lưu Kỷ cũng là một tướng kiệt-hiệt lại làm chức quan sát cho vua Lý. Tông-Đán lại càng lo.

Sự phản bội của Nùng Tông-Đán lần này làm Lý mất một vùng đất khá lớn ở tây bắc châu Quảng-nguyên. Những động hay châu ấy có thể tóm tắt như sau : động Lôi-hỏa ( hay Hỏa ) , động Kế-thành, châu Ôn-nhuận. Có lẽ các đất này thành châu Thuận-an. Vua Lý Thánh-tông sai sứ sang đòi đất và dân. Sứ giả là Lê Thuận-Tông, nguyên châu mục Phong-châu, được kén phò mã đời Lý Thái-tông, lấy công chúa Kim-Thành. Sứ tới Quế-châu gặp Lục Sằn tỏ thái độ quả quyết, đòi Sằn trả Tông-Đán và các động.

Lục Sằn cũng là một viên xuất thân tiến sĩ như Tiêu Chú và cũng am hiểu việc biên giới giữa Tống và ta. Trước đó Sằn coi Quí-châu, đã tình nguyện xin tới Quế, vì nhận thấy Ung chỉ cách Quế có 18 trạm mà vũ bị ở đó không sẵn sàng. Vua Tống bằng lòng. Tống-sử chép nối : “ Từ khi giặc Nùng yên, người Giao-chỉ càng kiêu căng, các thú thần thường chịu nhịn cho qua. Sằn tới Ung, họp động trưởng ở bốn mươi lăm động thuộc Tả và Hữu-giang, biên tên được năm vạn thổ đinh, đặt các tướng lại, cấp cho ấn. Thanh thế Tống nổi lại trong vùng khê-động. Sứ Giao là Lê Thuận-Tông tới, kiêu ngạo như cũ. Sằn nhún nhường mời tới, giảng dụ phải kính lẽ phải, làm sứ phải sợ mà trở về ” .

Sự thật thì Sằn tâu về triều việc sứ ta tới. Vua Tống Anh-tông mới lên ngôi, hỏi ý kiến các đình thần. Tể tướng Hàn Kỳ bàn rằng : “ Xứ Giao-châu rừng núi hiểm trở, khí hậu ẩm độc. Nếu có lấy cũng không giữ được, chỉ nên vỗ về chúng mà thôi ” . Vua Tống Anh-tông bèn trả hai châu ( Lôi-hỏa và Ôn-nhuận ? ) lại cho vua Lý. Nhưng cha con Tông-Đán vẫn theo Tống. Mười lăm năm sau ( 1073 ) , viên chuyển-vận-sứ Quảng-tây là Ôn Cảo xin gia hàm cho chúng. Tống Thần-tông ban cho hàm cung-bị-khố phó-sứ. Tông-Đán được làm đô-giám Quế-châu. 

Về đại thể Tống Lý vẫn giao hiếu cùng nhau. Lý vẫn cống hiến, Tống vẫn gia phong. Sứ Lý sang mừng Anh-tông lên ngôi ( 1064 ) . Anh-tông sai sứ đem các di vật của Tống Nhân-tông sang tặng vua Lý và gia phong chức đồng-trung-thư môn-hạ bình-chương-sự . Trong mười năm liền không hề xẩy ra biên sự.


9. Kết luận

Ở triều Tống, trong đời Chân-tông, Nhân-tông, và Anh-tông, có nhiều người chủ việc đánh ta. Nhưng bấy giờ vua Tống thích hòa bình, các đại thần đều là người nho học, không ham gây họa chiến tranh. Vả việc bắc thùy Tống cũng đã khó khăn lắm. Cho nên với việc quân Tống bị nhục bởi tay Thân Thiệu-Thái mà Tống cũng không gây sự, và đến việc Nùng Tông-Đán, Tống cũng không làm già. Sau đó ta lấn dần đất Tống. Năm 1074 , Thẩm Khỉ tâu rằng năm trước ta đã chiếm mất châu Thất-nguyên. 

Tuy nhiên phái chủ chiến vẫn không thôi. Năm 1064, khi sứ ta tới kinh đô Tống, có nội thị là Lý Kế-Hòa đe dọa sứ ta rằng : “ Lúc Thân Thiệu-Thái vào cướp Quảng-nam Tây-lộ, ta đã nhiều lần xin đánh xứ ngươi. Nhưng triều đình cho rằng Thiệu-Thái là đứa ngông cuồng, vả nước ngươi đã sai sứ tạ tội cho nên triều đình chưa cất quân mà thôi ” . 

Những người chủ chiến ấy sắp có cơ hội sau này , chính là sau lúc Tống Thần-tông lên ngôi ( 1067 ) và Vương An-Thạch được chấp chính ( 1069 ) .


CHƯƠNG VI : VƯƠNG AN-THẠCH VỚI ĐẠI-VIỆT

1. Chính-sách tân-pháp

Tống là một nước từ địa vị nhỏ ở trung tâm nước Trung-hoa đã trở nên một đế quốc bằng cách dùng vũ lực thôn tính các nước bày-vai. Cuộc bành trướng bắt đầu từ năm 963 hướng về phương nam và tây, đánh lấy Kinh-nam ( vùng Hồ-nam ) , Vũ-bình, Hậu-thục ( Tứ-xuyên ) , Nam-hán ( Quảng-đông ) ; dụ hàng Nam-Đường ( Giang-tây ) , Ngô, Việt ( Chiết-giang ) và Mân ( Phúc-kiến ) . Còn về mặt bắc, Tống gặp nhiều khó khăn vì ở kề Vạn-lý trường thành có nước Liêu và Hạ rất mạnh không muốn để Tống lấn lên cạnh nước mình, cho nên Tống Thái-tổ đã thất bại trong việc đánh Bắc-Hán ( vùng Hà-bắc ). Phải đợi đến khi Thái-tông lên ngôi, nước này mới bị nhập vào đất Tống ( 979 ) .

Nước Tống gồm địa giới Trung-quốc bây giờ trừ vùng Bắc-bình, Sơn-tây, Cam-túc, Tây-cương, Quí-châu, tây phần Quảng-tây và Vân-nam. Thấy tiến về nam dễ, Thái-tông đã quyết đánh ta và đã bị thất bại hoàn toàn vào năm 981 vì tay Lê Hoàn. Từ đó về sau tâm trí vua Tống phải luôn luôn quay về hai nước Liêu, Hạ ở miền bắc. Trong khoảng gần trăm năm nước ta được khỏi họa xâm lăng. Năm 1068, một vua trẻ lên ngôi nhà Tống ấy là Tống Thần-tông. Thấy các triều trước là Chân-tông, Nhân-tông, Anh-tông nhu nhược, chỉ bo bo giữ chốn kinh kỳ yên ổn chứ không quản gì đến quốc nhục ở các biên thùy, còn trong triều các nho thần chỉ chăm về từ chương và chỉ bàn suông về đạo đức, lấy sự dân yên làm quí cho nên Thần-tông có chí quật cường.

Bấy giờ có một nho thần tên là Vương An-Thạch cao tài kinh tế. Tuy chức còn nhỏ nhưng Thần-tông gọi về gần kinh để hỏi ý kiến rồi cất lên làm tể tướng ( 1069 ) . An-Thạch lập kế hoạch làm dân bớt bị quấy và thêm giàu ; làm quốc quỹ dồi dào, làm binh lực nước mạnh. Các phương sách y đề cử và ban ra để thi hành đối với đương thời đều có tính cách đại-cách-mạng cho nên bấy giờ gọi là tân-pháp.

Làm tiện và lợi cho dân thì có phép mộ-dịch, quân-thâu, nông-điền, thủy-lợi. Mộ-dịch là bỏ lệ bắt làm xâu mà tùy theo nghèo giàu nạp tiền để thuê người làm thay. Quân-thâu là trong việc thuế-cống có thể lấy chỗ gần thay chỗ xa, lấy cái đắt thay cái rẻ để thâu cho đều. Nông-điền, thủy-lợi là phép mở mang ruộng cày, lấy nước vào ruộng. Phép mộ-dịch, cũng chép là miễn-dịch, hay trợ-dịch.

Làm lợi cho dân và cho công quỹ thì có các phép : thanh-miêu, thị-dịch, phương-quân-điền. Thanh-miêu là lúc còn xanh, nhà nước cho dân vay tiền trước ; đến lúc gặt phải trả vốn và lời 2 hoặc 3 phân ( phần mười ). Thị-dịch là lập công vụ mua hàng khi rẻ rồi phát cho các nhà buôn, bán lấy lãi, hoặc để cho dân gian lúc cần tiền có thể tới cầm-cố đồ vật với một lợi tức phải chăng. Phương-quân-điền, hay phương-điền là đạc-điền theo từng khoảnh vuông để định thuế-lệ.

Làm mạnh cho nước thì có phép bảo-giáp và bảo-mã. Bảo-giáp là bỏ bớt cấm binh, tức là lính mộ phải trả tiền tốn, mà dùng dân-binh. Họp mười nhà thành một bảo, có bảo-trưởng coi, mười đại-bảo thành một đô-bảo có đô-bảo-trưởng coi. Nhà nào hai đinh thì bắt một để vào bảo. Không cấm khí giới như trước, trái lại sai các bảo tập vũ-nghệ. Phép bảo-mã là phát ngựa cho các bảo và tư gia tình nguyện nuôi hoặc nhận cấp tiền để tự mua lấy. Mỗi nhà được một hay hai con. Hàng năm có quan khám nghiệm. Lúc hữu sự thì bảo-đinh phải ra lính và các ngựa phải nộp quan.

Đại để các phép ấy rất tài tình và cũng gần như các phép mà ngày nay cả thế giới dùng, bấy giờ thì rất mới. Tuy bị phái cũ bài xích nhưng các phép đều được thi hành và chẳng bao lâu có ảnh hưởng rất khả quan.


2. Phòng-thủ nam-thùy

Quảng-nam là vùng ở cực nam nước Tống gồm hai lộ : Quảng-nam-tây-lộ và Quảng-nam-đông-lộ, gọi tắt là Quảng-tây và Quảng-đông. Quảng-tây bấy giờ ra tận bờ biển : Liêm-châu và Khâm-châu đều thuộc Quảng-tây, nước Đại-Việt đời Lý hoàn toàn tiếp đất Quảng-tây. Từ khi Nùng Trí-Cao phá Quảng-nam, quân Tống đặt ra lệ cứ năm đinh bắt một, để làm thổ đinh, và cứ hai đinh bắt một để làm bảo-đinh. Đến đời Hi-ninh thứ 6 ( 1073 ) , Vương An-Thạch tổ chức lại, muốn theo lệ quân nghĩa-dũng ở Hà-bắc, đặt cấm binh giao cho viên kinh-lược hoàn toàn điều phát và chỉ dành bảo đinh cho các châu huyện trông coi. 


3. Chính-sách kiềm-chế

Lúc Thần-tông mới lên ngôi và lúc Vương An-Thạch mới chấp chính, ý tưởng đối với ta thế nào ? Lúc quốc-dụng được dồi dào, binh lực khá mạnh, vua Tống Thần-tống bèn nghĩ đến việc biên cương. Ở phía bắc, hai nước Liêu, Hạ vẫn mạnh và thường thường uy hiếp biên giới, quân và tướng giỏi phần lớn đóng ở bắc thùy. Tháng 11 năm 1068 , Vương Thiều hiến kế đánh nước Thổ-phồn ở phía tây nước Hạ để cắt “ cánh tay phải của nước này ” , Vương An-Thạch khen là kỳ mưu, vua cũng bằng lòng, cho nên việc binh bắt đầu phát ở đó. Tuy lấy được Hi-hà và Thần-tông khen An-Thạch nhưng sau này cũng là mối lo cho Tống, dai dẳng đến năm 1073.

An-Thạch làm nội chính cách-mạng nên bị lắm kẻ thù oán, nhất là các lão thần. Cho nên kẻ đương thời cũng như các sử gia đời sau đều qui các tội thất bại nội chính cũng như ngoại giao cho An-Thạch, vì thế xét đoán cho đích xác trách nhiệm vua Tống Thần-tông và Vương An-Thạch trong việc đánh nhau với nước ta là không phải dễ. Điều chắc chắn là cả hai đều để ý đến các man dân miền khê động châu Ung và trong trí người Trung-quốc ở trung nguyên thì dân ta cũng chỉ là một man dân mạnh mà thôi. Cả hai đều nghĩ sớm chầy gì cũng sẽ mở mang bờ cõi miền Nam vì “ nếu thắng, thế Tống sẽ tăng, các nước Liêu, Hạ sẽ phải kiêng nể ” . Nhưng trong khi bàn bạc về thời cơ thuận tiện thì có chỗ dị đồng : lúc vua muốn gây sự thì An-Thạch lại can, lúc An-Thạch muốn khởi binh thì vua lại dè dặt. Trong lúc ấy các biên thần đều lo liệu sự kết thúc các man dân và tăng binh lực.

Cuối năm 1070 , tình thế giữa Tống với Lý coi chừng đã quá găng. Viên chuyển-vận-sứ Quảng-tây là Đỗ Kỷ dâng sớ nói rất rõ ràng về nội tình nước ta, kể rõ núi sông, đường sá, binh dân. Vua đưa cho Vương An-Thạch xem và định giao cho viện khu mật giữ làm tài liệu. An-Thạch hiểu ý Thần-tông muốn đánh Giao-chỉ liền can. An-Thạch nói : “ ..... Vua đã ngỏ ý từ trước là phải làm nước giàu, dân yên. Đó là phúc cho dân. Còn việc ngoài vạn dặm trước đã bàn rằng không thể không xét tới như đã xét đến việc bọn Ôn Cảo lấy làm lo cho các châu Khâm, Liêm. Nhưng đến như sai biên thần đi dỗ Giao-chỉ thì không nên. Làm như vậy trước là sẽ trái với lời dặn của Bệ-hạ từ trước, sau lại làm Giao-chỉ sinh nghi ” .

Chữ dỗ mà An-Thạch dùng đây nghĩa là đem binh tới ép, rồi An-Thạch dẫn tích nhà Tần dỗ Nghĩa-Cừ mà thành ra Nghĩa-Cừ biết mà làm phản. Y nói tiếp : “ Tôi sợ nếu dùng kế Ôn Cảo thì chẳng may Giao-chỉ biết ra sẽ dự bị trước, rồi có sự khó khăn ở biên ” . An-Thạch khuyên Thần-tông theo vua Anh-tông, lấy trí, dũng, nhân, nghĩa mà trị dân thì không cần đánh cũng phục được. Đọc qua lời tâu dài này ta thấy An-Thạch còn bị các triều thần khác bài xích. An-Thạch sợ thất bại trong việc mở biên cương nên can vua : “ Như vậy, việc chưa bắt đầu mà kẻ trí giả đã biết trước sẽ không thành ” , y nhân đó ám chỉ những triều thần khác. Trong kết luận có câu : “ Sự đáng lo trong nước không phải ở biên thùy mà ở triều đình ; không ở triều đình mà ở lòng vua ..... ”


4. Chính-sách hòa-hoãn. Tiêu Chú

Tuy vậy, kẻ hiến kế đánh ta vẫn dâng thư về triều. Có kẻ nói rằng :”Giao-chỉ bị thua ở Chiêm-thành ( muốn nói việc năm 1069 ) , quân không còn nổi một vạn. Có thể tính ngày đánh lấy được ” . Vả chăng từ khi bị truất chức coi Ung-châu vì đã khiêu khích nước ta, Tiêu Chú vẫn muốn lăm le phục chức. Theo lời Ngụy Thái, lúc Thần-tông lên ngôi và Vương An-Thạch chấp chính, Chú đoán rằng triều đình vừa có ý mở biên cương bèn đánh tiếng rằng : “ Trước đây tôi đã ở Ung-châu lâu, biết rằng Giao-chỉ có thể lấy được ” . Triều đình lật đật gọi Chú cho phục chức và bổ coi Quế-châu, lại sai kiêm các chức kinh-lược, an-phủ-sứ Quảng-tây .

Thật ra tháng giêng năm 1071, Tiêu Chú có chỉ bổ coi việc quân mã ở vùng Hà-đông là vùng còn đánh nhau với Hạ. Chú không muốn đi, nói : “ Tôi vốn là thư sinh thạo nghề phủ dụ, kém nghề chiến đấu, sợ không cáng đáng nổi việc ở đó ” . Lại nhân có kẻ nói Giao-chỉ có thể lấy được, vua Tống sai Chú coi Quế-châu. Xem đó ta thấy rằng triều đình Tống càng ngày càng quan tâm đến nước ta. Vùng nam Ngũ-lĩnh có tiếng là khí nóng, nước độc. Các quan lại bị chết nhiều và ít kẻ bằng lòng nhậm chức ở đó, viện khu mật tâu xin hậu đãi những người đi Quảng-nam, “ như thế thì người ta mới vui đi và chốn xa không thiếu chính quan ” . 

Lúc Chú tới Quế-châu, các tù trưởng xa gần từ đạo Đặc-ma tới châu Điền-đống đều kéo nhau tới yết kiến. Chú đều mời mọc ân cần, hỏi han hình thế sông núi, tình trạng nhân dân mà Chú đã từng quen biết mười năm trước. Ai nấy đều bằng lòng, “ cho nên Lý Càn-Đức ( Nhân-tông ) động tĩnh thế nào, Chú đều biết rõ ” . Chú thấy trong khoảng mười năm nước ta đã giàu mạnh lên nhiều, ta đã đại thắng Chiêm-thành và mở mang bờ cõi nam bắc. Chú là một người rất thức thời nên đã hiểu rằng phải kiêng dè kính nể nước ta và sợ ta đánh lại. Cho nên “ khi có kẻ hiến kế đánh Giao-châu, Chú đốt thư đi ” . 

Trong lúc ấy quân ta cũng không ở yên. Lưu Kỷ ở Quảng-nguyên đem hơn 200 quân thổ đinh dẫn quân Lý vào châu Qui-hóa, tức là đất Nùng Tông-Đán và con mới nộp Tống. Ti kinh-lược Quảng-tây tâu về triều. Tống Thần-tông phê rằng : “ Gần đây đã nhiều lần thám báo rằng giặc Quảng-nguyên tụ tập, cuối cùng tin không đúng khiến dân khê động ở không yên. Sợ tin đó là giặc giảo-hoạt cố ý hư truyền ra để làm náo động nhân tình rồi nhân đó hiếp bức dân chúng theo nó. Đó là việc mà bọn Hoàng Trọng-Khanh, Lư Báo đã làm, nếu để lâu không xử trí thì sự lý không tiện. Vậy kíp sai Tiêu Chú tới đó mà xử trí, chớ để thành chuyện to lớn ” .

Thánh 5 năm sau, Tiêu Chú xin ước-thúc dân các khê động và nói : “ Mỗi khi nghe báo có giặc qua địa hạt mình mà các tri châu không lập tức tới đánh bắt thì xin đem quân pháp trị tội ” . Ý Tiêu Chú là cốt bắt buộc các quan địa phương canh phòng cẩn mật , nhưng vua Tống nói với các phụ thần rằng : “ Khi báo có giặc chưa biết thật hay không, lại không biết giặc nhiều hay ít. Nếu thế lực các châu không đủ thì đánh bắt làm sao được mà lấy quân pháp trị tội người ta. Nên sai ti kinh-lược xét kỹ và giảm tội ” . Tiêu Chú ở Quế-châu hai năm, lăng nhăng không được việc gì. 


5. Chính-sách khiêu-khích. Thẩm Khỉ

Sự thật là Tiêu Chú hiểu rõ thế lực nước ta bấy giờ rất thịnh nên mới chù chừ không muốn mưu sự đánh ta. Triều đình Tống cũng chưa dám quyết . Nhưng sang năm 1072 tình thế biến chuyển. Tháng giêng, vua Lý Thánh-tông mất, vua Nhân-tông còn bé. Thái hậu Thượng-dương và thái phi Ỷ-lan tranh quyền nhau. Phe Lý Thường-Kiệt và Lý Đạo-Thành hiềm kỵ nhau. Tống Thần-tông và nhất là Vương An-Thạch bắt đầu quyết tâm sửa soạn cuộc nam chinh. Tháng 8 có lệnh chung bãi bỏ các viên câu-đương công-sự ở các ti kinh-lược và an-phủ nhưng trừ tỉnh Quảng-tây : “ Vì Ôn Cảo bấy giờ giữ chức ấy, vả lại vừa có ý đánh Giao-chỉ ” . Lệnh đặt bảo-giáp ở các lộ đã ban ra. 

Tống Thần-tông triệu Tiêu Chú về hỏi tình hình Giao-chỉ và sách-lược chinh phạt. Chú cho việc ấy khó. Vua ngạc nhiên, nhắc lại câu người ta nói : Giao-chỉ bị thua ở Chiêm-thành, quân không còn nổi một vạn, có thể tính ngày lấy được. Chú tâu : “ Xưa, tôi cũng có ý ấy. Bấy giờ quân khê động một người có thể địch mười, khí giới sắc và cứng, người thân tín thì tay chỉ, miệng bảo, là điều khiển được. Nay, hai điều ấy không như trước : binh giáp không sẵn sàng, người tin chết quá nửa. Mà người Giao-chỉ lại sinh-tụ, giáo-hối đã mười lăm năm rồi. Bây giờ nói quân Giao không đầy một vạn thì sợ sai ” . Vua và Vương An-Thạch không bằng lòng. Có viên hình-bộ lang-trung là Thẩm Khỉ nói quả quyết rằng : “ Giao-chỉ là đồ hèn mọn, không lý gì không lấy được ” . Vì thế vua chọn Khỉ thay Chú coi Quế-châu và kiêm chức Quảng-tây kinh-lược-sứ .

Khỉ liền xin : “ Từ nay nếu ở Quảng-tây có biên sự thì sẽ theo lệ Thiểm-tây, để ti kinh-lược được xử trí rồi tâu sau ” . Vua bằng lòng. Khỉ lại sai người ra ngoài biên giới để lo liệu công việc. Ít ngày sau lại giao thêm cho Khỉ công việc lương thảo. Thoạt tiên Khỉ muốn tổ chức tây bắc Quảng-tây để cho yên đường tiếp tế hạt mình nên đặt doanh trại ở các châu Dung, Nghi. Đem quân đánh trại Vương-khẩu binh lính bị chết nhiều, thế mà Khỉ tâu dối về triều rằng các man dân theo mình rồi tự xây thành đắp lũy làm dân vùng Nghi, Dung oán. Dân các động nổi lên chém giết quan quân .

Tháng 4 năm 1073 , Khỉ xin lấy động-đinh trong năm mươi mốt động thuộc Ung-châu để kết thành bảo giáp, sai quan dạy và kiểm tra. Vua Tống không những bằng lòng mà còn cấp tiền cho để thi hành. Khỉ sai người vào các khê động kiểm điểm dân đinh lập thành bảo-ngũ, phát các trận đồ dạy chúng tập. Sau lại bắt các thuyền dọc bờ biển, thường dùng chở muối, để tập thủy chiến. Sợ người nước ta biết những hành động ấy, Khỉ ra lệnh cấm ta không được sang buôn bán ở đất Tống. Quan Tống hết sức dụ dỗ các tù trưởng. 


6. Chính-sách do-dự

Tuy Tống Thần-tông đã quyết ý đánh ta nhưng biên thùy miền bắc còn lôi thôi. Việc đánh Thổ-phồn ( Hi-hà, vùng Cam-túc ) còn dai dẳng, nước Liêu còn đòi nhường đất. Cho nên bề ngoài đối với ta, Tống còn dè dặt. Sau khi Lý Thánh-tông mất, Tống đã sai viên chuyển-vận-sứ Quảng-tây là Khang Vệ sang điếu. Tháng 3 năm 1073 , sứ ta là Lý Hoài-Tố tới cống, vua Tống phong vua Lý Nhân-tông tước Giao-chỉ quận-vương. Khi Khỉ xin nhận Lưu Kỷ hàng, vua Tống hỏi ý Vương An-Thạch : “ Ta nghĩ chưa thể nhận Lưu Kỷ được, nhận Lưu Kỷ chắc rằng Giao-chỉ sẽ giành lại ” . An-Thạch nói : “ Nghe nói Ôn Cảo từ Quảng-tây đã về, xin đợi Cảo đến nơi rồi sẽ thương lượng ” . 

Thẩm Khỉ tới coi Quế-châu được một năm rồi mà trong hạt Quảng-tây xảy ra nhiều vụ lôi thôi. Triều đình Tống sợ Khỉ gây chuyện với ta không đúng cơ hội. Vua Tống và An-Thạch trở nên không thích Khỉ. Nhân bàn chuyện Lưu Kỷ, vua Tống nói : “ Việc Giao-chỉ có thể làm xong nhưng sợ Khỉ không làm nổi ” . An-Thạch trả lời : “ Khỉ tự cho dễ nhưng việc binh rất khó, sợ chưa làm xong ”. Rồi ngày mồng một tháng ba năm Giáp-dần ( 1074 ) lấy Lưu Di thay Thẩm Khỉ, giao cho Lưu Di công việc ước-thúc man dân như đã giao cho Khỉ và sai Di xét việc Khỉ nhận Nùng Thiện-Mỹ nữa. 

Xem vậy đủ rõ rằng chính sách dè dặt của Tống Thần-tông và Vương An-Thạch đối với ta trong năm Quí Sửu ( 1073 ) chỉ bởi thời cơ chưa thuận mà thôi chứ ý định đánh ta đã quyết, vua tôi Tống đều đồng lòng. Sự bãi Khỉ không chứng sự bỏ ý định ấy và theo lời Ngụy Thái “ tuy Khỉ tìm gây trăm mối chiến tranh nhưng không trùng cơ hội. Triều đình nghĩ rằng Khỉ có ý chù chừ cho nên đổi đi coi Đàm-châu ” . Tống Thần-tông và Vương An-Thạch điều Khỉ soạn sửa đánh ta ban đầu đều ưa Khỉ. Khi chọn Khỉ thay Tiêu Chú, có viên khu-mật nói : “ Lúc Khỉ làm chuyển-vận-sứ Thiểm-tây, lính Khánh-châu nổi loạn kéo tới thành Tràng-an, Khỉ đóng cửa thành không dám ra, người ta nghi Khỉ nhát ” . Vua Tống bênh Khỉ, nói : “ Giặc tới dưới thành mà trong thành không có người giữ, sao lại không đóng thành ? Đó không phải là lỗi ”. An-Thạch cũng nói Khỉ không có lỗi đáng kể, và vì Khỉ tính trực nên nhiều người ghét mà thôi. Sau này khi Tống bị thua, đáng lẽ Khỉ bị tội chết. May sẽ có An-Thạch cứu cho .

Tóm lại Thẩm Khỉ được lệnh Tống Thần-tông và Vương An-Thạch dự bị đánh nước ta nhưng Khỉ đã hành động vụng về. Vua và An-Thạch cho là bất lực nên bãi Khỉ ( tháng 3 năm Giáp-dần 1074 ) . Vả ở triều Tống, thế An-Thạch cũng đã bị lung lay gần đỗ. Chính sách cách mạng của An-Thạch tuy được vua thích và đã có hiệu quả hay nhưng vây cánh An-Thạch là tụi còn trẻ, thừa hành có kẻ lạm quyền cho nên các đại thần phe cũ và dân gian rất oán. Bắc thùy nước Tống lại đang lâm vào cảnh khốn đốn. Không những Thổ-phồn quấy nhiễu mà thế lực nước Liêu càng tăng, ép Tống phải nhiều lần nhượng bộ. Bấy giờ Liêu lại sai sứ sang yêu cầu Tống nhượng thêm đất ở vùng Phần-thủy-lĩnh. Vì vậy tuy được vua che chở , An-Thạch cũng tự ý rút lui để cho người đồng đảng cầm quyền. Ấy là vào tháng tư năm Giáp-dần 1074 .


7. Tình-hình nghiêm-trọng. An-Thạch trở lại

Ở nước ta, Lý Thường-Kiệt lên cầm quyền đã được 2 năm. Ông cũng rất lo lắng vì chính sách khiêu khích của Vương An-Thạch. Lại thêm năm Tống Hi-ninh thứ 6 ( 1073 ) có người Tống quê châu Bạch, tên Từ Bá-Tường, viết thư báo tin Tống soạn sửa đánh ta và xui ta nên đánh Tống trước. Thường-Kiệt đã tụ tập nhiều quân ở biên giới và lộ vẻ muốn đánh vào đất Tống. Tháng ba năm ấy ( 1074 ) , vua Tống hạ chiếu rằng : “ Quảng-tây nhiều lần nói tin thám tử báo rằng Giao-chỉ tụ binh muốn phạm vào đất ta, sợ rằng biên thần không biết lường sức chúng mà đưa quân xa thành trại để đánh lại. Vậy nên phải gấp báo cho viên coi Ung-châu là Tô Giàm dặn nếu quân man dám phạm đến Ung-châu thì phải kiềm quân cố thủ, chớ có tham lập công mà khinh địch ” . Lúc ấy Lưu Di đến thay Thẩm Khỉ, triều đình ra lệnh phải chiêu tập phủ dụ cho yên lòng dân, Di xin hoãn thuế cho khê động vì hạn hán và mộ quân cày đồn điền. Ở Biện-kinh, sau mười tháng vắng mặt, Vương An-Thạch lại được triệu về chấp chính. Bấy giờ là tháng hai năm Ất-mão 1075 . Việc bắc thùy rất bối rối . An-Thạch chủ trương nhượng đất cho Liêu, An-Thạch nói : “ Muốn lấy thì phải cho đi đã ” . Tống Thần-tông nghe lời, cắt 700 dặm đất Hà-đông biếu nước Liêu. Bắc thùy tạm yên, vua tôi Tống lại quay về biên thùy Đại-Việt.

Ý Vương An-Thạch vẫn là đánh lấy nước yếu để dọa nước mạnh. Lưu Di được lệnh tăng cường binh lực. Tháng 6 năm ấy ( 1074 ) có chiếu cho Quảng-tây chỉ dụng thổ đinh thay lính thương-thủ : cứ ba đinh bắt một và nếu chỗ nào từ trước chưa có thương thủ, thổ đinh hay châu quân thì đừng đặt thêm. Lưu Di tâu rằng : “ Nay tiếp tin từ xứ man báo về, tôi sợ chúng sắp vào cướp, thủ-ngự ứng-viện sẽ không kịp. Nếu theo lệ mới thì chỉ mộ được bảy phần mười số cũ. Vậy xin theo lệ cũ ”. Rồi Di theo chính sách Thẩm Khỉ, sai các quan lại vào các khê động kiểm điểm thổ dân bắt chúng tập trận. Di đóng chiến hạm, dùng thuyền muối để tập thủy binh y như Khỉ trước. Di cũng cấm người nước ta sang buôn bán để tránh sự thám thính. Những thuế má vùng Tả và Hữu giang thì thu bằng thóc gạo để tích trữ quân lương .

Tô Giàm coi Ung-châu thấy quân ta tụ tập ở biên giới, rất lo, bèn viết thư báo với Di rằng : “ Phải bỏ 3 việc đang làm : tập lính, đóng tàu và cấm chợ, để cho người Giao-chỉ nếu có cất quân thì không còn có danh nghĩa nữa ”. Di không nghe, viết thư hặc Giàm, trách Giàm bàn nhảm và cấm không được nói đến biên sự nữa. Tình thế càng ngày càng găng. Trước đó vài tháng, vào tháng giêng năm Ất-mão ( 1075 ) , Lý Thường-Kiệt xui vua Nhân-Tông gửi biểu tới triều Tống đòi lại tụi Thiện-Mỹ. Vua Tống bảo xét . Không thấy Tống trả lời, ta dâng biểu đòi trả tụi dân ấy. Lưu Di không chịu chuyển biểu. Cuối cùng vua Tống không bằng lòng trả Nùng Thiện-Mỹ , ta cũng đành tạm chịu nhưng chỉ đợi cơ hội phục thù. Ý định chiến tranh bên Tống đã rõ ràng. Quân giữ biên thùy ta cũng sẵn sàng chống lại.

Châu Quảng-nguyên là một yếu địa. Tướng cầm quân ở đó là Lưu Kỷ, Lưu Kỷ nối Nùng Trí-Cao. Sau khi Trí-Cao thất bại, bộ hạ y là tụi Hoàng Trọng-Khanh, Lư Báo về theo Kỷ. Kỷ có lần vào châu Quí-Hóa và Thẩm Khỉ đã có lần muốn dụ y . Kỷ làm quan-sát-viên ở Quảng-nguyên, thường qua các khê động mua ngựa. Có con Nùng Trí-Cao là Trí-Hội ở châu Quí-hóa cản đường. Trí-Hội bấy giờ đã qui phục Tống. Kỷ đem 3.000 quân sang đánh đất châu Ung. Trí-Hội và con là Tiến-An chống lại. Kỷ lui quân về.

Việc này chỉ là một xung đột địa phương giữa hai biên tướng nhưng Tống muốn nhân cơ hội, gây thanh thế ở nam thùy một cách khôn ngoan. Lưu Di được tin Kỷ và Trí-Hội đánh nhau, tâu về triều. Di nói : “ Thật ra Trí-Hội chưa theo ta hẳn. Nên để hai bên đánh nhau như thế, thua được đều có lợi cho triều đình ” . Vua Tống Thần-tông không bằng lòng, trả lời : “ Sao lại nói như thế ? Nếu ta không dung kẻ theo ta thì kẻ theo ta đắc chí. Bày phương kế như vậy là bậy ! ” . An-Thạch cũng đồng ý, nói : “ Quả thực như lời Hoàng-thượng ! Nếu thật Trí-Hội chưa theo hẳn ta như lời Di nói thì nên nhân cơ hội này mà mua chuộc nó. Vả nay Càn-Đức còn bé, nếu Lưu Kỷ đánh được Trí-Hội rồi quay lấy Giao-chỉ thì đó sẽ là cái họa cho ta. Ta nên giúp Trí-Hội để chế lại Lưu Kỷ, làm cho nó không rỗi tay mưu đánh Giao-chỉ. Thế thì mới có lợi cho ta ” .

Theo ý Vương An-Thạch cũng như ý của người Tống đương thời, Lưu Kỷ là một viên tướng độc lập ở Quảng-nguyên, thanh thế không kém gì vua Lý cho nên mới có lý luận trên. Nhưng dựa vào lý luận của An-Thạch thì tại sao Tống không dùng Kỷ đánh Lý Nhân-tông ? Ấy là vì An-Thạch sợ Kỷ lấy được nước ta rồi sẽ trở nên rất mạnh. Vua Tống cho lời An-Thạch là phải, hạ chiếu cấp bổng tiền cho Trí-Hội và ban cho con là Tiến-An chức tây-đầu cung-phụng. Vua Tống lại chiếu cho ti kinh lược Quảng-tây sai sứ thần vào các khê động mộ đinh tráng để làm thanh viện cho Trí-Hội. Vua hẹn rằng hễ ai bắt hay giết được giặc thì theo lệ thưởng cho mười tấm vải . 

Lưu Di càng được nhịp sửa soạn chiến tranh. Chẳng bao lâu nữa, bức thế, Lý Thường-Kiệt phải tấn công trước.



CHƯƠNG VII : LÝ THƯỜNG-KIỆT TẤN-CÔNG TỐNG


1. Dự-bị tấn-công

Những việc xẩy ra đầu năm Ất-mão ( 1075 ) làm cho Lý Thường-Kiệt không còn nghi ngờ ý định của Vương An-Thạch đối với ta. Vả 2 năm trước, có người Tống tên Từ Bá-Tường, quê châu Bạch thuộc Quảng-tây đã cho người thầm thông với vua Lý. Bá-Tường nguyên đậu tiến sĩ nhưng không được bổ làm quan. Y viết thư cho vua Lý ( 1073 ) nói rằng : “ Tiên-thế Đại-vương vốn người đất Mân, tôi nghe nói công khanh ở Giao-chỉ cũng nhiều người đất Mân. Bá-Tường này tài lược không kém người nhưng không được trọng dụng ở Trung-quốc, vậy xin giúp Đại-vương. Bá-Tường nghe rằng hiện nay Trung-quốc muốn cử binh đi diệt Giao-chỉ. Theo binh pháp dạy : Trước khi người có bụng cướp mình thì chi bằng mình đánh trước. Lúc nào quân Đại-vương vào đánh, Bá-Tường này xin làm nội ứng ” . 

Sách cũng chép rằng Lý Thường-Kiệt nghe tin người Tống muốn đem quân xuống rình nước ta để gây việc binh, ông lập tức tâu vua : “ Ngồi im đợi giặc không bằng đem quân ra trước để chặn thế mạnh của giặc ”. Vì lẽ ấy Lý Thường-Kiệt lại quyết tâm tấn công trước để phá tan mưu mô của Tống. Quân Tống vào đánh nước ta có thể đi theo hai đường chính : đường bộ lấy Ung-châu làm cứ điểm và đường thủy lấy các cửa bể Khâm và Liêm làm cứ điểm. Vậy nên Thường-Kiệt nhằm mục đích phá các thành ấy.

Khâm-châu chỉ cách châu Vĩnh-an ta chừng nửa ngày đến một hai ngày. Thủy quân ta tập trung rất dễ dàng ở cửa Đồn-sơn tại vịnh Hạ-long ngày nay rồi len lỏi theo bờ biển sau núi đá mà thình lình vào vịnh Khâm-châu. Ung-châu, nay là Nam-ninh ở trên sông Uất-giang sau chỗ hai dòng Tả-giang và Hữu-giang họp lại. Những đường từ đất ta tới đó có nhiều : từ châu Quảng-nguyên vào thì theo bờ sông Tả mà qua trại Thái-bình, từ châu Tô-mậu vào thì phải vượt núi qua các đất Lộc-châu, Cổ-vạn, Tư-lăng và Thượng-tư , đường chính từ châu Quang-lang vào thì qua các đất Tây-bình, Bằng-tường, Tư-minh và trại Vĩnh-bình. Các đường này đều khá gồ ghề và phải qua những đồn trại Tống. Nếu quân ta lấy được Khâm-châu thì theo đường Khâm-châu thẳng lên Ung-châu là gần hơn cả. Lý Thường-Kiệt tập trung quân hạ du ở Vĩnh-an và quân thượng du ở dọc biên thùy tại các châu Quảng-nguyên, Môn, Quang-lang và Tô-mậu.


2. Binh tướng

Như trên đã nói đời Lý dùng dân quân, khi hữu sự mới gọi dân ra lính. Trong trận đánh Tống chắc rằng cấm binh phần lớn ở nhà vì vua còn nhỏ tuổi, không xuất chinh. Quân tinh nhuệ là quân hạ du, tập trung ở miền đông do Thường-Kiệt điều khiển, còn miền bắc thì đã có thổ quân do thủ lĩnh các châu đốc suất. Các thổ dân đi đường bộ đưa cả vợ con đi theo. Sau trận, Vương An-Thạch gọi kẻ lái buôn từ nước ta về để dò hỏi, người ấy trả lời rằng : “ Khi Giao-chỉ vào cướp, quân có sáu vạn, trong đó nhiều đàn bà trẻ con. Man-dân kéo hết cả nhà theo chỉ để một vài người ốm yếu ở nhà ”. Lời ấy chắc là nói dân các man động mà thôi, còn quan quân đã có qui củ. Vả đi đường thủy chắc không thể đem người nhà đi theo nhiều được.

Hai đạo quân ấy có từ sáu đến mười vạn. Lý Thường-Kiệt lĩnh thủy quân từ Vĩnh-an đánh vào ven bể Quảng-đông. Đó là đại quân. Còn các quân từ biên giới miền tây Quảng-tây kéo vào có Tông Đản quản lĩnh. Tông Đản là ai ? Sử ta không hề nói đến ngoài việc cầm quân đánh thành Ung lần này, Tống-sử và Tống-thư cũng không đâu nói đến. Nhưng các sách khác có chép tên Nùng Tông-Đán người châu Quảng-nguyên. Ta đã thấy Nùng Tông-Đán theo rồi bỏ Tống nhiều lần. Tháng 6 năm Bính-thìn ( 1076 ) , ti An-nam tuyên-phủ tâu rằng : “ Đã sai đô-giám Quế-châu là Nùng Tông-Đán kiểm điểm đinh tráng Hữu-giang để đánh Lưu Kỷ ” . Vua bảo : “ Tuy Tông-Đán đã hiệu-thuận và là kẻ dũng mạnh nhưng các con còn theo Lưu Kỷ. Ta sợ Tông-Đán cũng theo nốt, vậy nên chọn các viên có mưu lược đi theo Tông-Đán ” .

Có lẽ Tông Đản ở sử ta là Nùng Tông-Đán ấy hoặc là một con y. Chữ Nùng dùng đầu tiên có thể chỉ giống người Nùng thôi chứ không hẳn chỉ họ vì hai âm Đán và Đản rất gần, hai tên có thể là một chăng ? Các quân man động ấy đóng từ Quảng-nguyên đến châu Tô-mậu trước các trại Hoành-sơn, Thái-bình, Vĩnh-bình, Cổ-vạn, Thiên-long. Lưu Kỷ cầm quân vùng Quảng-nguyên, có lẽ Tông Đản chỉ là một bộ tướng. Vùng Môn-châu có Hoàng Kim-Mãn, vùng Lạng-châu có phò mã Thân Cảnh-Phúc và vùng Tô-Mậu có Vi Thủ-An cầm quân. Khí giới thì ngoài cung nỏ, trường thương mà hai bên đều dùng thì ta còn có tên tẩm thuốc độc và máy bắn đá. Ta lại dùng nhiều voi để xung phong. Voi có thể do cả đường thủy và đường bộ tiến vào.


3. Khởi-công. Trận Khâm Liêm

Phần Lý Kỷ còn lại chép rất sơ sài về việc hành binh này. Ta không thể biết chi tiết cuộc tấn công của Lý Thường-Kiệt. Tống-sử và các Tống-thư chỉ chép rõ việc người Tống làm, còn việc người ta họa hoằn có một vài chi tiết. Nhờ những lời tâu của biên lại Tống có ghi ngày tháng nên ta có thể căn cứ vào đó mà đoán một cách khá tường tận những hồi biến chuyển của cuộc tấn công do Lý Thường-Kiệt chỉ huy. Như đã nói trên, biên thùy ta giáp địa hạt Ung-châu có hình một góc tư vòng tròn, đường bán kính trung bình dài 150 cây số mà trung tâm là thành Ung. Ba đường chính đi tới Ung là Quảng-nguyên, Quang-lang và Tô-mậu đều xấp xỉ như nhau. Về phía đông, góc tư đường vòng tròn kia tiếp với bờ bể châu Khâm và châu Liêm. Đường từ Khâm đến Ung lại ngắn hơn cả, dài chừng 120 cây số, quân đi mất độ năm ngày đường.

Lý Thường-Kiệt đã mưu tính chiến lược rõ ràng. Thổ binh đóng ngoài vòng biên giới sẽ lần lượt kéo vào chiếm đất Tống và trong lúc đầu quấy rối gần biên thùy mà thôi. Chủ ý là làm cho Tống lầm tưởng rằng quân ta sẽ do các đường bộ kéo vào đánh Ung. Thổ-binh ta sẽ phá những trại Hoành-sơn, Thái-bình, Vĩnh-bình, Cổ-vạn là những đồn che đỡ cho Ung. Trong lúc ấy quân Tống ắt sẽ kéo xuống miền tây và tây-nam để cứu các trại ấy. Mặt đông nam châu Ung sẽ bỏ ngỏ vì từ Ung đến Khâm là hoàn toàn đất Tống. Lúc quân Tống trong hạt Ung-châu đã đổ xô vào phía tây và tây nam, Lý Thường-Kiệt liền đưa đại quân đi đường thủy từ châu Vĩnh-an tới Khâm-châu và Liêm-châu. Đường đi đến Khâm chỉ mất chừng vài ngày. Đại quân đổ bộ ở Khâm rồi tiến thẳng tới Ung. Như vậy đại quân ta chỉ chừng bảy ngày đã từ đất nhà đến thẳng căn-cứ-địa Ung-châu.

Nếu quân Tống bỏ thành Ung để dời xuống cứu các trại biên thùy thì thành Ung có thể mất liền. Nếu Tống để nhiều quân giữ thành Ung thì các thổ binh ta sẽ tiến dễ dàng. Từ mọi bề quân ta cùng kéo tới thành Ung thì thành này sẽ bị vây mấy mặt. Chiến sách ấy đã thấy rõ ràng trong cuộc chuyển binh của ta vào cuối năm Ất-mão ( 1075 ) . Ta đã thấy rằng vào tháng tư nhuận, Lưu Kỷ ở Quảng-nguyên đem 3.000 quân đánh nhau ở châu Qui-hóa làm Tống phải động tâm và phái quân giúp viên coi châu ấy là Nùng Trí-Hội. Nhưng cuộc tấn công thật bắt đầu vào tháng chín. 

Tin từ biên giới về đến Biện-kinh mất một tháng rưỡi cho nên các biến cố ở biên đang dồn dập mà triều đình Tống vẫn tưởng rằng chỉ có những việc cướp nhỏ mà thôi. Vua Tống dặn Lưu Di phải sai các tuần kiểm đề phòng cho nghiêm không được khinh chiến. Khi nghe tin trại Cổ-vạn mất, vua lại bảo Lưu Di kê tên những người có chiến công và giúp đỡ những người có nhà bị cướp và bị đốt. Trong lúc ấy có sao chổi xuất hiện làm cho vua Tống càng lo. Theo sự tin của Á-đông, sao chổi là điềm sắp có binh đao, tật dịch. Theo các nhà chiêm tinh bấy giờ đoán thì sắp có binh đao trên đất Giao-chỉ.

Riêng Vương An-Thạch là một nhà học giả rất có óc thực tế và không tin dị đoan. Sử Tống còn trách An-Thạch để việc sao chổi hiện ra ba ngày mà không tâu vua. Ở nước ta, Thường-Kiệt có tin điềm lành dữ hay không ? Ta không biết. Nhưng theo óc dị đoan đương thời thì sao chổi hiện ra lần này chắc làm cho người nước ta càng tin rằng quân Tống sắp kéo vào đánh nước ta. Trong khi bang giao Tống Lý đang gay go thì sao chổi hiện càng làm tăng lòng lo âu và nghi kị. Có lẽ vì đó mà Lý Thường-Kiệt càng quyết tâm phát quân tấn công vào đất Tống. Bộ binh ở tả-dực được lịnh xuất quân trước, tràn qua Vĩnh-bình để đến Ung-châu. Quân các châu dọc biên giới kéo vào chiếm các trại Vĩnh-bình, quân từ Lạng-châu vào lấy những châu Tây-bình, châu Lộc. Quân Quảng-nguyên và châu Môn chiếm trại Hoành-sơn. Các tướng Tống chống cự rất hăng hái nhưng đều bị bại. Chúa trại Hoành-sơn là Lâm Mậu-Thăng, viên quản-hạt Vĩnh-bình là Tô Tá, viên quản hạt Thái-bình là Ngũ Cử, và viên giám-áp trại Thái-bình là Quách Vĩnh-Nguyên đều tử trận.

Lưu Di chưa biết nguy cơ đã đến còn xin bốn vạn quan tiền để mua lương trữ ở Ung-châu. Bấy giờ biên giới Ung-châu rất bỏ ngỏ. Man dân sẵn oán quân Tống, quân lính ít được tập tành. Lưu Di đương thay lính, bỏ trát binh mà dùng quân thương trượng. Các tướng trễ nải. Quân ta tới đâu như là vào chỗ không người. Trong khi ấy đại quân Lý Thường-Kiệt đã cưỡi thuyền theo bờ bể từ châu Vĩnh-an vào cửa bể Khâm-châu và Liêm-châu. Bộ binh đóng gần biên giới Khâm-châu cũng kéo vào các trại Như-hồng, Như-tích và Để-trạo. Quân Tống bị đánh bất ngờ, không chống cự. Ngày 20 tháng 11, Khâm-châu bị chiếm. Ba ngày sau Liêm-châu cũng bị mất luôn. Những chúa trại chung quanh Khâm-châu đều bị giết : Ngũ Hoàn chúa trại Như-tích và Trương Thủ chúa trại Để-trạo đều chết. 

Viên coi Khâm-châu là Trần Vĩnh-Thái. Trước lúc quân ta tới đã có kẻ nói hở chuyện cho người Tống biết rằng : Giao-chỉ sắp vào đánh úp Khâm-châu, người Khâm mách với Vĩnh-Thái nhưng y không tin. Chiến thuyền Lý thình lình vào bến rất gấp, Vĩnh-Thái vừa bày rượu uống. Có người báo tin quân Lý đã tới nhưng Vĩnh-Thái vẫn không để ý đến. Quân Lý đột nhập vào thành, bắt được Vĩnh-Thái và tất cả bộ hạ không phải giao phong một hợp nào . “ Quân Giao-chỉ nói với Vĩnh-Thái : Chúng ta chỉ lấy của cải thôi chứ không giết chúng mày đâu ! ” . Song khi lấy sạch của thì lại đem giết hết. Sau đó người Khâm-châu tô tượng thờ Vĩnh-Thái ở miếu Thành-hoàng và tôn làm thần Chuyển-trí đại vương nhưng người đời sau vẫn cười chê Vĩnh-Thái là ngu muội. Khi muốn chế nhạo ai là không thông tuệ thì gọi người ấy là Trần Thừa Chỉ ! Thừa Chỉ là hàm của Vĩnh-Thái .

Cùng với Vĩnh-Thái còn có các viên giám-áp Văn Lương, Ngô Phúc, viên tuần-kiểm Tưởng Cẩn, các viên chỉ-sứ Tống Đạo, Đinh Toại, viên giám-thuế Âu Duơng-Dẫn đều bị hại. Ở Liêm-châu quân Tống cũng thua rất nặng, hình như ở đấy các quan Tống đuợc tin Khâm-châu mất nên có phòng bị và chống cự ít nhiều. Tám nghìn thổ đinh bị ta bắt làm phu khiêng xuống thuyền đồ vật cướp được xong rồi đều bị giết. Lỗ Khánh-Tôn coi Liêm-châu đã bị chết cùng nhiều bộ hạ : tri huyện Hợp-phố Lương Sở, giám-áp Chu Tông-Thích, chỉ-sứ Ngô Tông-Lập. Nói tóm lại trong các trận mở đầu, Lý Thường-Kiệt đã lợi dụng được 2 điều cốt yếu trong chiến lược xưa nay : triệt để dùng sở trường của mình là thủy quân và rình chỗ bất ngờ mà đánh úp. Thắng lợi hoàn toàn thuộc về quân Lý cũng là phải lẽ .


4. Tiến vào nội-địa

Chiếm xong 2 hải cảng Khâm, Liêm, Thường-Kiệt liền đưa quân tiến vào nội địa. Bấy giờ Tống không còn quân để cản ta nhưng Thường-Kiệt sợ dân Tống oán thù và quấy đường tiếp tế ở hậu phương cho nên ông phải tìm danh nghĩa cho cuộc hành quân. Muốn phô trương danh nghĩa, Thường-Kiệt sai yết bảng dọc đường kể tội quan Tống. Lời lộ-bố nói rằng : “ Có những dân Giao-chỉ làm phản rồi trốn sang Trung-quốc, các quan lại dung nạp và giấu đi. Ta đã khiến sứ sang tố giác các việc ấy, quan coi Quế-châu ( Lưu Di ) không chịu trả lời. Ta lại sai sứ vượt bể sang tố cáo với Quảng-châu, quan coi Quảng-châu cũng không chịu báo, vì vậy quân ta tới đuổi bắt dân trốn ấy ..... ” . Ông lại biện luận rằng mình chỉ tự thủ, ông tuyên bố : “ Quan coi Quế-châu đã kiểm điểm dân các động và tuyên bố rõ rằng muốn sang đánh Giao-chỉ ” .

Thường-Kiệt lại lợi dụng sự phân tranh trong triều đình Tống giữa hai phe tân và cựu để chia rẽ quân dân địch. Trong các lộ-bố có nói : “ Trung-quốc dùng các phép thanh-miêu, trợ-dịch làm dân khốn khổ, nay ta đem quân tới cứu ” . Người đời sau kể lại rằng “ dân Tống thấy lời tuyên cáo đều vui mừng, đem trâu rượu khao quân ta. Từ đó mỗi lúc dân Tống thấy hiệu cờ Thường-Kiệt đàng xa thì nói đó là quân của cha họ Lý người nước Nam rồi cùng nhau bày hương án bái phục bên đường, nhờ đó mà uy thanh quân ta lan khắp ” . Bởi vậy tiến quân vào nội địa càng thêm dễ dàng. 

Trong lúc ấy đạo quân Tông-Đản kéo tràn qua các trại ở phía tây. Trong tháng 11, Vĩnh-bình, Thái-bình, Thiên-long, Cổ-vạn đều mất . Ngày 10 tháng chạp, quân Tông-Đản kéo thẳng đến Ung-châu. Thành Ung bắt đầu bị vây. Đại quân ở Khâm và Liêm cũng tiến lên phía bắc. Đạo đổ bộ ở Khâm-châu kéo thẳng lên Ung-châu như ta sẽ thấy sau. Còn đạo đổ bộ ở Liêm-châu tiến sang phía đông bắc chiếm châu Bạch, viên tuần-kiểm Thẩm Tông-Cổ bị chết. Đạo quân ấy lại tiến lên Dung-châu, viên đô-tuần-kiểm các châu Bạch, Dung là Phan Nhược-Cóc và chỉ-sứ châu Dung là Vương Đạt và Tào Quăng cũng đều tử trận. Hình như đạo quân ấy dừng ở khoảng này để chặn quân từ phương đông tới cứu Ung-châu.


5. Phản-động của Vuơng An-Thạch

Tin tức bấy giờ chuyển chậm vì dịch-trạm ở miền nam chưa tổ chức. Tuy Khâm-châu bị chiếm ngày 20 tháng 11 mà đến mồng 6 tháng sau, ti kinh-lược Quảng-tây đóng ở Quế-châu mới được tin và tâu : “ Người Giao-chỉ họp quân thủy ở Triều-dương ( tức là Vĩnh-an châu hay là Hải-ninh bây giờ ) sắp sửa đi 2 đường vào cướp ” . Đúng một tháng sau khi Khâm-châu mất, tin mới tới triều đình Tống. Ba ngày sau lại tiếp tin Liêm-châu cũng mất luôn. Các tướng ở địa phương bối rối đã đành mà vua tôi Tống cũng rất đỗi hoang mang. Triều đình náo động. Báo tin mất Khâm-châu, ti kinh-lược Quảng-nam tây-lộ xin viện binh gồm 20.000 quân, 3.000 ngựa và một tháng lương, tất cả lấy dọc đường từ kinh đến Quảng-tây. Lại xin chừng mười sứ thần theo quân, xin thêm khí giới, đồ dùng, và xin điều động các dân khê-động. Muốn điều khiển quân mau chóng, ti ấy cũng xin dời đến thành Tượng gần phía bắc Ung-châu .

Ngày 20 tháng 12 được tin báo Khâm-châu mất, vua Tống Thần-tông liền hạ lệnh chuẩn bị các trạm, cấp đủ người và ngựa để đem tin cho chóng. Lại sai Trương Thuật, Tạ Quí-Thành tới ti kinh-lược Quảng-tây để chuẩn bị tướng-lệnh. Sợ quân ta thừa thế đi thuyền đến Quảng-châu, vua Tống ra lệnh cho quan coi Quảng-châu phòng bị cẩn mật. Mặt trận Quảng-tây thì dặn các tướng phải cố thủ ở các thành và nơi hiểm yếu, chớ khinh địch. Lời chiếu nói rằng : “ Giao-chỉ chiếm Khâm-châu chưa lui, sợ nó theo bờ bể dòm ngó Quảng-châu nên phải lo giữ. Nay xét thấy quân các đồn ở Quảng-tây yếu và ít mà lại phân tán, nếu không cố thủ các thành thì quân ta sẽ tan rã và tiếng tăm giặc sẽ lan ra làm tăng thế nó. Vậy chiếu cho Quảng-tây hãy bảo các tướng phải giữ thành chớ có khinh-địch ” .

2 ngày sau lại có tin báo Liêm-châu cũng mất. Triều đình Tống càng thêm lo, hoang mang rất mực. Vua Tống liền hạ chiếu cho ti kinh-lược Quảng-tây dặn rằng : “ Nếu xem chừng quân Giao-chỉ tới đâu mà không đủ quân giữ thì chỉ giữ mấy chỗ hiểm mà thôi. Chỗ nào có tiền, vải, luơng thực, thì phải chở tháo đi đừng để lọt vào tay giặc ”. Sau đó lại ra một lệnh trái ngược, nói rằng : ” Nếu quân bỏ thành mà đi chỗ khác thì lo rằng dân rối sợ. Hãy bảo các quan ti phải trở lại thành mình ” . Cũng ngày ấy ( 22 thánh chạp ) , vua Tống cách chức Lưu Di và sai Thạch Giám thay coi Quế-châu và làm kinh-lược-sứ Quảng-tây. Cấp cho Quảng-tây 50.000 quan tiền và sai các lộ chung quanh trữ lương thực để mộ quân. Sai mộ 3.200 đinh tráng ở các châu Thú, Ung, Tân, và dặn nếu không đủ thì mộ thêm thổ dân để dùng. Vua Tống lại sai chọn trong các châu quận những người trai trẻ khỏe mạnh, đảm dũng đem tới Quế-châu ; cứ 500 người lập một chỉ huy rồi dạy vũ nghệ, đặt tên là quân Tân-đằng-hải. Vua Tống lại định đem quân Hà-bắc xuống miền nam để ti kinh-lược Quảng-tây dùng : đạo quân thứ 35 xuống Quế-châu, đạo quân thứ 19 xuống Đàm-châu ( Tràng-sa bây giờ ) . Sai hai lộ Kinh, Hồ sắm 7.000 cung nỏ bằng gỗ để cấp cho Quảng-tây .

Ý vua Tống là vận động cấp tốc binh sĩ để ngăn quân ta tiến lên phía bắc. Vương An-Thạch rất tức giận khi được tin Lý Thường-Kiệt chỉ trích chính sách tân-pháp trong lời lộ-bố yết dọc đường bèn định sai tướng đem đại quân đi đánh đất ta. Ngày 25 tháng chạp, vua Tống Thần-tông chọn viên-ngoại-lang lại-bộ hiện coi Diên-châu ( Thiểm-tây ) là Triệu Tiết làm An-nam-đạo-hành-doanh-mã-bộ-quân đô-tổng-quản, kinh-lược chiêu-thảo-sứ và kiêm chức Quảng-nam-tây-lộ-an-phủ-sứ. Vua lại sai hoạn quan Lý Hiến làm phó-an-phủ-sứ và Yên Đạt làm phó-đô-tổng-quản, Ôn Cảo làm quản-câu coi việc kê-cứu thư từ. Rồi sai thảo một tờ chiếu đặc biệt gọi là Thảo Giao-chỉ chiếu để ban ra một cách long trọng. Theo lời Tư-mã Quang thì chính tay Vương An-Thạch thảo lời chiếu ấy để trả thù lời lộ-bố của Lý Thường-Kiệt chỉ trích các tân pháp của y. Lời chiếu rằng :

“ Chúa nước An-nam đời đời được phong tước vương cho nên con cháu được ta thừa nhận và vỗ về. Tiên triều đã từng tha lỗi cướp họ Lê, nay lại phạm vào nội địa giết hại lại dân, can tội với nước Thiên-tử, như thế không thể tha thứ được !

Quân Trời tới đánh thật có danh nghĩa !

Nay Trẫm sai Triệu Tiết làm An-nam-đạo-hành-doanh mã-bộ-quân đô-tổng-quản, kinh-lược chiêu-thảo-sứ , Lý Hiến làm phó-an-phủ-sứ và Yên Đạt làm phó-đô-tổng-quản.

Các ngươi hãy cất quân thủy, lục, tiến chóng đi !

Trời tỏ muốn giúp nên đã có điềm sao chổi tốt, người rõ lòng gian nên đều căm giận quân địch ác !

Chiếu cho quân Giao-chỉ hay : khi thấy quan quân đến thì đừng chạy. Dân chúng đã chịu khổ lâu ngày. Nếu dỗ được chúa mày vào nội phụ, Trẫm sẽ ban tước lộc cho. Càn-đức còn trẻ, việc làm loạn không phải tự ngươi gây ra. Ngày nào ngươi tới chầu, Trẫm sẽ tha thứ cho ..... ” .

Ta nên để ý tới việc vua Tống quan tâm đến danh nghĩa của cuộc chinh phạt này. Trước đó vua và An-Thạch bàn chuyện đánh Giao-chỉ, vua do dự và cho rằng chưa phải lúc dụng binh, An-Thạch đáp : “ Binh, không có lúc nào là không dùng được ” . Vua nói : “ Dụng binh bây giờ không có danh nghĩa gì cả ” , An-Thạch sỗ sàng trả lời : “ Nếu Bệ-hạ quả muốn dụng binh sao lại không có danh nghĩa ? ” . Lần này danh nghĩa rõ ràng, tự nhiên An-Thạch vịn lấy cớ.


6. Vây Ung-châu

Trong khi triều đình Tống vội vã đối phó, quân Lý Thường-Kiệt đã lục tục kéo trên đường Khâm-Ung để họp cùng quân Tông Đản đến đó trước. Ta đã thấy rằng sau khi lấy được Khâm, Liêm, Lý Thường-Kiệt chia quân làm 2 đạo : một mặt từ Liêm-châu kéo lên lấy châu Bạch, hình như để chặn quân tiếp viện của Tống từ phía đông tới ; một mặt, đại quân rời Khâm-châu kéo thẳng lên Ung-châu. Đường thẳng dài chừng 120 cây số nhưng phải qua dãy núi Thập-vạn. Sau ngày 10 tháng chạp đại quân mới đến thành Ung. Hai đạo quân ta kẹp lại bắt đầu vây chặt Ung-châu.

Thành Ung có tiếng rất chắc. Chính Vương An-Thạch cũng đinh ninh rằng quân ta không thể phá nổi. Quân Tống giữ thành Ung lại là một người kỳ cựu lão luyện, thông minh và rất cương quyết, ấy là Tô Giàm. Trận Ung-châu bởi thế sẽ rất khốc liệt và sẽ là một trường tranh đấu giữa mưu trí của Lý Thường-Kiệt và lòng dũng cảm của Tô Giàm. Giàm là một văn quan, giữ những chức nhỏ ở Quảng-nam từ lâu và được cử coi Ung-châu đã 5 năm. Giàm biết chính sách của quan trên là Thẩm Khỉ, Lưu Di thế nào cũng gây ra họa chiến tranh, nhiều lần can Khỉ rồi Di mà không được.

Lúc nghe quân ta gần tới Ung, Giàm nghĩ rằng Ung cách Quế không xa, viện binh chỉ 14 ngày đường đã đến nơi cho nên quyết tâm đóng thành cố thủ. Giàm liền kiểm điểm binh lính trong quận. Kể cả cấm binh, sương binh và quân già yếu chỉ có cả thảy 2.800 người. Giàm bèn hô hào người trong quận, bảo người nào có tài dũng thì bày tỏ phương-lược rồi chia nhau phòng thủ. Dân nghe tin rất sợ hãi, đạp nhau chạy đông không biết bao nhiêu mà kể. Thấy quân dân nao núng, Giàm đem hết của công và tư bày ra cho quân xem rồi nói : “ Khí giới ta đã dự bị đủ, lương thực trữ cũng không thiếu. Bây giờ giặc đã đến dưới thành, chỉ còn cách cố thủ lấy để đợi ngoại viện, ắt là ta sẽ thắng. Nếu có một ai chạy thì lòng dân sẽ náo động và đại sự sẽ hỏng. Nếu chúng ngươi nghe ta thì sẽ được hậu thưởng, nếu có ai không nghe mà bỏ chạy thì ta sẽ chém ” .

Trước đó, con Giàm là Tử-Nguyên vốn làm quan ở Quế-châu đưa vợ con tới thăm Giàm. Lúc sắp trở về thì thành Ung bị vây, Tử-Nguyên muốn đưa vợ con đi nhưng Giàm không cho và chỉ để Tử-Nguyên một mình đi thôi, ấy là vì sợ nếu bà con mình chạy thì dân gian sẽ hỗn loạn. Có một viên đại-hiệu tên là Địch Tích muốn trốn, Giàm sai người nấp ngoài cửa bắt được quả tang, đem chém và bêu đầu để làm gương, vì thế trên dưới ai cũng nín hơi mà nghe theo. Giàm lại mộ được hơn một trăm quân cảm tử, chèo thuyền trên sông Ung-giang đón đánh quân ta. Chúng chém được mười voi lớn và hai tướng. Quân Lý vây thành càng ngày càng riết, Giàm đốc thúc quân cố thủ. Muốn an ủi nhân tâm, Giàm phao tin rằng viện binh sắp tới. Giàm lại dùng thứ cung thần-tí bắn một phát được nhiều tên, giết được nhiều lính và voi. Quân Lý dùng công cụ ( một thứ máy bắn đá ? ) tứ bề trèo lên cao nhắm bắn vào trong thành, giết nhiều quân phòng thủ.


7. Diệt viện-binh. Trận Côn-lôn-quan

Lúc thành Ung sắp bị vây, Giàm đã sai sứ về Quế-châu cách phía bắc chừng 400 cây số để cầu viện. Quan coi Quế-châu là Lưu Di sai viên đô-giám Trương Thủ-Tiết đem quân đi cứu. Nhưng Thủ-Tiết nghe báo rằng quân ta đông gấp mười nên dùng dằng không chịu đi liền, trái lại đem binh đi vòng theo đường Quí-châu để tới Tân-châu, trú binh lại ở trại Khang-hòa để chờ xem sức Giàm chống với ta thắng bại thế nào. Không thấy viện binh đến mà vòng vây đã thắt chặt, Giàm phải cho người mang lạp-thư, nghĩa là thư viết vào giấy rồi vò vào trong sáp mà ngậm trong miệng, lọt ra vòng vây để cấp-cáo với viên đề-điểm hình-ngục là Tống Cầu. Lúc nhận được thư, Cầu khóc và giục Thủ-Tiết tiến binh, Thủ-Tiết hốt hoảng không biết làm thế nào bèn đem quân đóng ở núi Hỏa-giáp rồi kéo tới giữ ải Côn-lôn giữa đường Ung-tân cách Ung chừng 40 cây số.

Thường-Kiệt được tin, đưa quân đến đón đánh. Thình lình quân ta tiến tới quân Tống chưa đánh đã chạy. Thủ-Tiết nhu nhược không điều khiển nổi binh sĩ liền bị thua. Nhiều tên quân hàng theo ta, Thủ-Tiết bị giết, ấy là vào ngày 4 tháng giêng năm Bính-thìn ( 1076 ) . Các viên đề-cử Tả-giang Ôn Nguyên-Dụ, đô-giám Hồ-nam Trương Biện, tuần-kiểm các châu Ung và Tân Hứa Dự, tuần-kiểm các châu Liễu, Tân, Tượng Vương Trấn đều bị chết.


8. Phá Ung-châu

Thành Ung bị vây từ mồng mười tháng chạp năm trước đến bấy giờ gần một tháng. Nhưng thành cao và chắc, Giàm lại giỏi điều khiển binh lính, quân Lý không sao vào lọt. Muốn dòm vào trong thành ta dùng vân-thê là một thứ thang bắc chuyền nối với nhau rất cao rồi sai các tù binh trèo lên mà trông vào thành. Bốn bề dựng thang. Thang vừa dựng, Giàm sai bắn hỏa tiễn, tức là một thứ pháo thăng thiên, đốt cháy thang. Cầm cự nhau mãi bên ta quân và voi chết nhiều, quân mất một vạn rưởi. Quân ta dùng tên độc bắn lên thành, trên thành người và ngựa cũng chết rất nhiều.

Ta lại đào đường hầm lót da cho kín nước, định chui vào thành. Giàm để ta tiến tới gần rồi phóng hỏa đốt các huyệt. Có tù binh bắt được ở Côn-lôn tên là Triệu Tú bày cho ta dùng hỏa-công nghĩa là bắn các chất cháy như nhựa thông vào thành, trong thành thiếu nước không thể chữa được cháy. Ta vây thành đã 42 ngày mà không sao phá được. Thường-Kiệt sắp kéo quân lui thì có tù binh xui ta dùng phép thổ-công : lấy đất bỏ vào bì, xếp chồng vào nhau thành bực thềm để lên thành. Bao đất chất hàng vạn, dần dần cao như núi, chốc lát đã cao đến vài trượng. Quân Lý nối tiếp nhau như kiến trèo lên rồi lọt vào trong thành, ấy là ngày Canh-thìn 23 tháng giêng .

Trong khi thành bị vây, lương hết, giếng cạn, người Ung phải vốc nước bẩn mà uống, nhiều người mắc bệnh lị chết chất chồng cả đống nhưng không ai phản chí và phản lại. Giàm biết thế nguy nhưng vẫn chống rất hăng. Giận tụi Thẩm Khỉ, Lưu Di đã gây ra việc binh đao mà không chịu tới cứu, Giàm muốn dâng sớ kêu kiện nhưng đã tiệt đường, bèn yết bảng ở chợ kể tội Khỉ, Di, mong lời đạt đến vua Tống. Lúc quân ta lọt vào trong thành, Giàm còn đem lính bị thương ra chống lại, ruổi ngựa đánh rất hăng, nhưng thấy mình không còn đủ sức chống nữa thì nói với bộ hạ rằng : “ Ta quyết không chịu chết về tay giặc ” . Giàm bèn trở về dinh, tự giết 36 người nhà kể cả 2 con và 2 cháu, Giàm giấu thây người nhà vào một cái hầm rồi tự thiêu mà chết .

Quân dân thấy Giàm nghĩa khí như vậy thì không ai chịu hàng. Vì Giàm kháng cự lâu nên quân Lý tức giận, lúc vào thành quyết tìm bắt Giàm cho được. Khi biết Giàm đã chết, chúng tìm xác cũng không thấy. Tức giận, chúng giết sạch dân thành ; kể cả quan lại, lính tráng, thổ đinh, cư dân, cả thảy hơn năm vạn người. Các sách còn chép rằng quân Lý sắp đầu người thành đống, mỗi đống 100 đầu mà có tới 580 đống. Thường-Kiệt sai phá thành Ung, lấy đá lấp sông để ngăn quân cứu viện. Lấy xong Ung-châu, Thường-Kiệt kéo quân lên phía bắc ý muốn lấy Tân-châu. Viên coi Tân-châu là Cổ Cắng-Lặc nghe quân ta kéo gần đến thành, bỏ thành chạy trốn.


9. Lui quân và đề phòng

Bấy giờ đại quân Tống từ bắc đã kéo xuống mà quân Lý đánh Ung trong hơn một tháng coi chừng cũng mỏi mệt. Vả mục đích chính của ta là phá các cứ điểm của Tống có thể dùng để đánh ta, nay các thành Ung, Khâm, Liêm đã bị phá, các trại Vĩnh-bình, Thái-bình, Thiên-long, Cổ-vạn đã bị đốt, như thế ta xuất quân cũng thắng lợi rồi. Vả chăng nếu quân Tống tiến gấp, chúng có thể qua vùng khê động vào thẳng các châu Quảng-nguyên, Môn, Lạng và Tô-mậu, trong khi quân ta bị kẹt ở vùng Ung. Vì cớ ấy, sự rút quân ta về là cần kíp. Thường-Kiệt hạ lệnh lui quân. Tháng ba năm Bính-thìn ( 1076 ) , quân ta ra khỏi đất Tống. 

Biết Tống sắp sửa kéo quân tới trả thù, Lý Thường-Kiệt gia sức đề phòng trước , “ Ngày ngày ông sai tụ tập binh lính để tập trận ; nhóm họp voi ngựa, tập duyệt phép chạy, phép xung phong ”. Mặt khác, Lý hết sức do thám hành động của quân Tống. Lúc hạ Ung-châu có bắt được 200 nhà sư, ta thu lấy bằng-sắc rồi sai thám tử cạo đầu, mặc áo cà sa, mang bằng sắc ấy giả làm sư Tống vào đất Tống dò xét. Ta lại dùng dân thuyền chài ở ven bể, cho lẫn vào đất Tống để thám thính. Dân và quân Tống bị ta bắt đem về được đưa tới ở Nghệ-an, Thanh-hoá, xa biên thùy Tống kẻo khi quân Tống vào thì các tù nhân ấy có thể trốn theo quân Tống. Hạng trên 20 tuổi phải khắc trên trán ba chữ Đầu nam triều nghĩa là hàng nam-triều. Hạng dưới 20 tuổi và trên 15 tuổi phải sung làm lính và theo tục bấy giờ phải khắc trên trán ba chữ Thiên-tử-binh. Còn đàn bà con gái thì phải khắc vào cánh tay hai chữ Quan khách nghĩa là khách của nhà nước.

Các tù ấy hình như cũng không bị giam cầm nghiêm ngặt. Trong bọn tù có Triệu Tú là người thuộc đội quân Trương Thủ-Tiết bị Thường-Kiệt bắt ở ải Côn-lôn và đã bày cho ta cách dùng hỏa công ở Ung-châu. Tháng 10 năm Bính-thìn ( 1076 ) bọn Triệu Tú tất cả ba mươi người từ trại Nghệ-an cưỡi thuyền vượt bể để về bắc nhưng gặp gió bị giạt vào Lê-động ở đảo Hải-nam ngày nay. Thường-Kiệt lại dò biết Tống dụ Chiêm-thành và Chân-lạp hợp lực để đánh nam-thùy ta. Tháng tám năm ấy ( Bính-thìn 1076 ) Thường-Kiệt đem quân vào tuần-du các châu Bố-chánh, Địa-lý, Ma-linh mà Chiêm-thành mới nhường cho ta bảy năm trước, ông vẽ địa đồ các châu ấy để tiện việc phòng thủ. Muốn củng cố địa vị của ta ở những châu mới, ông chiêu dân tới ở và tổ chức cai trị lại, đổi tên Địa-lý ra Lâm-bình và Ma-linh ra Minh-linh.

Về việc này, sử ta chép rằng “ vua sai Lý Thường-Kiệt đánh Chiêm-thành nhưng đánh không thắng bèn vẽ bản đồ ..... ” nhưng chắc rằng mục đích cuộc xuất quân này không phải là để xâm chiếm Chiêm-thành. Bấy giờ quân Tống đã tụ tập nhiều ở Ung-châu, Thường-Kiệt chỉ đi tuần tra kiểm soát sự phòng thủ để phòng ngừa sự bất trắc ở miền nam thôi, việc vẽ bản đồ và di dân tới ở các châu mới kia đủ tỏ ý định ấy. Tâm trí Thường-Kiệt bấy giờ phải chuyên chú về việc Tống đương sửa soạn uy hiếp miền bắc. Sau khi Lý tấn công, vùng Tả-giang trên đất Tống bị tàn phá. Muốn ngăn Tống kéo quân xuống, quân ta đã dùng phép thanh-dã. Các kho tàng, tiền bạc, lương thực đều bị đốt cháy. Quân Lý, nhất là thổ binh, lại mang cả nhà đi theo cho nên đã cướp của cải, bắt đàn bà con gái Tống rất nhiều. Dân gian chạy tán loạn vào rừng núi. Nhiều khê động quay theo Lý. Người Tống dẫu muốn phục thù trước hết cũng phải mất rất nhiều thì giờ để khôi phục và sắp đặt lại vùng ấy đã.


10. Ảnh-hưởng

Trên đây tôi đã nhờ một ít chi tiết ghi trong các sách Tống để kể lại cuộc tấn công của Lý Thường-Kiệt vào đất Tống. Sách Tống đã tìm mọi cách để giảm vũ công ta như nói có người Tống bày mưu kế hay chiến thuật nhưng như thế cũng không che nổi sự thất bại lớn lao và chua cay của Tống. Ta hãy xem những ảnh hưởng của nó thì sẽ hiểu rõ. Sau khi Tống bị đại bại, tại triều Tống, vua và tể thần không ai chịu nhận lỗi mình, người này đổ lỗi cho người kia, An-Thạch viết trong tư-kỷ của mình rằng : “ Vua sai Khỉ kinh-chế kín việc Giao-chỉ, các đại thần không hay. Phàm Khỉ tâu xin gì vua cũng nghe ”. Thần-tông thì chối không hề sai Khỉ làm bậy, tự tay viết chiếu kể tội Khỉ có nói : ” Trước đây Thẩm Khỉ ở Quảng-tây nói dối là nhận được mật-truyền của triều đình bảo soạn đánh Giao-chỉ ”. Người đương thời cũng kết tội Khỉ như thế và nhiều kẻ buộc hẳn lỗi tại An-Thạch tham lập công.

Sau ngày Khâm và Liêm mất, Lưu Di bị cách chức và Thạch Giám được bổ thay. Ngày mồng 9 tháng giêng, vua Tống sai Thạch Giám và Chu Ốc xét tội Thẩm Khỉ và Lưu Di tuy rằng trước đó vua có hạ chiếu kể tội 2 viên coi Quế-châu ấy. Thất trận, An-Thạch đổ hết tội cho các thuộc-hạ. Kỳ thật ai cũng biết chính y là chủ mưu và hoàn toàn phải chịu trách nhiệm. Sau khi nghe quân mình thua trận liên tiếp ở Quảng-tây, Vương An-Thạch muốn bưng bít kẻo sợ dư luận bài xích. Lúc được tin Ung-châu bị vây,  An-Thạch nói : “ Thành Ung rất chắc, quyết là không phá nổi ” , vua cho là đúng. Đến khi Ung-châu mất, vua muốn triệu 2 ti trung-thư và khu-mật tới hội nghị ở các Thiên-chương, An-Thạch can rằng : “ Hội ở đó thì việc thất lợi này thành ra việc to, bất-nhược hội ở Đông-phủ ”. Tư-mã Quang chép lời ấy và thêm rằng : Vương An-Thạch lo, tỏ vẻ ra lời nói và sắc mặt đến nỗi Vương Thiều phải bảo : “ Ông ở đây còn lo như thế huống chi kẻ ở ngoài biên-khích ! Xin ông án-trọng để trấn-tĩnh vật-tình ” .

An-Thạch lo sợ như vậy là vì y hoàn toàn hy vọng vào việc lập biên-công để gây thanh thế cho mình ở trong triều và ngoài nước, u lại rất tin rằng thành Ung vững chắc. Khi biết Ung-châu bị vây, y đã lập tâm cho Triệu Tiết đem đại-quân thừa-hư đánh thẳng vào đất Lý, đến khi thấy mưu mình thất bại, y hoang mang, bối rối. Ngày 24 tháng 5 năm Bính-thìn 1076, vua Tống Thần-tông phàn nàn với An-Thạch rằng : “ Đời vua Chân-tông lúc Lê Hoàn chết có thể lấy được Giao-chỉ, thế mà bỏ mất cơ hội ” , An-Thạch nói : “ Khi Nùng Thiện-Mỹ nội-phụ ( 1074 ), Giao-chỉ không dám cố-nài, bấy giờ Càn-Đức mới lên ngôi, trong ngoài dân chưa theo, trong nước ai cũng sợ Trung-quốc tới đánh ..... Nay có người buôn bán ở Giao-chỉ nhân theo giặc tới Ung rồi trốn thoát, đã gọi nó tới và hỏi rằng : “ Ngày trước Giao-chỉ vào cướp có 6 vạn người mà trong đó nhiều đàn bà, con gái, ông già, kẻ ốm, có phải thế không ? ” , kẻ kia trả lời : “ Nhà có sáu người thì năm người đi theo quân, còn một người nữa không đi được nên ở lại ” . Xem vậy cả nước Giao-chỉ đã vào cướp, trong nước chúng đã không còn ai. Ta bỏ mất cơ hội thật là đáng tiếc ! ” .

Trên đây là một bằng chứng, chứng tỏ rằng An-Thạch và vua Tống đã lăm le muốn thừa cơ lấy nước ta. Sau đây còn có một chứng khác tỏ rõ rằng trước khi Ung-châu mất, An-Thạch muốn thừa-hư đánh úp ta và sau khi ấy lại bối rối và hối hận. Ngày mồng 6 tháng 6, vua Tống và An-Thạch cãi nhau về việc dùng người đi phủ-dụ các khê động đã theo ta lúc quân ta tới Tả-giang. Vương Thiều nói : “ Trước, định cuối xuân đầu hạ đánh Giao-chỉ. Sau, ti tuyên-phủ lại đổi ý ” . Vua hỏi : “ Sao lại thế ? ” An-Thạch trả lời : ” Tôi khi trước thấy Giao-chỉ đánh Ung-châu chưa hạ được, trong nước chúng bỏ không nên tính ra có thể hành động chóng mà đánh úp ở hậu phương nó, làm như thế thì ta không cần đánh quân nó đương cướp ở đất ta mà chúng cũng bị tan. Sau khi Ung mất, việc đánh úp chúng không thể bàn đến nữa ”. An-Thạch lại nói thêm : “ Đáng lẽ ta phải đánh khi Càn-Đức mới lập. Bấy giờ các khê động đều muốn nội-phụ, nếu lúc ấy ta muốn đánh Giao-chỉ thì chỉ cần mộ 2 vạn tinh binh, chọn 5, 6 tướng vừa vừa là có thể làm xong chuyện. Tôi trộm nghĩ rằng nếu bấy giờ ta đoán được việc ngày nay chúng không tuân lệnh thì ta có tiếc gì mà không cử binh. Thế mới biết rằng : việc bốn cõi biên thùy nếu không lo sự lớn hơn sự bé, làm việc khó trước việc dễ thì đến nhọc quân tốn của ”.

Vua tôi Tống tiếc rẻ không đánh ta trước nhưng lại không biết rằng sở dĩ Tống bị đánh trước là vì Tống dự bị đánh ta. Trong cuộc xung đột nam bắc 2 bên rất rõ ý nhau, chỉ có bên khéo tính toán, hành động nhanh chóng là bên thắng. Chuyến này nhờ Lý Thường-Kiệt nước ta đã đi nước trước cho nên mới thắng một cách hoàn toàn và khỏi thua về sau. Nhưng Vương An-Thạch cũng không phải là kẻ tầm thường, y tính toán rất đúng lẽ, khốn nỗi trên vì vua còn do dự, dưới vì tướng vụng về cho nên gây thành thất bại ấy. Hãy nghe tiếp câu chuyện của vua tôi Tống còn kể dở trên kia.

Vua Tống nói : “ Ngày trước nếu ta muốn hưng-binh cho lợi thì trước phải luyện binh đã ”. An-Thạch trả lời : “ Cứ bắt đầu làm đi thì kẻ có tài tự nó luyện lấy. Nếu không bắt đầu thì binh khó lòng mà luyện được, nếu ta đêm ngày tập mà không biết địch-khí ra sao thì lúc cử-sự sẽ bất lợi. Nếu ta cứ cử-sự đi thì kẻ có tài và kẻ bất tài sẽ phân biệt. Ta sẽ thưởng bạt kẻ có tài, kẻ bất tài cũng phấn khởi ” . An-Thạch thích hoạt động nên hay bênh thuyết “ phải hoạt động mới thấy tài và chỉ có kẻ bất tài mới không hiếu sự ”. Vua Tống nói : “ Cũng phải dùng đến quân có sẵn rồi mới có thể cử sự được, và cũng phải xét sức có thể thắng hay không mới nên cử sự ”. An-Thạch trả lời : “ Lúc Càn-Đức mới lập, ta chỉ cần 2 vạn tinh binh là xong việc. Ở Trung-quốc há lại không thể mộ được 2 vạn quân giỏi, năm bảy tướng vừa hay sao ? Lúc quân ta diệt được Giao-chỉ thì uy ta sẽ có, rồi ta bá-cáo cho Thiểm-tây biết, quân dân Thiểm-tây sẽ thắng khí. Với thắng khí ấy ta sẽ nuốt tươi nước Hạ, mà nếu nuốt được Hạ thì ai dám quấy nhiễu Trung-quốc nữa ”.

Mộng Vương An-Thạch đã tan. Vương An-Thạch hối cũng không kịp. Tuy y đã dự bị việc phục thù nhưng dư luận xôn xao, các triều thần nhao nhao chỉ trích. Trong các thư tịch đời Tống còn lại, các danh nhân như Tư-mã Quang, Trình Hạo, Phương Chinh-Bình, vân vân, còn chép một vài mẩu chuyện về việc xuất quân bất lợi của An-Thạch. An-Thạch hoàn toàn cô lập, trở nên chán nản. Không đợi kết quả của cuộc phát quân phục thù mà mình đã chủ mưu, An-Thạch phải xin từ chức, ấy là vào tháng 10 năm Bính-thìn ( 1076 ) . Một ảnh hưởng bất ngờ của cuộc thắng trận của Lý Thường-Kiệt là : không những nó đánh đổ âm mưu xâm lược của Tống, không những nó đánh đổ kẻ chủ mưu cuộc xâm lược ấy mà nó còn là cái cớ cuối cùng đánh đổ một cuộc cách mạng về tư tưởng, về chính trị, về kinh tế vĩ đại nhất ở thế giới trong thời trung cổ.



Phần II – Kháng Tống – Đòi đất

CHƯƠNG VIII : TỐNG SỬA-SOẠN PHỤC-THÙ

Trên kia đã nói, sau khi nghe tin Khâm và Liêm đã mất, vua Tống và tể-tướng Vương An-Thạch quyết định một mặt ngăn ngừa quân ta tiến đánh sang mé đông và mé bắc, một mặt sắp-sửa binh-mã đánh thẳng vào nước ta để gỡ vây cho thành Ung. Nhưng trong khi sửa-soạn, Ung-châu mất và sau đó quân ta cũng tự-ý rút về. An-Thạch phải đổi lại chiến-lược. Mục-đích mới là chinh-phục nước ta và sáp-nhập đất-đai ta vào Tống. Trong lời dặn tướng Quách Quì ngày 28 tháng 2, vua Tống nói : “ Sau khi bình được Giao-châu sẽ đặt châu huyện như ở nội-địa ”. Muốn chắc-chắn đạt được mục-đích chuyến đi này , Tống đã sửa-soạn một cách chu-đáo lạ thường. Trong gần một năm, từ tháng chạp năm Ất-mão 1075 đến tháng mười năm sau, Tống sửa-soạn kỹ càng về đủ mọi phương diện : tướng-tá, quân thủy, quân bộ, khí-giới, lương-thực, chuyên-chở, thuốc-thang, tuyên-truyền, phủ-dụ và mưu-lược.


1. – Tướng-tá

Chương trên đã kể rằng ngày 25 tháng chạp năm Ất-mão ( 2 - 2 - 1076 ) Tống Thần-tông cử Triệu Tiết làm tướng, Lý Hiến làm phó, cầm quân xuống đánh ta. Tờ chiếu xuất quân là tự tay Vương An-Thạch thảo ra. Ngày 24 tháng giêng, vua giục Tiết về chầu. Triệu Tiết xuất thân tiến-sĩ, bấy giờ còn coi Diên-châu ( Diên-an ngày nay, ở Thiểm-tây ), vì có công ngăn Hạ nên mới được vua bạt-thăng làm thiên-chương-các đại-chế và được An-Thạch thích. Còn Lý Hiến là một hoạn-quan, tuổi mới hơn ba mươi, đáng lẽ chỉ được coi nơi cung cấm, nhưng từ đời nhà Đường có tệ hoạn-quan gần-gũi vua nên được tin cậy, được trao việc chính và việc quân.

Việc chọn tướng như vậy không làm cho triều-đình hài lòng huống chi An-Thạch thường định-đoạt điều gì cũng chỉ bàn bạc với vua chứ không hỏi ý-kiến các đại-thần khác. Có quan ngự-sử Thái Thừa-Hi tâu rằng : “ Người ta phàn-nàn sự vua không hỏi ý-kiến 2 phủ trung-thư và khu-mật và sự Lý Hiến trần-tình thẳng chứ không qua 2 phủ, vậy vua nên cho các quan 2 phủ biết đến các việc để họ bàn rồi vua hãy định sau ”. Nhất là sự chọn hoạn-quan Lý Hiến cầm quân càng bị chỉ trích. Có Dương Hội dâng sớ can vua không nên dùng hoạn-quan và không nên bỏ ngỏ bắc-biên. Lời sớ có đoạn nói rằng : “ Tôi nghe sách Quân chí có nói : kẻ giỏi đánh, đánh chỗ tưởng không cần giữ ; kẻ giỏi giữ, giữ chỗ tưởng không đánh đến. Nay đưa tướng giữ những nơi Đàm, Quảng ( Hồ-nam và Quảng-tây ) mà ở Mân, Tuyền, Phúc ( Phúc-kiến ) chưa hề bàn đến cách giữ. Tuy rằng giặc phải vượt qua Quảng rồi mới đến Mân nhưng tôi lo rằng chúng tiện gió vượt bể bất-ý sẽ tới. Như thế hóa ra ta nhãng giữ chỗ tưởng không đánh đến.

“ Giao-chỉ quấy phương nam mà tướng-tá chọn lấy tại chỗ phải phòng-bị là miền tây, vạn nhất ở đó giặc ( nước Hạ ) thừa hư vào cướp thì điều lo lại lớn hơn, làm thế cũng trái với phép phải giữ chỗ tưởng không đánh đến. Tôi lại thấy chiêu-thảo phó-sứ Lý Hiến tuổi mới hơn ba mươi, chức mới đến phòng-ngự mà nay Bệ-hạ mưu đánh Giao-chỉ ắt là thành công. Vậy xin Bệ-hạ nghĩ đến sự sau khi thành công Hiến sẽ được yêu dùng, tuổi y chưa cao mà quyền sẽ sớm thịnh, bệ-hạ xử-trí sẽ khó. Xin nghĩ đến sự có thể có nguy-cơ ..... ”.

Vua Tống cũng không nghe lời can ấy. Nhưng hai tướng Tiết và Hiến bất-hòa. Tiết lại sợ Hiến cậy thế được vua thân-tín sẽ lấn quyền chánh-tướng cho nên Tiết tâu rằng : “ Triều-đình đặt chức phó-đô-tổng-quản ( cho Hiến ) là cốt để bàn góp việc quân, còn tiết-chế hiệu lịnh thì xin quy-nhất vào tay chánh-đô-tổng-quản ( Tiết ) ”. Hiến thấy vậy lấy làm mếch lòng. Tiết muốn rằng phàm việc gì cũng phải tâu qua 2 phủ mà Hiến thì muốn tâu thẳng lên vua. Một hôm Hiến hỏi Tiết : “ Trong việc quân, nếu có chỉ vua về việc chỉ-huy thì làm thế nào ? Có tuân theo không ? ” , Tiết trả lời : “ Chỉ ấy phải thì nên theo, chỉ ấy không phải thì không nên theo. Trong quân phải tiện-nghi ”. Tiết hiểu rõ quyền và bổn-phận một tướng tại-ngoại, còn Hiến quen tính tôi-tớ ở cấm-đình nên chỉ chịu sai-bảo mà thôi.

Hai người trở nên ghét nhau, nhiều lần cãi nhau trước mặt vua. Tiết xin vua bãi Hiến, An-Thạch bênh Tiết, nói : “ Không nên bắt chước đời Đường lúc suy, giao việc nước cho hoạn-quan ”. Vua bằng lòng nghe theo và hỏi Tiết : “ Nếu Hiến không đi thì lấy ai thay ? ” , Tiết tâu : “ Có Quách Quì đã lão luyện biên-sự ” . Nguyên tại triều Vương An-Thạch và Ngô Sung không ăn-ý với nhau về việc đánh Giao-chỉ, An-Thạch nói đánh chắc được, Sung nói nếu có được cũng vô-ích. An-Thạch lại không thích Quách Quì, trước đó An-Thạch đã đổ cho Quì làm hỏng việc đào sông Hi-hà và đã truất Quì. An-Thạch lại là người thích Tiết nên chỉ muốn để Quì làm phó mà thôi. Trái lại Sung che chở Quì và xin cho Quì làm chánh. Hai bên cãi nhau. Vua hỏi thẳng Tiết rằng : “ Khanh thống-soái mà Quì làm phó hay sao ? ” . Câu hỏi làm Tiết lúng-túng vì bụng muốn làm chánh-soái mà không lẽ nói ra, nên Tiết tâu một cách miễn-cưỡng rằng : “ Vì nước mà làm việc chung, sao lại hỏi ai chánh, ai phó ? Tôi chỉ xin giúp việc mà thôi ”. 

Thế là Quách Quì được cử làm nguyên-soái và vô-cớ Tiết tự truất mình xuống làm phó. Đó là một cớ lớn làm cho sau này 2 người trở nên bất-hòa, sự hành-binh thất-bại cũng căn-do ở đó phần lớn. Trong cuộc xung-đột giữa Ngô Sung và Vương An-Thạch, An-Thạch đã thua. Ảnh hưởng của An-Thạch từ đó sụt kém. Ngày mồng 2 tháng hai, vua hạ chiếu cử Quách Quì lên chức tuyên-huy-nam-viện-sứ, thay Triệu Tiết làm An-nam đạo-hành doanh mã-bộ-quân đô-tổng quản chiêu thảo-sứ và kiêm chức tuyên-phủ-sứ ở các lộ Kinh-hồ, Quảng-nam. Triệu Tiết thay Lý Hiến. Hiến bị bãi. Yên Đạt vẫn làm phó đô tổng-quản. Quì là một võ-tướng như Địch Thanh xưa, vì có quân-công nên Quì được tập-dụng. Quì đã từng giúp Phạm Trọng-Yêm giữ biên-thùy giáp Hạ. Bấy giờ Quì còn coi phủ Thái-nguyên.

Tính Quì cẩn-thận, bàn việc rất đứng-đắn, nhưng có bề cẩn-thận quá hoá ra rụt-rè chậm-chạp. Vua Tống Thần-tông cũng biết vậy, vua muốn 2 tướng tương-đắc với nhau để làm việc. Lúc Tiết vào chào để xuống trước miền nam, vua dặn Tiết rằng : “ Muốn dùng thổ-binh thì phải lấy lợi mà nhử chúng, Quách Quì tính hạ-tiện, khanh nên dụ y rằng triều-đình không sợ tổn-phí đâu. Quì lại hay nghiêm quá, không hiểu hạ-tình, tướng-tá không dám nói gì với y, khanh nên nói thay cho họ, chớ có khinh-dể họ quá ”. Ngày hôm ấy chính là ngày ti kinh lược Quảng-tây tâu việc Ung-châu mất. Vua rất lo-lắng. Được tin Tô Giàm tử-nghĩa, vua nhịn ăn để tỏ lòng thương tiếc. Ngày 18 tháng hai, vua ban cho Quì 1000 lượng bạc và 1000 tấm quyến.

Ngày 20, Quì về đến kinh yết-kiến vua, vua đặc-biệt tiếp tại điện Diên-hòa. Vua hỏi : “ Dẹp An-nam bằng chước nào ? ” , Quì cẩn-thận trả lời : “ Việc binh khó lòng ở xa mà tính được, xin đợi đi đến Ung-châu rồi sẽ hiến phương-lược ”. Vua lại hỏi : “ Dùng quân phải thế nào ? ” , Quì đáp : “ Xin đưa theo tất cả tướng, lại, quân sĩ cũ ở các châu Phu-Diên tại Hà-đông ( Thiểm-tây ) ” , đó là vì Quì vừa cầm quân ở châu ấy, muốn đem bộ-thuộc quen dùng của mình đi theo. Ý ấy cũng hợp với ý vua. Từ ngày 13 tháng giêng đã có lệnh chọn những tướng được sung vào việc cầm các đạo quân nam-thảo, các tướng ấy đều lấy ở các doanh tại tây-bắc. Vua Tống bằng lòng rồi cắt công việc, sai Triệu Tiết xuống miền nam trước để trông coi những quân đã mộ tại các miền ấy. Ngày 21 tháng 2 lại sai Tiết coi riêng về việc lương-thực .


2. – Bộ-binh

Bộ-binh phần lớn lấy ở các doanh-trại đóng gần biên-thùy Liêu, Hạ. Một phần lớn là quân có sẵn đã được tập-luyện hẳn-hoi, một phần là quân mới mộ ở các lộ Hà-bắc, Kinh-đông, lại thêm quân mộ dọc đường từ kinh tới Ung-châu và quân khê-động. Tổng-số hơn mười vạn chia ra chín đạo. Quân tuy nhiều nhưng giá-trị chiến-đấu không đều, lại là ô-hợp, ngôn-ngữ bất-đồng cho nên hiệu-lệnh khó thông-tri làm thêm khó điều-khiển


3. -Thủy-binh

Trong cuộc xuất quân lần này Tống ít chú ý về thủy-quân. Các tướng thường quen trận-địa miền tây-bắc là cao-nguyên và sa-mạc cho nên ít nghĩ đến cách lợi-dụng chiến-luợc thủy-quân.


4. – Lương-thực

Trong việc viễn-chinh này quân phải qua nhiều miền hoang-mãng, không thể trông-cậy vào tiếp-tế ở chỗ đi qua cho nên lương-thực là việc hệ-trọng bậc nhất. Tống lo sao có đủ gạo cho mười vạn lính, đủ cỏ cho một vạn ngựa. Lương ấy, cỏ ấy cần nhiều phu tải. Các phu ấy lại phải có lương riêng. Vậy không những phải cung cấp cho 10 vạn người ăn mà tính ra phải gấp bội. Tống đã hiểu rõ sự quan-trọng ấy cho nên trong khi sửa-soạn nam-chinh, việc lương-thảo rất được chăm-nom. Ngày 21 tháng hai, vua đã ủy riêng Triệu Tiết coi về việc ấy, vả chính Tiết cũng tình-nguyện phụ-trách.

Lúc đầu trong thời kỳ phòng-thủ, Tống đã dự-bị một tháng lương trữ dọc đường từ Biện-kinh đến Ung-quảng, nhưng sau Tống định sang đánh đất ta cho nên ti An-nam-chinh-thảo tâu rằng : “ Sẽ phát binh 8 vạn thì phải dự-bị 10 tháng lương khô tức là 8.000 cân. Xin giao cho ti chuyển-vận biện được bao nhiêu thì làm, còn thiếu bao nhiêu thì giao cho 2 châu Quế và Tuyền biện ”. Vua chiếu cho tam ti, tức bộ tài-chính, lấy 20 vạn quan tiền giao cho lái buôn mua lương-thực ở Quảng-đông. Không những các lộ gần biên-thùy nước ta phải biện lương mà Hồ-nam, Phúc-kiến cũng nhận được lệnh phải mua lương gúp. Ngày 25 tháng 5, vua chiếu : “ Nếu Phúc-kiến, Hồ-nam, Quảng-đông không thể biện đủ lương thì tâu lên để tìm ở các lộ khác ”. Còn kỵ-binh mộ từ miền Phu-Diên ( Thiểm-tây ), chúng phải tự mang theo lấy cỏ. Triệu Tiết ra lệnh phải mua cỏ tươi và khô ở vùng ấy.

Trong việc mua lương-thực, kẻ tùy-hành quấy-nhiễu dân-gian. Ngay lúc đầu vua Tống hạ chiếu cấm không được nhiễu dân, sau vua bảo phải đem tiền, vải để mua lương, cỏ cho đắt ở các châu, động. Viên coi việc thị-dịch tính thấy phải chi 6.000 lượng vàng mới đủ tiêu vào việc chiến-tranh. Tuy vậy việc biện-lương không dễ dàng và bị chậm-trễ, phần vì nhiều nơi bị mất mùa, phần vì sự chuyên-chở khó khăn, cho nên lúc quân đã xuống đến Đàm-châu ( Tràng-sa ) mà Quảng-tây chưa nhận được số lương đã hứa. Ti chuyển vận lộ ấy xin hơn 46 vạn quan để mua 36 vạn thạch thóc ( mỗi thạch bằng 10 bát ) , 44.800 thạch đậu, hơn 36 vạn bó cỏ và trâu, dê, lợn, rượu. Vua sai Lý Bình-Nhất, Châu Ốc, Thái Dục cấp cho đủ số. Lúc quân sắp tiến vào đất ta, nhiều nơi chưa nộp đủ số lương dự-định, ti chiêu-thảo phải dọa. Ngày 12 tháng 10 nói rằng : “ Nếu ai thiếu tiền, lúa, cỏ về việc đánh quân An-nam thì lúc quân trở về sẽ thu gấp đôi ”. Và ngày 28 tháng 10 để bù số thiếu, vua Tống cấp 150.000 quan giao cho Quảng-đông mua lương-thảo.


5.- Chuyên-chở

Các số lương dự-bị được chở tới Quảng-tây, trữ tại những nơi căn-cứ để đợi ngày phân-phát cho quân. Sau khi quân ta rút lui, việc làm trước nhất của các viên-chức Tống là sửa-chữa các nơi căn-cứ ấy. Ngày 11 tháng 2, Quảng-đông xin 5 vạn quân để sửa-chữa thành hào, ấy là vì bấy giờ còn sợ quân ta đến đánh Quảng-châu nữa. Ung-châu là căn-cứ quan hệ nhất cho nên viên chuyển-vận-sứ Quảng-tây là Lý Bình-Nhất muốn tu-bổ gấp, y xin bắt cả dân-phu Quảng-đông tới đắp lại thành nhưng vua bảo không nên. Đến tháng 4 thành Ung cũng chưa đắp xong, vả đường vận lương cũng chưa thông vì sông Ung trước bị ta đổ đá lấp. Đến tháng 6 lương đã được tải xuống. Ngày mồng 1 có lệnh đắp các thành trại can-hệ ở vùng Ung-châu để chứa lương.

Còn cách chuyên chở thì dùng đủ mọi phương-tiện. Trong địa-phận Trung-quốc có thể dùng thuyền theo các sông đến các nơi căn-cứ. Đi lại trong vùng Lưỡng-Quảng có sông Tây-giang và các sông nhánh như Quế-giang, Bắc-giang. Từ đồng bằng ở triền sông Dương-tử tới Lưỡng-Quảng có sông đào Linh-cừ nối sông Tương ở Hồ-nam đến sông Quế. Từ đời Tần đã xây nhiều cửa cống để thuyền con có thể xuyên qua núi. Vào đất nước ta bằng thuyền thì không có đường sông mà chỉ có đường bể mà thôi. Nhưng như ta đã thấy trên, bấy giờ Tống không dùng đường bể một cách khẩn-thiết cho nên chỉ dùng đường bộ để chở lương theo quân mà thôi.

Ngày 21 tháng 4, chuyển-vận-sứ Quảng-tây là Lý Bình-Nhất yêu cầu các lộ Hồ-nam và Quảng-đông cho 1.000 thuyền bằng đáy để chở tiền và lương trên các sông cạn ở Ung-châu. Ngày 4 tháng ấy vua Tống hạ chiếu cho lộ Tây-kinh phải lấy ở vùng Khai-phong 1.000 cỗ xe để đưa xuống Quảng-tây chở lương-thực. Xe phải đi hàng nghìn cây số mới đến nơi. Thuyền và xe chỉ dùng được trong nội-địa Tống, muốn mang qua núi non hiểm-trở đến cõi nước ta thì phải cần tới người hay súc-vật. Từ ngày mồng 1 tháng 2, ti chuyển-vận Quảng-tây đã bắt phu rất nhiều, tại chín huyện thuộc Quế-châu bắt 8.500 bảo-đinh và 91.200 các hạng khác, bảo-đinh được cấp tiền gấp hai những hạng kia vì bảo-đinh có thể dùng làm chiến binh.

Chừng ấy cũng không đủ, viên chuyển-vận-sứ Lý Bình-Nhất tính cần có 40 vạn phu cả thảy. Ngày mồng 1 tháng 4, vua Tống sai Quách Quì xét lại và dặn nên làm sao cho khỏi náo-động nhân-tâm. Quì nói : “ Theo Bình-Nhất, lương-khẩu cần cho 10 vạn quân và 1 vạn ngựa ăn trong 1 tháng phải có 40 vạn phu chuyên-chở. Một tháng đã vậy huống chi từ nay đến lúc tới sào-huyệt giặc không phải chỉ 1 tháng. Nay tính cho rộng-rãi, trừ phần quân và ngựa tự chở lấy, trừ phần có thể lấy ở các địa-phương sản-xuất thì còn dư ta sẽ mua trâu bò mà chở. Dọc đường ta lại làm thịt trâu bò ấy cho quân ăn, nếu ăn còn thừa thì sẽ cấp cho các đồn-điền cày, làm như thế ta có thể giảm bớt phu. Ta lại bỏ bớt những đồ không cần gấp. Ta sẽ dùng xe lừa kéo cho đi đi lại lại mà chở. Nói tóm lại ta có thể bỏ bớt số phu đi một nửa còn 20 vạn mà thôi ”. Cũng vì thiếu phu khuân vác mà ti An-nam chiêu-thảo đã phải xin bỏ bớt một nửa mũi tên bằng sắt, chỉ mang theo 32.400 cái mà thôi .


6. -Y-dược

Miền nam khí-hậu nóng-nực mà quân phần đông từ miền cực-bắc kéo xuống, lại phải qua các vùng rừng núi thường đầy lam-chướng. Từ xưa nước ta đã có tiếng là xứ độc, Mã Viện tả cảnh nước lụt mùa hè khí độc xông lên đến nỗi chim trên trời phải sa xuống nước. Vì vậy vua Tống Thần-tông trong cuộc nam-chinh này rất chú-ý về việc thuốc-thang cho quân-sĩ. Ngay ban đầu lúc nghe Khâm, Liêm bị mất, vua Tống sai viện-binh xuống Ung-châu mà đã chiếu cho hàn-lâm y-quan-viện chọn 57 bài thuốc trị lam-chướng và sai sở hạp-dược chế thành tễ rồi mang theo quân. Đến lúc quân đã ra ngoài Lĩnh vào Quảng-tây, người đau ốm càng nhiều. Ngày 17 tháng 5 có chiếu dụ rằng : “ Sau khi qua Lĩnh hễ quân có ai đau thì lưu lại, bảo địa-phương đó chọn thầy thuốc mà cứu chữa, ai chữa được nhiều thì sẽ có thưởng ”. Vua lại dặn các tướng phải thân-hành vỗ-về lính ốm và săn-sóc thuốc-thang rồi phải tâu số lính bị bệnh-tật chết .

Không những chỉ dự-bị thuốc thang cứu-chữa người ốm, phủ-dụ bệnh-nhân, vua Tống còn lưu-ý đến cách phòng-ngừa, đến phép vệ-sinh. Ngày mồng 5 tháng 8 được tin quân xuống miền nam có nhiều người ốm, vua hạ chiếu rằng : “ Nghe nói quân đi đánh An-nam đã qua Lĩnh nhiều người bị tật bệnh. Truyền cho ti tuyên-phủ phải hiểu-cáo cho binh lính đừng ăn đồ sống, đồ lạnh, và cấm uống rượu ”. Lúc nghe tin quân đến Ung-châu nhiều người bị chết, vua Tống liền quở “ các tướng-tá đã không ngăn-cấm binh lính ăn những thứ mà người miền bắc phải kiêng ” và vua dặn “ nay phải hết sức điều-trị ” , rồi vua sai thái-y-cục chế 30 bài thuốc chữa lam-chướng, bảo sứ đem giao cho ti An-nam-hành-doanh-tổng-quản. Vua Tống lại bảo chọn dăm bảy lương-y chuyên trị bệnh lam-chướng gửi gấp theo quân.

Khi thấy thuốc-thang cũng không ngăn nổi quân chết bệnh, vua Tống sai lập đàn cúng nhương. Ngày 21 tháng 11 có chiếu : “ Quân bị tật bệnh nhiều, vậy sai viên tri-lễ phải cầu thần Nam-nhạc ở Hành-dương và sai trung-sứ lập đàn cầu phúc một tháng ”. Tuy vua Tống lo-lắng thuốc thang cầu cúng như vậy, nhưng khí-hậu ẩm thấp miền nam cùng bệnh sốt-rét ở miền rừng núi đã làm cho quân Tống chết dọc đường rất nhiều. Những quân được yên lành lúc đến cõi nước ta cũng bị yếu-ớt đi nhiều cho nên quân ta càng dễ đánh bại.



CHƯƠNG IX : KẾ-HOẠCH ĐÁNH ĐẠI-VIỆT

1.- Mục-đích

Trong hai chương trên đã nói, phản động Tống có thể chia làm hai thời-kỳ. Lúc mới nghe Khâm, Liêm bị mất và Ung bị vây, Tống Thần-tông và Vương An-Thạch muốn lập-tức sai đại-quân xuống miền nam, trước là ngăn-cản sức bành-trướng của quân ta tới vùng Quảng-châu và Quế-châu, sau là để đánh thẳng vào nước ta làm cho ta phải thả Ung-châu nhưng Ung lại bị mất trước khi Tống sắp đặt xong quân cho nên vua tôi An-Thạch định lại kế-hoạch là sửa-soạn kỹ-càng để đến hết mùa nóng-nực có thể kéo toàn-lực chinh-phục hẳn đất nước ta. Tống sửa-soạn kỹ-càng về mọi phương-diện vật-chất như ta đã thấy. Sau đây ta sẽ thấy rằng về kế-hoạch chiến-lược, tướng Tống cũng rất có định-kiến ít ra là trong lý-trí.

Mục-đích cuộc xuất quân lần này là đánh lấy hẳn đất ta rồi sáp-nhập vào nước Tống. Ngay lúc đầu sau khi Quách Quì được cử làm tướng, Tống Thần-tông hạ chiếu dặn rằng : “ Sau khi bình được Giao-châu sẽ đặt châu huyện như nội-địa ”. Nhân cơ-hội Tống cũng muốn đặt quan cai-trị các vùng khê-động thay các tù-trưởng mà đến bấy giờ vẫn tự-lập, nhất là vùng Quảng-nguyên sản-xuất nhiều vàng bạc thì Tống lại càng muốn chiếm lấy. Ngày mồng 5 tháng 7 , Quách Quì nhận được chiếu về việc ấy, chiếu rằng : ” Nghe nói vùng khê-động có nhiều của quí, sau khi Giao-chỉ thua hãy đặt thành quận huyện cai-trị và sung-công của-cải ” .


2.-Liên-minh và ngoại-viện

Muốn chia lực-lượng quân ta, quan Tống là Hứa Ngạn-Tiên tâu xin xui các nước Chiêm-thành và Chân-lạp đem quân đánh miền nam nước Việt, Chiêm-thành bị ta đánh đại-bại sáu năm về trước chắc sẽ thừa cơ-hội này để trả thù. Vua Tống hạ chiếu nói rằng : “ Chiêm-thành, Chân-lạp vốn là huyết-thù của Giao-chỉ, vậy sai Hứa Ngạn-Tiên và Lưu Sơ mộ dăm ba người buôn bể đi dụ các quốc-trưởng nước ấy dự vào việc đánh Giao-chỉ, khi nào bình-định xong sẽ có thưởng ”. Không biết vì lẽ gì Hứa Ngạn-Tiên không đi. Sau khi Ung-châu mất lại có chiếu sai Lý Bột và La Xương-Hạo mang sắc-thư, thuốc, khí-dụng, lụa sang Chiêm-thành và Chân-lạp để dụ các nước ấy đánh ta. Lời chiếu rằng : “ Chiêm-thành, Chân-lạp từ lâu nay bị Giao-chỉ cướp, nay vương-sư sang đánh Giao-chỉ để phạt tội, các nước ấy nên thừa cơ-hội hiệp-lực mà trừ nó, ngày nào đánh dẹp xong Trẫm sẽ ban thưởng cho. Trẫm lại nghe nói rằng nhiều dân nước ấy đã bị Giao-chỉ bắt về, trong số ấy có cựu-vương Chiêm-thành khó lòng trở về nước ( vì có sự bất-hòa với vua hiện ở ngôi ) nên triệu y sang chầu, Trẫm sẽ gia-ân cho ” .

Sau này ta sẽ thấy rằng kế dùng Chiêm-thành, Chân-lạp có được thực-hiện ít nhiều nhưng bị Lý Thường-Kiệt đón trước. Trong tháng tám năm ấy, Thường-Kiệt đem quân vào tuần tra các châu vừa lấy được của Chiêm, chỉnh đốn việc cai-trị, cho dân vào ở thêm và tăng sự phòng bị. Mà bên Tống cũng không có sức gì uy-hiếp Chiêm-thành, Chân-lạp cho nên tuy Chiêm-thành có đưa ít quân lên đóng ở biên-giới nước ta nhưng không dám gây sự.


3.- Phòng-thủ

Trước lúc đánh vào nước ta theo đường từ Ung-châu đến Lạng-châu, Tống sợ quân ta từ khê-động tràn vào quấy hậu-phương hoặc từ Khâm-châu đánh quật vào chiếm các nơi căn-cứ cho nên Tống đã phải dự-bị phòng-thủ phía sau. Vua Tống sai xây gấp lại thành Ung, ngày 8 tháng 3 Lý Bình-Nhất xin đem cả phu Quảng-đông sang giúp vào việc ấy rồi ti tuyên-phủ lập tức phái tướng cầm đạo quân Hữu-đệ-nhất xuống đóng ở Ung-châu để phòng-bị. Vua Tống cho rằng một tướng giữ không đủ, lời chiếu nói : “ Thành Ung-châu đắp chưa xong, đường chở lương cũng chưa sẵn. Nay vào mùa mưa dầm khí độc nhiều, nếu giặc trở lại thì một tướng không đương nổi. Phải xét lại ”.

Ngày 25 tháng 6, vua Tống lại chiếu rằng : “ Trong việc nam-chinh, Ung-châu rất can-hệ. Đó là căn-bản. Tiền, lương, quân-nhu đều để đó. Nếu giặc cùng-kế mà từ hải-khẩu ( có lẽ chỉ cửa Bạch-đằng ) theo đường châu Vĩnh-an lấy Khâm, Liêm rồi từ đó tới Ung-châu thì chỉ mất vài ngày. Tuy thành Ung vững chắc nó không lấy được nhưng ta há lại không nên lo đường vận lương bị đứt hay sao ? Bị đứt thì lòng dân bị lay động mà bấy giờ dẫu muốn trở về cứu Ung-châu thì trước sau đều có giặc ! Phải nói ti chiêu-thảo nên lo-liệu thế nào rồi mật tâu về ”.

Tống lại sợ các phiên quốc miền tây-nam nhân cơ hội quấy rối và giao-kết với ta để cùng chống Tống. Viên coi Bành-châu ( Tứ-xuyên ) là Lữ Đào có tâu rằng : “ Nếu Giao-chỉ đánh Quảng-tây mà lại kết đảng với Nam-chiếu ( vùng Vân-nam ) thì ta rất đáng lo. Vậy xin sai các châu Lê, Nhã, Nhung, Lô, Thi, Kiềm, thuộc lộ Thành-đô, phủ Chàng và lộ Quí-châu ( giáp vùng Vân-nam ) phải đề-phòng cẩn-thận ”. Tống rất sợ các nước Hạ, Liêu nhân khi Tống bận việc ở phương nam sẽ gây sự ở phương Bắc cho nên vua Tống căn-dặn Quách Quì phải đánh cho chóng thắng. Tháng 5, sứ Liêu đến Biện-kinh. Nghe tin Tống soạn-sửa đánh Lý, sứ hỏi Chu Ôn-Kỳ là viên tiếp sứ rằng : “ Nam-man có việc gì ? ” , Nam man tức là chỉ Giao-chỉ. Ôn-Kỳ trả lời : “ Nam-man cướp. Triều-đình đã sai người dẹp ” .

– Binh dùng có đến một vài vạn chăng ?

– Không đến vài nghìn.

– Ai làm tướng ?

– Quách Quì và Triệu Tiết. 


Ôn-Kỳ trả lời như vậy dấu-diếm sự hành quân vĩ-đại tưởng thế là khôn nhưng vì nói hở tên những tướng quan-trọng đóng ở miền bắc cho nên triều-đình cách chức Ôn-Kỳ, lấy lẽ rằng Ôn-Kỳ không bẩm tin sứ Liêu hỏi dò. 


4.- Trinh-sát và phản trinh-sát

Thời bấy giờ Lý Thường-Kiệt triệt-để lợi-dụng mọi phương-tiện để dò la hành-động của quân Tống và để địch-vận chiêu-dụ người Tống theo và giúp mình. Vua Tống dặn các lộ Quảng-đông, Giang-tây, Phúc-kiến rằng : “ Lúc mộ quân hiệu-dụng phải coi chừng kẻo tụi gian lẫn vào ” , lại bảo Tô Tử-Nguyên : “ Coi chừng dân thuyền-chài dọc bờ bể, nếu chúng ra vào thì phải xét chúng đi đâu kẻo làm trinh-thám cho Giao-chỉ ”. Tống phòng-bị như thế không phải là không có lý vì Lý Thường-Kiệt đã sai nhiều thám-tử vào Lưỡng-Quảng. Ngày 12 tháng 4 vua Tống hạ chiếu : “ Nghe nói Giao-chỉ đã sai nhiều kẻ gian tới thám Lưỡng-Quảng, vậy các chỉ huy, các tướng phải coi chừng, đừng để nó dò được phép công, thủ, tiến, thoái của ta ” . 

Lúc trước khi ta đánh Khâm, Liêm có bắt hơn trăm nhà sư, ta lấy bằng mà quan Tống đã cấp cho các sư ấy rồi giao cho gián-điệp mang vào đất Tống giả làm sư để dò thăm tình-hình, cho nên ngày 28 tháng 8 vua Tống hạ chiếu cho lộ Quảng-tây đình việc cấp bằng cho các sư. Tuy đề-phòng cẩn-thận như thế nhưng dọc bờ bể thám-tử ta vẫn vào nhiều. Ngày 11 tháng 10 vua Tống sai các lộ duyên-hải mộ quân “ để bắt quân Giao trốn vào trong xứ để trinh-thám ” . Đời Lý nước ta dùng nhiều người Trung-quốc. Theo lời Từ Bá-Tường, họ Lý vốn người Mân cho nên những người Phúc-kiến hay được dùng, vua Tống muốn chiêu-dụ những kẻ ấy trở về mới hạ chiếu rằng : “ Nghe nói Phúc-kiến, Quảng-nam có người sang buôn-bán ở Giao-chỉ, nay lại ở đó để Giao-chỉ sử-dụng, vậy chiếu cho người nhà những kẻ ấy phải khai rõ để chiêu-dụ chúng về, ai về sẽ được bổ-dụng ”.

Một mặt khác Tống sai thám-tử để dò-la hoặc làm nội-ứng, hoặc làm hướng-đạo. Đối với những dân khê-động theo ta lúc quân ta vào đánh Tống, vua Tống bảo : “ Dụ chúng cứ tạm theo giặc để cho được yên, nhưng khi đại-binh tới thì sẽ làm nội-ứng, sau khi thắng trận sẽ có trọng thưởng ”. Đối với tù-binh ta, vua Tống dặn : “ Nếu bắt được giặc Giao-chỉ mà chưa giết thì dùng chúng làm hướng-đạo ”. Tống tổ chức gián-điệp ở đất ta hình như không có kết-quả, vua Tống phải chú ý đến việc lấy hư-danh, chức-tước để chiêu-hàng.


5.- An-ủi nạn-nhân

Ta đã thấy rằng Lý Thường-Kiệt tấn-công vào đất Tống cố ý tiêu-hủy các căn-cứ của Tống ở Ung-châu, đốt phá hết quân-nhu lương-thực, phá-phách hết doanh-trại mà Tống có thể dùng để tập-trung quân uy-hiếp nước ta. Nhất là lúc rút về ta đã áp-dụng chiến thuật thanh-dã làm cho quân địch không thể dùng khê-động vào quân sự được nữa. Công việc đầu tiên của Tống bấy giờ là vỗ về dân bị nạn để chúng sống trở lại.

Liền sau khi được tin Khâm, Liêm mất, vua Tống ban chiếu hẹn thưởng cho quân hiệu-dũng nào giết được giặc và cho những kẻ có biệt-công. Các quan văn, võ chết ở 2 châu ấy đều được tặng mười tư. Các người có công hoặc tử-trận đều được thưởng hay ban tặng. Riêng Tô Giàm tử-tiết ở Ung-châu được vua ban tặng rất hậu, thăng chức cho con và sai lập đền thờ. Cũng vì binh-lính Ung-châu theo gương Giàm chống giữ đến chết không chịu hàng cho nên những kẻ chết ở Ung-châu được tặng hậu hơn mọi nơi khác. Các viên tri-châu như Nùng Văn-Phú coi châu Thất-nguyên bị quân ta giết đều được thăng chức. 

Sau trận tấn-công của ta, dân-sự xiêu-giạt, người chết không ai táng. Ngày 6 tháng 3 vua Tống hạ chiếu cho các châu Ung, Khâm, Liêm phải chôn-cất hài-cốt các tử-sĩ và bảo các chùa phải lập đàn thủy-lục đạo-tràng để làm chay cho những kẻ thiệt mạng. Các nơi đều tuân mệnh lập những đàn rất long-trọng, dùng đến một nghìn vị sư. Đối với kẻ bị hại ở Quảng-tây mà không con, vua Tống sai lấy người bà con lập hậu, người ấy cũng được thưởng như con thật. Đối với dân sống-sót, vua Tống tỏ lượng khoan-hồng : tha thuế, thứ lỗi. Vua lại giục các quan địa-phương điều-tra sự thiệt-hại và liệu cách cứu-tế.

Ngày 9 tháng 7 viên coi Liêm-châu tâu rằng : “ Ở Ung và Liêm các trị-sở đã được làm lại, ở Ung-châu đã có sương-binh giúp, xin cho dân Khâm và Liêm khỏi đi vận-tải lương-thực và chỉ phải làm việc ở châu nhà mà thôi ”. Đối với thân-sĩ các nơi bị hại, vua Tống cũng biệt-đãi. Ngày mồng 8 tháng 3 có chiếu lục-bổ cho những người học giỏi ở 3 châu ấy mà không cần thi, ta nhớ rằng chính vì lẽ học giỏi mà không được dùng cho nên Từ Bá-Tường đã phản Tống xin đi theo vua Lý, nhưng bấy giờ mưu gian ấy chưa tiết-lộ nên Bá-Tường cũng được bổ làm tuần-kiểm các châu Khâm, Liêm, Bạch.


6.- Chiêu-dụ khê-động

Về đời Tống, phần tây Quảng-tây và Quí-châu bấy giờ còn là đất cơ-mi nghĩa là không bị chính-phủ trung-ương đặt quan cai-trị. Vùng ấy chia ra từng khoảng rộng như một châu, một huyện, dân-cư ở dọc theo khe hoặc thung-lũng, những khoảng ấy gọi là khê hay động cho nên gọi tên chung là vùng khê-động. Mỗi động có tù-trưởng người thổ-dân tự cai-quản như là một chúa nhỏ, tù-trưởng ấy nhìn nhận quyền lực trung-ương bằng cách nạp thuế, cống, chịu phục-dịch và chịu ban chức-tước. Vùng khê-động giáp nước ta là Tả-giang và Hữu-giang.

Lúc Lý Thường-Kiệt sang đánh Tống, đạo quân Tông Đản và Lưu Kỷ đã đánh vào các khê-động ấy, phần lớn tù-trưởng hàng-phục theo ta nổi lên đánh Tống. Sau khi quân Lý rút về nước, vùng Tả-giang và Hữu-giang hầu như hoàn toàn tự-lập nhưng vẫn sợ vía quân ta, vì vậy trong kế-hoạch đánh Lý, Tống trước hết phải tìm cách kiểm-soát lại vùng khê-động. Trong các chỉ-thị của vua Tống, ta thấy rõ-ràng những phương-tiện Tống dùng để đạt mục-đích ấy, hoặc lấy lợi mà nhử hoặc lấy uy mà hiếp, ép các khê-động bỏ Lý theo Tống, sau đó các quan Tống mộ quân trong các khê-động để đem sang đánh ta hoặc là đoàn-kết các khê-động lập đồn-bảo để ngăn ta không tập-hậu quân Tống được. Đối với các tướng coi khê-động trung-thành theo ta, Tống sẽ dùng võ-lực đánh tỉa dần-dần.

Ngày 15 tháng 2 lúc Triệu Tiết vào bái-từ để xuống miền nam trước Quách Quì, vua Tống Thần-tông dặn-dò căn-vặn : “ Hễ dùng thổ-dân có đưa thực-lợi thì mới sai được chúng, chớ nên chỉ dùng lời ngọt mà thôi. Ngươi sẽ mộ vài nghìn thổ-dân mạnh-bạo, chọn tướng dữ-tợn để cai-quản rồi sai chúng đi ép các dân động, bảo những dân ấy rằng : đại-binh sắp tới qua vùng chúng, đứa nào theo ta thì được thưởng, không theo sẽ bị giết. Nếu chúng quả không theo, hãy giết đi vài ba họ để thị-uy. Lúc binh-uy đã có ta sẽ bắt đầu ép Hữu-giang rồi ép Tả-giang. Sau khi hai đạo ấy theo ta rồi thì ta sẽ đánh sào huyệt Lưu Kỷ ở Quảng-nguyên không khó nữa ”. 

Tống chú ý đến Lưu Kỷ như vậy vì Kỷ là một kiện-tướng giữ vùng Quảng Nguyên sau khi Nùng Trí-Cao chạy sang đất Tống. Ta đã thấy rằng trước lúc đại-quân Lý vào đất Ung, Lưu Kỷ đã xung đột với con Trí-Cao là Nùng Trí-Hội. Theo Tống sử trong đời Lý Thánh-tông thì Lưu Kỷ đã có hiềm khích với Nùng Tông-Đán. Tuy sử ta không hề ghi tên Lưu Kỷ nhưng ta cũng thấy rằng Kỷ giữ một trọng chức lúc bấy giờ. Kỷ có 5.000 quân luôn luôn uy-hiếp hữu-dực quân Tống, không diệt được Kỷ thì đường thông-lộ Ung-châu đến Lạng-châu còn bị uy-hiếp, đường tiếp-tế quân viễn-chinh Tống sẽ bị đe-dọa luôn luôn và quân ấy sẽ bị tập-kích.

Ngày mồng 8 tháng 5 khu-mật-viện Tống tâu rằng : “ Tụi Lưu Kỷ ở Quảng-nguyên trước theo Giao-chỉ vào cướp đất ta, nay sẵn có lòng hiệu-thuận nhưng bị Giao-chỉ ép nên không thể đổi chí-hướng đuợc, y ở đó thám-báo cho Giao-chỉ để lo tự-thủ yên thân, vậy lúc đại-quân tới vùng y đóng thì phải trừ tụi ấy đi ”. Vua Tống muốn dùng lối ôn-hòa, bảo Quì và Tiết nên dụ Lưu Kỷ và hứa sẽ trọng-thưởng cho y, ban chức-tước, vàng, lụa, ruộng đất. Nhân đó vua Tống bảo phải đoàn-kết dân các động để dự-bị việc đánh Lý, dân động hễ ai già thì để ở nhà cày, ai mạnh thì sung làm lính ; cấp cho một ngày một thăng gạo, hai mươi đồng tiền. Vua dặn phải lập trại rào chắn các nơi hiểm-yếu, luyện-tập dân-đinh, xem ai giỏi thì thưởng, ai đói thì giúp.

Ngày 23 tháng ấy vua Tống lại có chiếu nhắc ti An-nam tuyên-phủ rằng : “ Phải đoàn-kết Lưỡng-Giang ( Tả và Hữu ) , hàng ngày cấp tiền ăn cho cường-tráng, sai huấn-luyện vũ-nghệ. Nếu lương khó chở vào thì lấy tiền bạc trả thay. Ở Tả-giang trước đây có những động theo giặc, nay nên dùng đủ cách chiêu-dụ trở lại, nếu chúng không chịu nghe thì liệu cách mà dẹp. Nếu có thể kết-ước được các khê-động ở đất giặc gần biên-thùy thì nên làm rồi thừa-hư mà đánh, tùy tiện thi-hành. Phải tuyển gấp binh-lính, mộ cường-tráng cho được năm sáu nghìn người và sai Lưỡng-Giang đoàn-kết binh-lực giúp nhau ” . Vua Tống đã có ý lấy phẩm-hàm chiêu-dụ các tướng ta giữ biên-thùy từ lúc ban đầu định xuất quân.

Về việc chiêu-dụ khê-động, các tướng không đồng ý với nhau cho nên vua Tống Thần-tông và Vương An-Thạch đã có cuộc tranh-biện mà sử còn chép, cuộc tranh-biện ấy làm cho ta hiểu rõ tình-trạng khê-động lúc bấy giờ. Nguyên ti tuyên-phủ sai Khúc Chẩn là phó tướng đạo quân Tả-đệ-nhị coi việc đoàn-kết và huấn-luyện dân khê-động, An-Thạch không bằng lòng và muốn cử Ôn Cảo. An-Thạch nói : ” Chẩn người miền tây không quen dân-tình khê-động, nên dùng Ôn Cảo ” , vua Tống không bằng lòng, nói : “ Trước, Ôn Cảo đã nói : dân khê-động Lưỡng-Giang theo giặc, ta không thể dụ chúng được nữa. Việc đó nói vậy không đúng ” . An-Thạch cãi : “ Lúc quan-quân chưa tới thì cấm chúng theo giặc sao được, đã không cấm chúng được thì phải nói thật rằng chúng đã theo giặc. Vả hoặc có kẻ theo giặc để làm nội-ứng, đó cũng là hay ”  . Vua bẻ : “ Đã theo giặc thì chúng phải làm con tin cho giặc, đến kẻ già hèn cũng bị giặc dùng ” , An Thạch nói : “ Sức giặc mạnh như vậy quí hồ ta không xui dân khê-động hàng giặc, còn ra cản sao được chúng ” . Vua không bằng lòng, nói dỗi rằng : “ Nếu ta không xui chúng thì chúng không dám theo giặc hết ”. An-Thạch nhắc lại : “ Sức Giao-chỉ có thể uy-chế nổi Lưỡng-Giang mà quân ta đã không tới cứu khê-động, vì cớ gì chúng nó không theo giặc ? ”

Vua kết luận : “ Thế thì chi bằng nay ta đoàn-kết chúng đi ! ” , An-Thạch trả lời : “ Tôi đã bảo làm rồi ” . Vua chê Ôn Cảo : “ Ti tuyên-phủ tự xin đoàn-kết chúng thế mà Ôn Cảo đã cho là không thể làm. Chẩn tuy người miền Tây nhưng cho sự tới Lưỡng-Giang có thể làm, còn Cảo quen với Lưỡng-Giang nhiều lại không dám vào đó ! ” , An-Thạch bênh Cảo : “ Cảo khi trước đã xin vào đó và đã vào sâu để đánh Giao-chỉ ” . Vua hỏi : “ Sau, sao không chịu đi ? ” , An-Thạch trả lời : “ Vì sau khi Ung-châu mất, Cảo tưởng chưa nên đi ” . Vua hỏi lại : “ Vì sao Cảo lại cho rằng đoàn-kết không được ? ” , An-Thạch trả lời : “ Cảo nói rằng dân động cày bừa mà không đủ ăn cho nên khó lòng đoàn-kết chúng, còn như sau này Triều-đình sẽ giúp đỡ chẩn-cấp cho chúng, nếu bấy giờ Cảo còn bảo không thể đoàn-kết được thì sẽ mang tội chứ khi xưa không có điều-kiện thuận-tiện như thế. Vậy tuy Cảo có nói không thể đoàn-kết được nhưng có tội gì đâu ! ” . Vua nói : “ Nay ti tuyên phủ đã xin cho khê-động tiền và gạo ” , An-Thạch nhắc lại : “ Lúc Cảo nói không thể đoàn-kết được thì chưa hề nghe nói có chi tiền gạo cho chúng gì cả ” .

Xét câu chuyện cãi nhau trên, ta thấy vua tôi Tống cũng đồng ý là phải lấy tiền gạo cho dân khê-động thì mới có thể dụ chúng theo và đăng lính giúp Tống, dẫu tốn bao nhiêu cũng phải làm y như lời vua Tống dặn Triệu Tiết : “ Quách Quì tính hà-tiện, khanh nên dụ y rằng triều-đình không sợ tổn-phí đâu ”.


7.- Dùng lục-quân

Chủ-lực Tống là bộ-binh, Quách Quì và Triệu Tiết đều là tướng giữ bắc-thùy quen với lính cưỡi ngựa vùng cao-nguyên và sa-mạc, vả hai mươi năm về trước sở dĩ Địch Thanh thắng Nùng Trí-Cao ở phía nam ải Côn-lôn chính là nhờ kị-binh đưa từ miền bắc xuống, đột-xuất chỗ đất bằng rồi đánh kẹp vào hai bên quân Trí-Cao. Thấy mình thua vì thiếu ngựa, Trí-Cao đã có ý chạy về đạo Đặc-ma tìm mua ngựa. Vì hai lẽ ấy nên trong cuộc nam-chinh lần này, Quách Quì đã đem theo một vạn ngựa. Đại-binh sẽ kéo xuống tập-trung tại Ung-châu, phân-phối ra các trại trên đường thông-lộ sang Quảng-nguyên, Lạng-châu, Tô-mậu và Vĩnh-an, rồi 2 cánh đánh vào Quảng-nguyên và Vĩnh-an để chắn đường quân ta tập-hậu, xong sẽ đưa đại-quân theo đường chính vào Lạng-châu qua các sông Đào-hoa ( sông Thương ) , sông Nam-định ( sông Cầu ) , sông Lô ( Nhị-hà ) đến tận kinh-thành Thăng-long.

Phần tinh-nhuệ của quân Tống là kị-binh, kị-binh là quân xung-phong chọc thẳng hàng-ngũ địch dẫn đường cho Bộ-binh. Kị-binh lại là “ kỳ binh ”, nghĩa là quân đánh những chỗ bất ngờ. Dùng ngựa có thể chạy lanh qua những chỗ gai góc đá sỏi dễ dàng, kị-binh lúc vướng chỗ này thì chạy quanh chỗ khác để bọc hai bên hông quân địch. Nhưng muốn lợi-dụng kị-binh để phá địch thì phải làm sao qua khỏi vùng hiểm-trở, tới chỗ bằng để cho ngựa xông-xáo dễ-dàng.

Bên ta thì thiện-chiến về voi. Trong trận Ung-châu ta đã đem voi theo được huống chi trên trận-địa nước nhà. Thế thủ của ta lại dựa vào sông núi, các đèo hiểm-trở, các sông rộng và sâu. Từ trại Vĩnh-bình vào Lạng-châu phải qua dãy núi rậm có đèo Quyết-lý ở trên đường từ tỉnh Lạng-sơn đến Đồng-mỏ ngày nay, vào khoảng làng Nhân-lý ở phía bắc Ôn-châu. Rồi phải qua dãy núi lèn ( đá không pha đất ) , đá đứng như tường, ở giữa có đường đi rất hiểm : đó là ải Giáp-khẩu tức là ải Chi-lăng ở phía bắc huyện Hữu-lũng thuộc Bắc-giang ngày nay. Cuối đời Đinh, Hầu Nhân-Bảo là tướng Tống đã bị chết ở đó và đời sau Liễu Thăng là tướng Minh cũng bỏ mình ở chốn ấy.

Đèo-ải tuy hiểm nhưng có thể dùng kị-binh vượt qua hoặc len lỏi qua rừng để tránh, còn sông sâu rộng thì ngựa khó lòng qua nổi. Phòng thủ sông khá dễ, đóng cọc và dùng rào giậu ở bờ nam cũng đủ ngăn quân địch, vả chăng thủy-binh ta từ đời Ngô đã lập nhiều chiến-công lừng-lẫy. Vì vậy tướng Tống đã nghĩ đến việc dùng thủy-quân giúp sức Bộ-binh để qua sông.


8.- Dùng thủy-quân

Tống không có thủy-binh sẵn, chưa hề phải vượt bể, bộ-đội Tống không có chiến-hạm. Lúc hữu-sự mới sung-công hay chế tạo thuyền mành, chiêu-nạp hay cưỡng bách dân chài dọc bể tòng-quân. Từ đầu năm có Dương Tùng-Tiên dâng sớ tâu rằng : “ Xuất quân đường bể là tiện. Tôi muốn mạo-hiểm qua đại-dương vào sâu tới góc tây-nam, quanh sau lưng giặc, đánh vào chỗ bỏ trống. Nhân đó tôi xin đem binh bảo Chiêm-thành, Chân-lạp cùng ta đánh Giao-chỉ ”. Ngày 18 tháng 3 vua Tống bằng lòng và bổ Tùng-Tiên làm chiến-trạo đô-giám thuộc An-nam-đạo-hành-doanh nhưng Tùng-Tiên bất lực, đến tháng 6 cũng chưa sửa-soạn được gì.  

Kết quả là không thực hiện được kế nào cả vì thủy-quân Tống không đủ sức.


9.- Chỉ-thị đại-cương

Tống đánh ta chuyến này dự-bị như thế thật là cẩn-thận bởi lẽ Vương An-Thạch lượng thấy sự thắng trận sẽ có ảnh-hưởng tốt cho mình và cho nước rất nhiều. Vả đã hai lần quân Tống đụng với quân ta mà hai lần bị thua : thua Lê Hoàn và thua Lý Thường-Kiệt. Đó là chưa kể bị thua Nùng Trí-Cao nữa. Vì vậy vua tôi Tống không dám khinh-nhờn ta. Trong những lời vua Tống dặn-dò các tướng, hai ý ấy được nhắc tới luôn luôn. Ngày 28 tháng 6 vua dặn Quì rằng : “ Tuy ở biên-thùy bắc Quách Quì đã phân phát kế-hoạch đề-phòng cho các tướng ở lại đó nhưng người bắc thấy triều-đình bận việc nam-chinh chắc muốn quấy, vậy phải lo việc An-nam cho chóng xong ”. Phải đánh chóng xong, đó là câu vua Tống luôn luôn nhắc, vua lại bảo : “ Nếu có một vài khê-động không quan hệ chưa chịu hàng như tụi Dương Quang-Tiềm ở Thiện-châu thì cũng làm ngơ, chớ nên lưu đại-binh lại đó vì sẽ có hại cho việc nam-thảo ”.

Sáu ngày sau có chiếu gửi cho Quách Quì ở Đàm-châu dặn rằng : “ Có tin báo nói giặc đã về sào-huyệt, ngày ngày tụ-đảng tập binh-lính, nhóm họp voi ngựa tập-duyệt phép chạy, phép xung-phong. Thứ Man này vốn là giảo-hoạt, nay nó lo sợ có hoạn-nạn lớn, trí gian của chúng ắt nghĩ ra những ý mà ta không đoán trước được. Vậy ta đáng sợ rằng trong tháng 8 chúng nó lại đánh Ung-châu, hãy xét có tướng-quan nào trung-dũng thì sai dự-bị để tiếp-chiến với chúng. Ta lo sẽ có hại đến đại-sự đó ! Vậy khi đem quân thâm-nhập vào cõi chúng thì phải đánh cho chóng được ” .

Từ khi quân đã xuống miền nam, vua Tống Thần-tông ngay-ngáy lo quân mình đánh sẽ không thắng-lợi. Có Thạch Giám được bổ coi Quế-châu nhân vào chầu vua Tống, tâu rằng : “ Người Giao-chỉ cơ-trí, gian-xảo, thật không thể khinh-nhờn ”. Vua Tống liền sai hoạn-quan Thuấn Cử mang chiếu xuống dụ Quách Quì : “ Theo Giám nói, giặc Giao-chỉ mạnh, gan, liều chết. Chúng chỉ kém quân nước Hạ mà thôi. Theo đó đi đánh lần này có can-hệ đến sự an-nguy cho Lưỡng-Quảng, bốn phương nhìn về, nếu ta không vạn toàn thắng hẳn thì bất-tiện cho nước đó. Nên cẩn-thận ! ” .


10.- Dư-luận

Kẻ muốn chiến-tranh là vua Tống, kẻ mưu chiến-tranh là Vương An-Thạch. Tuy An-Thạch được trở về ngôi tể-tướng nhưng thế-lực cũng kém dần, về nội-trị hay ngoại-giao thường bị chỉ-trích gay-gắt. Lễ-bộ thị-lang Vương Thiều đã tranh-biện kịch-liệt chủ trương không muốn gây việc binh-đao, muốn nuôi dân-lực và bớt phí-tổn cho nước, vì thế Thiều đã sinh hiềm-khích với An-Thạch. Cho đến lão thần Phú Bật đã về hưu cũng còn lo ngại, tháng 6 năm ấy ông dâng sớ tỏ lòng thắc-mắc, lời tâu như sau : “ Tôi về ở chốn cỏ-gianh không biết đến nhân-sự, mới đây nghe Man Lào ( nói quân ta ) phạm cõi gieo họa cho Lưỡng-Quảng. Mà nay dân mất mùa nên tha thuế giúp-đỡ dân, đợi lúc Lĩnh-nam yên-ổn mùa-màng khá rồi lại lo việc đánh Giao-chỉ, thế cũng chưa muộn .....

“ Người ta lại đồn rằng : giặc Man cướp rất nhiều rồi lập-tức trốn về, như thế thì không cần đánh vội. Nhưng vương-sư đã ra đi ắt là để đánh chúng. Quân thủy lục đã tiến, uy đức đã ban. Bệ-hạ nên hạ chiếu cho Quách Quì tới Lưỡng-Quảng xét định kỹ-càng về việc công-thủ thế nào rồi tâu về. Nếu có thể đánh được thì đi, nếu không thì nên liệu cách khác để cho toàn danh-vọng của vương-sư ”. Lời tâu ấy hình như không được vua chú ý tới.

Ngô Sung, một tể-thần ở triều cũng không bằng lòng cuộc nam-chinh nhưng phải gượng theo vua và An-Thạch. An-Thạch bảo : “ Đánh Giao-chỉ chắc được ” , Sung nói : “ Đánh được cũng vô ích ”. An-Thạch muốn cho Triệu Tiết làm thống soái, vua theo ý Ngô Sung lại cử Quách Quì. Tiết đã miễn-cưỡng cử Quì và xin làm phó cho nên hai tướng bất-hòa đến nỗi hiệu-lệnh bất-nhất, tiếng vang về đến triều-đình. Đến lúc đại-quân Tống sắp vào nước ta mà hai tướng vẫn còn cãi-cọ. Khi tin ấy báo về triều, vua Tống phê rằng : “ Quì, Tiết phải biết rằng triều-đình đã giao cho trọng-trách, thế mà ta nghe rằng các ngươi bàn-luận thường không ăn-ý nhau, vậy phàm việc gì cũng phải theo lệnh trên, trong khi thương-nghị chớ có giằng-co nhau ”. 

Sách chép lại chuyện nầy có thêm rằng : “ Nguyên Quì với Tiết vẫn thích nhau cho nên Tiết mới cử Quì. Nhưng lúc gặp nhau bàn nhiều chuyện Quì bị Tiết cãi, lại có hoạn-quan Lý Thuấn-Cử tức Tiết đã gạt bỏ hoạn-quan Lý Hiến cho nên cũng ghét Tiết ” . Các đại-thần khác thấy vua không hỏi ý-kiến triều-đình đều lấy làm bất-mãn, chúng nhao nhao bàn-bạc dâng sớ để can-gián hoặc để hiến mưu, đến nay còn vài bài luận về việc chinh-nam trong đó có hai bài rất dài bàn đủ mọi lẽ : một bài của tiến-sĩ Triều Bổ-Chi và một bài của đại-thần Trương Phương-Bình. Sau đây sẽ lược ý hai bài ấy.


11.-Ý-kiến Triều Bổ-Chi

Triều Bổ-Chi là một văn-thần, thấy dư-luận xôn-xao ai cũng muốn dâng mưu-kế nên cũng dâng sớ. Tuy lời văn sáo, lý-luận suông, nhưng sớ ấy cũng cho ta biết một vài điều về tình-hình binh-bị Tống, Triều Bổ-Chi lại là người độc-nhất bàn đến những cớ có thể làm cho quân Tống có thể thất-bại, những cớ ấy sau nầy sẽ thành sự thật. Bài sớ rất dài, sau đây chỉ lấy đại-ý mà thôi, Bổ-Chi muốn chứng rằng xuất-quân chắc được mà cũng có thể không thành công, mặt nào y cũng viện ra lý mà mặt nào cũng tìm vừa đủ năm lý !


A – Đánh chắc được vì những lẽ sau :


1 ). Giao-chỉ đã cướp đất Tống, Tống đem quân đi hỏi tội là có danh-nghĩa.

2 ). Bầy tôi Tống đều trung-thành và có nghĩa-khí. Xem chuyện Tô Giàm thì rõ. 

3 ). Từ khi Tống Thần-tông lên ngôi, vũ-bị được chấn-hưng. Nay binh mạnh, khí-giới nhiều.

4 ). Giao-chỉ là một nước nhỏ, chỉ cần biên-tướng cũng đủ phá. Thế mà nay phát đại-binh đi đánh.

5 ). Các tướng Tống có nhiều mưu và đã bàn cùng vua kỹ-càng. Còn Giao-chỉ kiêu-căng nhưng ngu-muội.



B – Có thể không thành công vì những lẽ sau :


1 ). Đến lúc cùng-túng quá Giao-chỉ sinh gian-giảo, có thể giả tỏ vẻ hèn để lừa quân Tống.

2 ). Đất Giao-chỉ nóng-nực, nhiều lam-chướng, nhiều rắn-rết.

3 ). Quân Tống phải đi đánh xa lương-thực rất khó liệu đủ. Muốn lấy lương địch để nuôi quân mình thì đất Giao-chỉ nhỏ bé vốn không đủ nuôi dân-chúng.

4 ). Đất Giao-chỉ nhiều rừng núi, khe ngòi. Quân Tống chỉ quen dùng xe, ngựa là lợi-khí đồng bằng. Quân địch lại quen đường lối. Quân Tống dễ bị du-kích.

5 ). Quân Tống mộ ở Hà-bắc, Kinh-đông gồm một nửa lính mới, ấy toàn là những dân du-đãng nay cùng thế mới đăng lính. Chúng rất ô-hợp, khó điều-khiển và không có dũng-khí.


Kết luận đoạn nầy, Bổ-Chi khuyên không nên đem đại-quân đi đánh mà chỉ nên lập đồn giữ biên-thùy và bờ biển mà thôi. Nhưng y vẫn bàn đến chuyện đánh. Đoán kế-hoạch của địch, Bổ-Chi nói :

“ Giao-chỉ không ra ngoài ba kế sau :

“ Một là Giao-chỉ cố-thủ các cửa quan không chịu ra để làm cho quân Tống đóng lâu bị mỏi. Nếu quân Tống rút, quân Giao sẽ tiến. Nếu quân Tống quay trở lại, quân Giao lại về giữ cửa quan. Làm như thế vùng biên-thùy sẽ rất khổ. Đó là thượng sách của địch.

“ Hai là Giao-chỉ bỏ hở các cửa quan để khiêu-chiến, nhử quân Tống vào chỗ đặt phục-binh. Quân Tống sẽ không tiến không lui được. Đó là trung-sách.

“ Ba là Giao-chỉ bỏ các cửa quan, xông ra chiếm đồn trại của Tống. Chúng sẽ bị đánh tan. Đó là hạ-sách ” .

Bổ-Chi ức-đoán hành-động quân ta và đề-nghị cách đối-phó. Y nói tiếp :

“ Giao-chỉ không thể thi hành thượng-sách được vì cần phải có ngoại-viện. Vậy nên sai sứ tới biên-thùy dụ dỗ các man-dân theo Tống để cắt chân-tay của địch.

“ Nhưng Giao-chỉ có thể vừa dùng thượng và trung sách. Bổ-Chi khyên nên đem đại-quân tới gần các cửa quan hoặc trương bày cho địch thấy rồi sai quân tinh-nhuệ đi đường tắt đánh quanh, làm như thế để đối-phó với thượng-sách địch. Hoặc giấu đại-quân rồi sai quân kỵ giả cách trúng kế khiêu-khích của địch, chia ra hai cánh đánh vào địch. Nếu địch lui thật thì cứ đuổi theo ; nếu địch xông ra đánh lại thì giả cách rút lui, nhử địch vào chỗ phục binh của Tống, làm thế để đối-phó với trung-sách địch.

“ Khi Giao-chỉ dùng thượng và trung sách đều thất-bại, cùng túng chúng sẽ xông ra đánh. Đó là hạ-sách của chúng. Giao-chỉ sẽ tan ” .

Bổ-Chi vẫn đuổi theo lý-luận :

“ Bị thua, Giao-chỉ chạy trốn. Tống nên đóng binh lại chớ đuổi theo xa. Hoặc Giao-chỉ chạy vào chỗ hang cùng, theo vào đánh thì như chuột ngoài vào cắn chuột trong hang, chuột trong chắc được. Hoặc Giao-chỉ chạy ra bể, theo thì quân Tống nhát sóng, hơi có gió đã sợ rồi, không biết sẽ chiến-đấu làm sao ? Vả người Giao-chỉ giỏi thủy-chiến, từ xưa truyền lại rằng người Việt lặn xuống nước đội thuyền địch để lật úp. Đỗ Mục nói chúng có kẻ đi chìm dưới đáy bể mươi dặm mà không thở ( ! ) , và nay thuyền buôn thường gặp giặc bể, bị chúng lặn dưới nước đục thuyền ” .

Đó là chứng cớ rõ-ràng quân Tống sợ thủy-quân ta. 

Giấc mộng nhà nho vẫn kéo dài. Tuy Bổ-Chi nói nước Tống đất rộng của nhiều, cần gì lấy đất và của báu Giao-chỉ, chỉ cần phạt-tội cho nó hiệu-thuận mà thôi, nhưng y vẫn bàn đến việc tổ-chức sau khi bình-định. Y khuyên nên theo cũ, chọn tướng-súy tốt và giỏi, đặt làm thứ-sử và thái-thú, mộ thổ-binh để tự-vệ, mộ những kẻ hoặc ham công-danh, hoặc muốn báo thù, hoặc muốn chuộc tội, hoặc bất-đắc-chí tới đó ở. Rồi Bổ-Chi kết luận :

“ Đó là kế lo cho trăm đời ” .

Kể ra lý luận chính trị Bổ-Chi đã rất cao mà óc thực-dân của y cũng đã mạnh !


12.-Ý-kiến Trương Phương-Bình

Sau đây sẽ tóm tắt bài thứ hai mà Trương Phương-Bình đã dâng vua hồi tháng 6 trước khi quân Tống tập-trung tại Ung-châu. Bài này tóm-tắt mọi phương-diện của cuộc chiến-tranh Lý-Tống bấy giờ : cớ ta đánh Tống, việc ta tấn-công Quảng-tây, kế-hoạch Tống báo thù, và dư-luận của phái phản đối Vương An-Thạch. Trong khoảng đầu, Phương-Bình nói việc Lý đánh Tống :

“ Từ đời Lý Nhật-tôn, Giao-chỉ bỏ việc cống. Triều-đình đã rộng lượng tha cho không hỏi tội. Biên thần đã cẩu-thả sao-nhãng sự canh-phòng. Tụi hung-hãn, trộm-cướp, có kẻ bị giam đày mà bỏ trốn. Binh cũng có đứa ngoan-ngạnh, bỏ trốn sang giúp giặc. Cho nên Càn-đức mới dám trái vương-mệnh dùng nhiều người Hoa.

“ Vả ngày trước ( đời Lê Hoàn ), triều-đình sai sứ ( Lý Cảo ) đến Giao-chỉ. Sứ đã thấy trong thành chúng không có dân-cư, chỉ có phủ-xá ẩm-thấp, vài trăm khu nhà gianh để lính ở. Binh-khí chỉ dùng cung nỏ, còn mộc bài, thuẫn, thương, trúc-thương, chúng hèn không dùng nổi. Thế lực chúng không đáng làm cho Trung-quốc sợ. Cho nên ta đã khinh-dể.

“ Trong đời Cảnh-đức ( Tống Chân-tông 1004 - 1008 ) , họ Lý trộm chiếm bờ cõi ( thật ra Lý lên ngôi năm 1010 ) , từ đó đến nay đã hơn bảy mươi năm. Người nước ta lâu ngày không đến đó nên không biết tình-hình hư thực thế nào. Nay nghe nói kinh-đô chúng có thành, hào mấy tầng, binh-lực, dân-chúng sung-túc. Chúng lại đánh được các nước nhỏ lân-bang. Thế-lực chúng so với trước thì mạnh hơn nhiều.

“ Thế mà biên-lại quen thói cũ vẫn khinh thường không lo cho nên mới sinh sự. Man-dân có đứa hung-hãn làm cho Giao-chỉ không chịu nổi. Giao-chỉ tố-cáo thì không nghe, gửi thư kêu thì không chịu nhận. Sự-tình ủng-tắc chứa thành oán giận.

“ Đến lúc chiến-hạm chúng tới bờ bể ta, đại-quân chúng tới gần thành ta thì như là đến chỗ không người, quân ta không lo dự-bị chống lại chút nào. Quân giặc đến đâu thành-ấp đều bị vét sạch. Cướp của-cải, bắt con gái, đàn bà. Chúng tham-lam rất mực, tha-hồ làm khốc-hại. Tôi nghe chuyện mà đau lòng ..... ”

Đoạn thứ hai rất dài, bàn về tương-lai và việc sửa-soạn đánh ta. Sau đây sẽ rút lấy đại-ý mà thôi :

“ Nhưng đó là chuyện cũ. Về tương-lai tôi xin hiến 9 điều :

1. Nay các vùng Hoài, Điện ( kinh ), Lưỡng-Chiết, Giang-đông, Giang-tây, Hồ-nam, Hồ-bắc đều bị đói kém, vậy nên dùng mẹo mà chế giặc, chớ nên dùng binh. Nên chọn 2 thú-thần rất giỏi để trấn-thủ 2 nơi Quảng-châu và Quế-châu, chọn-lọc kẻ giúp việc cho kỹ để trị dân. Đem cấm-binh giữ các lộ Kinh-hồ, mộ thổ-đinh để giữ thành-ấp gần biên-thùy, đóng trại ở các chỗ yếu-hại để cứu lẫn nhau. Làm như thế thì giặc thôi không dám dòm-ngó đất ta nữa.

“ Đó là thượng-sách. Nhưng nếu nghĩ rằng đã cất quân đi thì không lui được, tôi cũng xin hiến những điều sau, gọi là trung-sách.

2. Giặc vào cướp đã trở về sào-huyệt được mấy tháng rồi. Tuy triều-đình đã thưởng công suy ân nhưng còn thiếu, nên ban lời an-ủi xuống Kinh-hồ, Quảng-nam để tỏ lòng thương xót của Bệ-hạ. Nên tha-thứ cho kẻ có tội để cho lại-tốt không có lòng phản-trắc. Nên thưởng các tù-trưởng để chiêu-dụ khê-động. Nên chôn-cất tàn-cốt, tế-tiếu vong-hồn.

3. Sáu lộ đông-nam bị đói, quan không có tiền cứu giúp. Lại thêm các phép thanh-miêu, trợ-dịch, thị-dịch, làm dân khốn-khổ .



CHƯƠNG X : XÂM-LĂNG ĐẠI-VIỆT


1.- Thế thủ ta

Trong nửa năm đầu Tống soạn-sửa đưa quân sang đánh Lý, đến mùa thu bắt đầu kéo xuống Ung-châu, tháng mười một mới đưa quân vào cõi đất Việt. Sự chuyển quân kéo dài trên hơn sáu tháng, lại thêm ở triều Tống, Ngô Sung thay Vương An-Thạch có ý muốn hòa cho nên tướng Tống đến cuối năm Đinh-tị ( 1077 ) mới bắt đầu đem quân vào Việt. Trong thời-gian dài ấy Lý Thường-Kiệt đã sắp-đặt thế thủ sẵn-sàng. Từ tháng 3 quân ta đã rút về nước, Lý Thường-Kiệt soạn-sửa các phòng-tuyến để phòng-bị việc Tống tổng-phản-công. Tuy không có sách nào nói rõ đến mặt trận của ta nhưng theo những chi-tiết kể trong các mục sau, ta có thể biết được đại-cương của chiến-lược phòng-thủ ấy.

Mục-tiêu thứ nhất của Tống là chiếm kinh-thành Thăng-long. Phá lâu-đài, cung-điện, đối với các vua chúa đời xưa tức là phá nước, vả toàn quân tinh-nhuệ là để bảo-vệ kinh-thành. Phá được đô tức là đã đánh tan quân tinh-nhuệ, nếu còn các đạo quân khác thì tiêu-diệt cũng dễ-dàng. Với tín-ngưỡng và luân-lý của ta xưa, lăng-tẩm của tổ-tiên vua can-hệ không khác gì kinh-đô. Mục-tiêu thứ hai của Tống là phá các lăng-tẩm nhà Lý. Lăng miếu các vua Lý đều ở Thiên-đức, làng Đình-bảng, phủ Từ-sơn ngày nay, vậy gần biên-giới hơn Thăng-long. Che-chở cho kinh-thành và lăng-miếu nhà Lý có con sông Nam-định tức là sông Cầu ngày nay, đồng ruộng phì-nhiêu của nước Việt hầu hết đều ở phía nam sông ấy. Quân Tống ốm vì rừng núi, đói vì hết lương, chỉ mong tiến mau đến chỗ đồng bằng nước lành, lúa tốt.

Các đường thông-lộ từ Quảng-tây vào nước Việt tới Thăng-long đều bị sông Cầu chắn. Sông Cầu từ địa phận Cao-bằng chảy đến Lục-đầu hợp với sông Bạch-đằng, từ Lục-đầu ra đến bể là một cái hào sâu và rộng, che-chở cho đồng bằng nước Việt chống lại tất cả mọi cuộc ngoại-xâm bằng đường bộ từ Lưỡng-Quảng kéo vào. Đối với đường-sá từ Ung-châu tới Thăng-long thì sông Bạch-đằng không can-hệ vì đã có sông Lục-đầu là cái hào ngăn trước rồi. Trái lại sông Cầu rất quan-trọng. Thượng-lưu sông Cầu qua vùng rừng núi rất hiểm, chỉ có khoảng từ Thái-nguyên trở xuống là có thể qua dễ-dàng, qua rồi thì có đường xuôi. Nhưng sau sông về phía tây có dãy núi Tam-đảo là một cái thành không thể vượt. Chung-qui chỉ có khoảng từ huyện Đa-phúc đến Lục-đầu là phải phòng-ngự ở bờ nam mà thôi. Trong khoảng ấy, lại chỉ khúc giữa, từ đò Như-nguyệt đến chân núi Nham-biền là có bến, có đường qua sông để tiến xuống miền nam một cách dễ, thẳng và gần.

Xét qua địa-thế ta hiểu rằng Lý Thường-Kiệt đem chủ lực chặn con đường từ trại Vĩnh-bình đến sông Nam-định ( s. Cầu ) bằng cách đặt những doanh đồn và phục-binh ở 2 ải tiếp nhau : ải Quyết-lý ở phía bắc châu Quang-lang và ải Giáp-khẩu ( Chi-lăng ) ở phía nam châu ấy. Nếu 2 phòng-tuyến ấy bị tan thì phải cố thủ ở phòng-tuyến thứ ba tức là nam-ngạn sông Nam-định. Muốn cản quân Tống qua sông, Thường-Kiệt sai đắp đê nam ngạn cao như bức thành, trên thành đóng tre làm giậu, dày đến mấy tầng. Thành đất, lũy tre nối với dãy núi Tam-đảo đã đổi thế sông Nam-định và bờ nam-ngạn ra một dãy thành hào che-chở cả trung-nguyên nước Việt. Thành hào ấy dài gần trăm cây số, hẳn khó qua và dễ phòng-thủ hơn là thành hào một đồn lẻ như thành Thăng-long. Đó chính là cao-kiến của Lý Thường-Kiệt.

Trước thành đất, lũy tre có thủy-quân đậu thuyền ở nam-ngạn sẵn-sàng tiếp-chiến với quân Tống nếu chúng qua sông. Đến đời sau, Hồ Quí-Ly cũng dùng chiến-thuật ấy giữ sông Lô và đóng cọc gỗ giữa sông để làm rào che cho thuyền đậu và lưu-thông dọc theo nam-ngạn, có lẽ Lý Thường-Kiệt cũng có dùng những cọc rào như thế. Đại-đội thủy-quân đóng ở Lục-đầu vùng Vạn-xuân để có thể tiếp-ứng được mọi nơi trên các đường thủy : hoặc lên sông Đào-hoa ( s. Thương ) , hoặc lên sông Lục-nam, hoặc tới sông Nam-định, hoặc tới sông Thiên-đức, hoặc ra cửa biển Bạch-đằng tiếp viện-thủy quân đậu ở sông Đông-kênh. Thế đất Vạn-xuân thật là thế rẽ quạt. Thái-tử Hoằng-chân đóng doanh ở đó, bộ-hạ có thái-tử Chiêu-văn và tả-lang-tướng Nguyễn Căn. Đại-quân Lý Thường-Kiệt đóng dọc theo sau lũy tre chắn đường tới Thiên-đức và Thăng-long.

Trên đây là cách phòng-thủ đường chính-lộ tức là mặt trận trung-ương. Sau đây sẽ xét về trận-thế ở hai cánh. Trên bắc-thùy, thế đất nước Việt như một cung trăng, hai sừng chỉ sang đất Tống. Trên hai góc ấy có quân tả-dực và hữu-dực của Lý là quân phên-giậu hằng ngày.

Năm nghìn quân thổ-đinh giữ châu Quảng-nguyên ở tả-dực. Tướng Lưu Kỷ chỉ-huy, dưới quyền thống lĩnh Lưu Kỷ có nhiều tì-tướng kiệt-hiệt, dòng-giống hay bộ-hạ của Nùng Trí-Cao và Nùng Tôn-Đán. Các con Tông-Đán vẫn giữ các động Lôi-hỏa, Vật-ác, Vật-dương. Các tướng Trí-Cao và Lư Báo, Nùng Sĩ-Trung thủ-lĩnh động Hữu-nông ( Cổ-nông ? ), Hoàng Lục-Phẫn thủ-lĩnh động Lũng-định. Các tướng ấy không những gìn-giữ đất mình mà còn uy-hiếp hậu-phương và đường tiếp-tế địch.

Hữu-dực thì có quân đóng ở trại Ngọc-sơn thuộc Vĩnh-an và thủy-binh rất mạnh do Lý Kế-Nguyên đốc-suất. Có lẽ đại-hạm-đội đóng trong sông Đông-kênh sau cửa Đồn-sơn tức Vân-đồn. Đường bộ qua Ngọc-sơn đi Thăng-long không tiện nên quân đóng ở Vĩnh-an không cần nhiều. Thủy-quân can-hệ hơn vì có nhiệm-vụ ngăn cản thuyền lương và chiến-hạm địch đi vào sông ta để tiếp-tế hay đưa bộ-binh Tống qua sông.

Còn trung-quân tiền-phong thì giao cho phò-mã Thân Cảnh-Phúc đóng doanh ở động Giáp để khống-chế 2 ải hiểm : Quyết-lý và Giáp-khẩu. Gần hai bên tả hữu Cảnh-Phúc có các thổ-binh do các tù-trưởng chỉ-huy : bên tả có Sầm Khánh-Tân, Nùng Thuận-Linh, Hoàng Kim-Mãn giữ Môn-châu và đường qua Bình-gia đến Phú-lương ; bên hữu có Vi Thủ-An giữ châu Tô-mậu và đường từ Tư-lăng đến Lạng-châu. Giá như các mặt trận đều có quân trung-châu thì thế thủ xếp như trên có lẽ sẽ bại Tống từ đầu. Nhưng thổ-quân các châu vội hàng trước đại-quân Tống, quân tiền-phong không giữ nổi các ải. Cuối cùng nhờ phòng-tuyến sông Cầu khéo đặt và thủy-quân ta mạnh cho nên Lý Thường-Kiệt mới ngăn-cản được sức tấn-công quyết-liệt của Tống.


2.-Tống xuất quân

Sau khi nghe Khâm, Liêm mất, vua Tống Thần-tông chọn tướng Triệu Tiết, Lý Hiến, Yên Đạt rồi ban 300.000 quan tiền thưởng cho sĩ-tốt để khao quân. Ngày 23 tháng giêng, vua Tống sai quan lễ-viện Trịnh Ung tế-cáo thần núi Nam-nhạc ở phía nam hồ Động-đình và Trần Đồng tế-cáo thần bể Nam-hải ở Quảng-châu để báo việc sắp xuất quân xuống miền nam. Vua Tống lại ban tiền cho quân lính và dặn rằng : “ Đại-quân xuống phương nam vừa lúc nắng to, phải chinh-thảo xa-xôi, triều-đình lấy làm thương-xót. Vậy nay Trẫm ban-cấp tiền cho, nhưng đợi tới Đàm-châu sẽ phát, rồi đợi khi ra khỏi Lĩnh thì phát lần nữa ”.

Sau khi thay đổi thống-soái, lấy Quách Quì thay Triệu Tiết, vua ban cho Quì 1.000 lượng bạc, 1.000 tấm lụa. Ngày 20 tháng 2, Quì từ-giã lộ Phu-Diên về đến Biện-kinh. Quì vào bái-yết vua Tống, vua đặc-biệt tiếp Quì ở điện Diên-hòa. Vua hỏi phương-lược đánh Giao-chỉ, Quì xin tới Ung-châu rồi sẽ định. Ngày hôm sau vua Tống lại phát thêm tiền để ban cho tướng-sĩ. Ngày mồng 5 tháng 3, vua thết yến đãi Quì ở điện Thùy-củng là điện tư để tỏ lòng quý mến. Vua lại ban cho Quì : cờ, đồ dùng, kiếm, giáp. Sau đó Quì vẫn được lưu tại kinh để bàn mưu-lược và sắp đặt lương-thưởng. 


3.- Dọn đường. Dẹp khê-động

Bấy giờ Quì còn lo việc chinh-phục lại miền khê-động và củng-cố các nơi căn-cứ ở Ung-châu. Ngày 19 tháng 4, Quì sai tướng coi đạo quân hữu-đệ-nhất là Lý Thật đưa quân đi trước, xuống đóng tạm ở thành Ung tuy rằng thành ấy bấy giờ chưa xây lại xong. Nhiệm-vụ của Thật là phòng-bị quân Lý trở lại đánh Ung-châu và giúp-đỡ các khê-động dọc biên-thùy. Quì lại sai Đào Bật và Khúc Trân mang các bằng-sắc vào các khê-động để chiêu-hàng các tù-trưởng. Đào Bật là một văn quan có mưu-trí, tới đạo Tả-giang rồi được bổ coi Ung-châu. Bấy giờ Ung-châu vừa mới bị phá, dân sống-sót còn trốn trong các động núi chưa dám về nhà, Đào Bật một mình một ngựa đem theo chỉ hơn trăm người đi sâu vào khê-động. Trước hết Bật tới Tả-giang chiêu-dụ thổ-dân, dân thấy thế mới dám về làm ăn, nhân đó Bật điểm được 27.000 đinh-tráng. Bật mộ đinh-tráng chia làm ba hạng, lấy 20.000 người giao cho các tướng dùng, phàm các việc vặt như giã gạo, mở đường, đẩy xe, đều dùng dân các động.

Các tù-trưởng khê-động thuộc Ung-châu trước đó đã theo ta, nay nghe quân ta rút và thấy quân Tống kéo tới thì lần-lượt bỏ ta theo Tống như tụi Nùng Quang-Lâm, Nùng Thịnh-Đức giữ cửa ải ở động Hạ-lôi đều hàng Tống từ tháng 5. Cho đến Lưu Kỷ, thủ-lĩnh Quảng-nguyên, Tống cũng muốn dụ. Tống tin rằng Kỷ có lòng muốn hàng Tống nhưng sợ vua Lý nên không dám làm, vì vậy Tống định cách trừ-khử hay cám-dỗ Kỷ. Khúc Chẩn là một võ-tướng có mưu-lược được sai đi cùng hàng-tướng Nùng Tông-Đán tới đạo Hữu-giang.

Nùng Tông-Đán, thủ-lĩnh động Lôi-hỏa, Vật-dương, Vật-ác, có lẽ vừa theo ta đánh Ung-châu nay lại qui-thuận Tống, y được bổ chức đô-giám Quế-châu nhưng các con Tông-Đán vẫn theo Lưu Kỷ. Ngày mồng 3 tháng 6, ti tuyên-phủ nói đã sai Nùng Tôn-Đán tới Hữu-giang kiểm-điểm đinh-tráng để dự-bị đánh Lưu Kỷ và đã sai phó-tướng đội quân tả-đệ-nhị là Khúc Trân đoàn-kết và huấn-luyện các đinh-tráng ấy. Vua Tống hạ chiếu nói rằng : “ Tuy Tông-Đán đã hiệu thuận và dũng-mãnh nhưng các con y còn theo Lưu Kỷ, ta sợ y có ý theo Kỷ nốt, vậy nên chọn các viên-chức có mưu-lược theo Tông-Đán. Còn việc Khúc Chẩn quản hạt thì phải cấp lương-tiền cho đủ. Nếu có thủ-lĩnh động nào có ý làm phản, phải lấy quân-pháp mà trừng trị ” .

Quì và Tiết ra sức chiêu-dụ man-dân. Chúng dùng lợi, dùng uy, dùng những kẻ thân-thuộc các tù-trưởng mà nhử. Có khi lại phao tin rằng kẻ nầy đã hàng để dụ kẻ kia. Dần-dần thế-lực quân Tống ăn sâu vào các động ở trên đất ta. Các tướng ta như Hoàng Kim-Mãn và Sầm Khánh-Tân coi Môn-châu cũng ngầm hẹn qui-hàng. Nhưng ở sâu trong đất Tống cũng còn một vài động không chịu theo như ở Hữu-giang, tụi thủ-lĩnh Thiệu-châu là Dương Tiên-Tiềm và Tiên-Hàm đều nói rằng nếu quân Tống tới đó thì chúng đánh lại. Muốn cho khỏi chậm việc tiến quân và muốn tránh sự chúng vì bị áp-bức quá sẽ giao-kết với Giao-chỉ rồi đe dọa vùng Tương Đàm, vua Tống bảo : “ Nên để yên chúng, nếu chúng có phản thì mới đánh chứ đừng lưu đại-quân lại đó kẻo chậm việc nam-thảo ”.


4.- Chuyển quân. Trận Vĩnh-an

Không biết Quách Quì rời khỏi Biện-kinh vào lúc nào nhưng trong trung-tuần tháng 6, An-nam hành-doanh và quân của bốn tướng thuộc trung-quân đã đóng ở Đàm-châu tức Tràng-sa ngày nay. Các quân kỵ mộ ở Thiểm-tây và Hà-đông lục-tục kéo về kinh và đi xuống miền nam, chúng hẹn trung-tuần tháng 7 sẽ tới nơi Đàm-châu tụ-tập. Muốn phòng-bị quân Lý bất-ngờ đi đường thủy như năm trước vào đánh Khâm, Liêm và uy-hiếp Ung-châu, Quách Quì lúc mới tới Đàm sai viên coi Khâm-châu là Nhâm Khỉ đem quân đánh úp trại Ngọc-sơn gần biên-giới châu Vĩnh-an. Nhâm Khỉ chia quân đi ba đường vào đất Vĩnh-an : một đường từ huyện An-viễn, một đường từ trại Như-tích và một từ đường thủy. Trại Ngọc-sơn không có nhiều quân đồn-thủ nên bị mất. Đó là thắng-lợi đầu tiên của quân Tống trên đất ta.

Ngày 10 tháng 6, Quì tâu : “ Đến ngày 15 sẽ đi Quế-châu và ước-chừng đầu tháng 7 sẽ tới nơi ” . Đúng như vậy, ngày rằm tháng 6, Quách Quì dời bản-hành-doanh từ Đàm-châu xuống Quế-châu. Đường đi mất chừng 14 ngày. Vào đầu tháng 7, hành-doanh đã đóng ở Quế-châu là nơi trị-sở lộ Quảng-tây. Ở đó, Quì được tin ngày 9 tháng 7 , Nhâm Khỉ đã chiếm được châu Vĩnh-an. Ngày 21 tháng 7 , Quì báo thắng trận về triều. Trong lúc ấy tướng Tống sai thuyết-khách vào vùng Tả-giang dỗ các tụi thủ-lĩnh : Hoàng Kim-Mãn, Sầm Khánh-Tân ở Môn-châu hứa sẽ ra hàng.

Trung-tuần tháng 7, hậu-quân đã tụ tập ở Đàm. Cuối tháng 7, Quì hạ lệnh cho chín đạo lục-quân từ Quế-châu tiến xuống Ung-châu, lại sai viên hàm-hạt Quảng-đông là Mân Hòa cùng Dương Tùng-Tiên đem thủy-quân từ Quảng-đông ra bể. Hành-doanh đóng lại ở Quế-châu trong tháng 7 và tháng 8, đến hạ tuần tháng 8 mới dời xuống Ung-châu. Đường đi mất 14 ngày. Thượng-tuần tháng 9, Quách Quì và đại-quân đóng ở Ung-châu rồi phân-phát đóng ở các thành, trại, dọc theo biên-giới các châu thuộc nước ta : Quảng-nguyên, Môn-châu, Quang-lang và Tô-mậu. Tướng Khúc Chẩn đem quân đánh vào động Hạ-lôi thuộc Hữu-giang phía bắc Quảng-nguyên. Nùng Thịnh-Đức ở đó đã theo Tống từ tháng 5. Đào Bật được phái đi nhóm-họp quân thổ-đinh ở Tả-giang và đưa đến Tư-minh để đợi ngày xuất quân.

Vua Tống muốn nâng cao sĩ-khí, ngày 23 tháng 9 có chiếu nói rằng : “ Binh-mã đi An-nam chẳng bao lâu nữa sẽ ra khỏi nước. Phải có gì làm bật sĩ-khí. Trước đây Nhâm Khỉ đánh được trại Ngọc-sơn, công tuy không to nhưng cũng đã lần đầu làm phấn-khích sĩ-tốt. Ai đã lập công thì nên thưởng rồi tâu lên để bá-cáo cho tướng sĩ biết ” . Đầu tháng 10 hành-doanh cũng xuống Tư-minh. Đường đi từ Ung-châu tới đó mất chừng 4 ngày. 

Trong lúc ấy Dương Tùng-Tiên lĩnh thủy-quân muốn theo kế-hoạch của mình vượt bể vào họp với quân Chiêm-thành để đánh miền nam nước Việt nhưng thuyền không qua được đại-dương. Ngày 12 tháng 8 có chiếu bảo Tùng-Tiên thôi đừng đi Chiêm-thành nữa và phải giao trả các bằng không tên, tiết-chế và triều-chỉ cho ti chiêu-thảo và đợi ti ấy phân xử. Dương Tùng-Tiên đành phải theo kế của Tô Tử-Nguyên dọc ven bể sang hải-phận Vĩnh-an vào con sông thuộc nước ta. Sở-dĩ có chiếu ấy một phần có lẽ vì sứ Chiêm sắp tới Tống và miễn cho sứ Tống khỏi phải đi Chiêm. Ngày 16 tháng 8 sứ Chiêm-thành tới cống, Tống khuyên họp quân đánh ta. Ngày 12 tháng 9, Chiêm-thành bằng lòng đưa quân giúp Tống.


5.- Tướng Tống bất-hòa

Như trên đã nói, giữa các tướng Tống có sự bất-hòa ngầm ngấm từ đầu. Nguyên-do sự bất-hòa là ở triều các đại-thần không đồng ý về việc nam-thảo, mỗi người lại bênh một tướng, Vương An-Thạch bênh Triệu Tiết mà Ngô Sung bênh Quách Quì. Ai cũng công kích Lý Hiến nên các hoạn-quan đều oán tức các tướng. Vua Tống đã đề-cử Tiết làm chánh-tướng, thế mà vì một câu hỏi của vua, Tiết đã miễn-cưỡng nhường chức chỉ huy cho Quì. Chắc đó cũng là sự trả thù của tụi hoạn-quan xui nên vì chúng giận Tiết đã bỏ Lý Hiến. Quì được các đại-thần như Ngô Sung che-chở mà Ngô Sung lại chủ-hòa. Lúc quân đã xuống đến Ung-châu mà 2 tướng vẫn còn hục-hặc nhau, nhiệm-vụ mỗi người không rành-mạch, khi bàn việc hai người đôi-co nhau không ai chịu nhường ai. Ngày 12 tháng 9 vua Tống phải hạ chiếu chia phần việc :

1. Tuyên-bố đức-trạch, an-phủ quân-dân ( phát tiền gạo, bằng-sắc ) thì giao cho ti tuyên-phủ ( tức là ti an-phủ, Quì làm chánh, Tiết làm phó ).

2. Mưu-mẹo, phương-lược thì thuộc ti kinh-lược chiêu-thảo ( Quì coi một mình ).

3. Hành-doanh, tướng-hiệu binh-mã thì thuộc quyền ti đô-tổng-quản ( Quì làm chánh, Yên Đạt làm phó ).


Tiết đã được vua Tống giao cho việc lương thực, Quì chia công việc ti đô-tổng-quản với Yên Đạt là viên phó-đô-tổng-quản, còn Tiết là phó-an-phủ-sứ lại không được dự, cho nên mỗi lúc Tiết bàn gì cũng bị Quì bác. Ngày 21 tháng 10 vua Tống phải hạ chiếu trách và dặn : “ Phàm việc gì cũng phải theo lệnh trên, thương nghị chớ giằng-co nhau ”.

Những chuyện bất-hòa nay còn thấy chép thuộc về chiến-lược. Lúc tới Quế-châu, Tiết bàn nên thừa lúc chưa động-binh, sai người vào vùng Lưỡng-Giang chiêu-dụ tù-trưởng, không nên đem đại-quân xuống đóng chỗ lam-chướng và quan-sát địch đã. Quì không nghe cứ đem đại-quân xuống Ung rồi xuống Tư-minh, đóng lại ở Bằng-tường đến bảy mươi ngày. Tiết lại bàn nên dụ Lưu Kỷ và Thân Cảnh-Phúc, Tiết nói : “ Vì mưu của Lý Thường-Kiệt và Lý Kế Nguyên nên Giao-chỉ đã làm loạn. Càn-Đức ( Lý Nhân-tông ) và mẹ ( Ỷ-lan ) oán hai người ấy, nay lại tin vào Nguyễn Thù. Thù vốn có lòng quy-thuận. Vả Lưu Kỷ ở Quảng-nguyên, Thân Cảnh-Phúc giữ động Giáp đều cầm cường-binh. Ta có viên Thành Trạc làm giáp-áp ở trại Hoành-sơn vốn quen thân với Thù và Cảnh-Phúc, tôi muốn sai Trạc mang sắc-bằng vào chiêu-nạp chúng ”. Quì không nghe mưu ấy.

Trong khi các tướng ở ngoài không ăn-ý với nhau thì ở triều, cuộc xung-đột giữa Vương An-Thạch và cựu-phái lại càng kịch-liệt. Tháng 10, An-Thạch phải từ chức, Tống Thần-tông lấy Ngô Sung và Vương Khuê thay, Phùng Kinh được coi việc khu-mật. Sung vốn thuộc phái không thích đánh, Sung đã từng cãi lại An-Thạch rằng : “ Có lấy được Giao-chỉ, cũng vô ích ! ”. Nhưng nay quân đã đến biên-thùy, vô cố lui quân cũng bất-tiện, Sung viết thư cho Quách Quì, nói : “ Về việc quận-huyện bắt phu chậm-trễ, triều-đình đã ban chỉ hặc tội. Về việc sắp-đặt đánh Giao-chỉ, ta đã có kế bàn định rồi. Hãy chỉ nên đóng quân lại để xét kỹ-càng. Thế là hay hơn ”. Quì tính vốn cẩn-thận, chậm-chạp, nay được lệnh như thế lại càng chù-chừ. Quân-lính do các tướng chiêu-mộ lấy thường không theo luật-pháp đến nỗi vua Tống phải hạ chiếu cắt-đặt người cai-quản và bảo phải gia tử-tội. Tướng cũng có kẻ không theo phép-luật như Lý Thực lĩnh đội quân hữu-đệ-nhất đưa cả vợ con đi theo.


6.- Quân ốm, lương thiếu

Tình-trạng quân Tống bấy giờ khốn đốn vì bệnh-tật và thiếu lương thực. Từ khi qua dãy núi Lĩnh gặp mùa nóng-nực quân lính bị đau rất nhiều, đến thượng-tuần tháng chín đã chết mất bốn, năm nghìn trong bốn đạo trung-quân. Vua Tống rất lo ngại, gửi chiếu-chỉ nhiều lần xuống dặn-dò thuốc-thang. Thuốc không khỏi lại sai cúng. Về lương-thực, các viên đốc-sự cũng đã tính-toán mập-mờ, Triệu Tiết được cử trông coi việc ấy từ đầu. Khi tới Hồ-nam, Tiết hỏi những kẻ chuyên-trách phải điều-phát bao nhiêu lương số, có Đường Nghĩa làm chuyển-vận-phán nói : “ Vì không dám làm lỗi quân-kỳ, xin chở tất cả một lần ” , nhưng viên an-phủ-sứ Tăng Bố nói : “ Không thể làm nổi. Phải chở hai lần ” .

Tiết hỏi : “ Đã chở lương tới Quảng-tây được bao nhiêu rồi ? ”, Bố nói : “ Đã có 90 vạn hộc ”. Tiết hỏi : “ Đã có bao nhiêu phu ? ” , Bố trả lời : “ 27 vạn ”. Tiết tính thấy thế là đủ, bèn nói : “ Thôi cần gì làm khổ dân nữa, nếu thiếu thì ta lo cho ” , rồi bảo Nghĩa thôi việc bắt phu ở Hồ-nam. Lúc đến Ung-châu, lương và phu đều thiếu, ngày 12 tháng 10 viện khu-mật phải thúc-giục và dọa : “ Nếu ai thiếu tiền, lúa, cỏ trong việc đánh An-nam thì lúc quân trở về sẽ thu gấp đôi ”. Thế mà cuối-cùng lương vẫn thiếu.


7.- Phòng hông. Trận Quảng-nguyên

Đầu tháng 10, đại quân Tống đóng ở Tư-minh ( Ninh-minh ngày nay ). Tư-minh thuộc trại Vĩnh-bình là trung-tâm-điểm để đi các cửa ải vào những châu Quảng-nguyên, Môn, Tô-mậu và huyện Quang-lang. Quân Tống ở đó bảy mươi ngày. Quách Quì theo lệnh của tể-tướng mới là Ngô Sung đóng hành-doanh ở Bằng-tường ( cạnh Tư-minh ) đợi xem nên hành-động làm sao, Quì nói : “ Quảng-nguyên là cổ họng của Giao-chỉ, có binh-giáp mạnh đóng giữ ở đó. Nếu ta không đánh lấy trước thì sau khi đi sâu vào đất chúng, quân ta sẽ bị đánh cả mặt trước và mặt sau. Lưu Kỷ đóng ở đó là quan-sát-sứ của giặc mà lại là chủ-mưu việc cướp Ung-châu. Nếu ta không bắt được nó thì thanh-thế ta không thể nổi dậy ”.

Trước đó Tống đã dụ Lưu Kỷ hàng nhưng không được. Quách Quì sai viên phó-đô-tổng-quản Yên Đạt đem quân qua trại Thái-bình vào châu Quảng-nguyên. Yên Đạt là một vũ tướng đã lập được nhiều công ở Diên-châu trong khi đánh Hạ, lúc y vào bái-từ để theo Quách Quì xuống miền nam, vua Tống Thần-tông có dặn : “ Khanh danh-vị đã cao, bất-tất phải tự mình xông-pha tên đạn, khanh chỉ nên khuyến-khích tướng-sĩ mà thôi ”. Đạt cuối đầu cảm-tạ và tâu : “ Tôi nhờ uy vua đi dẹp giặc, tuy chết cũng không sợ ”.

Lúc được lệnh vào Quảng-nguyên, Yên Đạt đem theo một tướng giỏi tên là Tu Kỷ giúp mình. Đường vào Quảng-nguyên hiểm-trở nhưng quân Tống đông, Lưu Kỷ sai quân cự-chiến, dân-gian họp nhau chống lại. Vùng bắc Quảng-nguyên có Hoàng Lục-Phẫn ngăn được quân Tống không để chúng cướp phá động mình, nay còn có đền thờ y ở làng quán là làng Lũng-định ở phía bắc phủ Trùng-khánh. Quân Lưu Kỷ cũng chống-cự rất hăng làm cho tiền quân Yên Đạt lâm nguy. Đạt muốn đem quân cứu, một tiểu-tướng hầu gần thưa rằng : “ Tướng-công nên tính đến việc mình trước rồi sẽ tiến quân ” , Đạt trả lời : “ Quân ta đánh đã lâm-nguy, ta há có lòng nào tự bảo-toàn sao ! ” rồi hạ lệnh rằng : “ Ai bàn đóng doanh lại không tiến quân thì sẽ bị chém ” . Đạt liền đem đại-quân tới cứu, quân sĩ Tống bị vây thấy vậy đều phấn-khởi, chúng kêu to lên rằng : “ Quan thái-úy đã tới ! ” , quân Lưu Kỷ bèn giải vây và lui. 

Yên Đạt biết cơ khó lòng bắt được Lưu Kỷ bèn dùng mưu cắt vây-cánh của y. Đạt phao tin rằng Lưu Kỷ đã nhận lời theo Tống và hẹn ba ngày nữa sẽ ra hàng. Các khê-động tưởng thật đều theo Tống. Lưu Kỷ sợ thế cô-lập, ba ngày sau cũng đem gia-thuộc và các động-trưởng ra hàng, ấy là ngày Bính-tuất mồng 4 tháng 12. Quì bắt được 5.000 quân của Kỷ và cứu được 3.000 quân bị Kỷ bắt trước đó. Đạt lại thu được một vạn hộc lương và dân các động cung-nạp thêm 20 vạn hộc, thế là đỡ cho Tống được 10 ngày lương. Yên Đạt sai đốt phá các động để phòng sự quân ta tập kích.

Ti chiêu-thảo báo về, vua Tống hạ chiếu rằng : “ Nếu vì đại-binh tới gần cõi Lưu Kỷ bất-đắc-dĩ mới hàng thì hãy đem Lưu Kỷ và gia-quyến về kinh-đô ”. Bảy ngày sau, các tì-tướng như Nùng Sĩ-Trung và Lư Báo thủ-lĩnh động Bát-tế ở châu Cổ-nông cũng ra hàng rồi cũng bị đem về Biện-kinh cả. Yên Đạt đem quân vào sau đến đâu ? Châu Quảng-nguyên là tỉnh Cao-bằng ngày nay. Cổ-tích trong vùng có thành Na-lữ cách tỉnh-lị chừng hơn 10 cây-số về phía tây-bắc. Theo sách Bắc-thành địa-chỉ, thành ấy do Trương Hương làm tiết-độ-sứ đời Đường đắp lên rồi sau Nùng Tồn-Phúc cũng ở đó. Có lẽ Lưu Kỷ cũng đóng quân ở đó chăng, và Yên Đạt đã đem quân tới gần Na-lữ.

Vậy đầu tháng chạp Quảng-nguyên đã mất. Ý Triệu Tiết là sau khi lấy được Quảng-nguyên, bảo Yên Đạt theo đường tắt xuống Thăng-long tức là đường qua Bắc-cạn, Thái-nguyên ngày nay, Tiết nói rằng : “ Đường tắt từ Quảng-nguyên đến Giao-châu ( Thăng-long ) chỉ 12 trạm, theo đường ấy rất tiện-lợi. Ta nên xuất-kỳ bất-ý đem quân đi đường ấy mà đánh úp, như thế vừa bằng sông vừa bằng bộ, ba đường tiến đánh thế giặc phải chia, chắc ta sẽ thắng ”. Ba đường nói trên có lẽ là đường Quảng-nguyên, đường Lạng-châu và đường thủy từ Bạch-đằng vào.

Quách Quì không bằng lòng kế ấy, bảo Yên Đạt khi đánh xong Quảng-nguyên phải trở lại trại Vĩnh-bình hội với đại-binh ở vùng Tư-minh, Bằng-tường. Yên Đạt đúng lời hẹn bỏ Quảng-nguyên và rút quân về phía đông. Nhưng bấy giờ còn chừng một vạn quân ta đóng ở động Hạ-liên và Cổ-lộng, 2 châu này ở phía nam Quảng-nguyên trên đường Cao-bằng, Thái-nguyên ngày nay, Hạ-liên là đất Ngân-sơn. Trong khi lui quân Yên Đạt sợ bị quân ta đánh úp nên sai Khúc Chẩn quản 3.000 quân kỵ đóng lại, dương-ngôn rằng sắp qua các động ấy để vào đánh Thăng-long. Đạt lại tha tù-binh quê ở các châu ấy để chúng về kể tin bịa ấy, vì thế quân ta không dám động, chỉ ở lại giữ thế thủ mà thôi. Yên Đạt rút quân được vô sự, còn Khúc Chẩn ở lại sau.


8.- Trận biên-thùy : Quyết-lý, Môn, Tô-mậu

Đại-quân Tống bấy giờ ở vùng Tư-minh, Bằng-tường, phía bắc châu Quang-lang thuộc nước ta. Ngày 11 tháng 12, Quách Quì đem quân qua biên-giới. Đại-quân chắc theo cửa ải Nam-quan tiến về ải Chi-lăng tức là đường Hà-nội Nam-quan ngày nay. Mặt tây, Khúc Chẩn rời bỏ Quảng-nguyên tiến quân sang đông-nam lấy Môn-châu một cách dễ-dàng vì các tướng giữ vùng ấy là Hoàng Kim-Mãn và Sầm Khánh-Tân đã ngấm ngầm thông với Tống từ trước. Mặt đông, quân ở các châu Lộc, Tư-lăng tiến vào châu Tô-mậu. Viên châu-mục là Vi Thủ-An đã bị viên chúa trại Vĩnh-bình là Dương Nguyên-Khanh dụ trước cho nên quân Tống chiếm Tô-mậu dễ-dàng.

Mặt giữa, quân tiền-phong vượt núi ở phía nam sông Ô-bì tiến tới huyện Quang-lang. Ngày nay phía nam tỉnh Lạng-sơn còn có làng Quang-lang trên đường thiên-lý phía nam Ôn-châu, chắc rằng đời Lý, huyện-lỵ Quang-lang đóng tại đó. Từ phía bắc xuống phải qua nhiều đèo ải như đèo Kháo-Mẹ, Kháo-Con rồi qua làng Nhân-lý ở bên cạnh Làng-giai hay Đồng-mỏ. Đời Lê, Nhân-lý là một trạm lớn, đèo Kháo-Mẹ, Kháo-Con là hiểm nhất trên đường này. Các sách và sử Tống đều nói rằng quân Quách Quì đánh bại quân Lý ở ải Quyết-lý rồi thừa-thắng lấy huyện Quang-lang. 

Quách Quì sai quân tiến tới huyện Quang-lang. Quân Lý chặn ở ải Quyết-lý, đó là tiền-quân của phò-mã Thân Cảnh-Phúc. Quân Lý đem voi chống lại. Quì sai Yên Đạt, Trương Thế-Cự tiến đánh, Tu Kỷ đi tiên phong, Tu Kỷ đưa quân đi lén tới giết được 66 quân ta nhưng bị voi cản đường, quân Tống không thể tiến. Quì sai quân cung-tiễn-thủ lấy nỏ bắn vào voi, lại sai lấy mã-tấu chém vòi voi. Voi sợ quay chạy dẫm xéo lên quân Lý. Quân Lý tan vỡ, Quyết-lý mất. Quân Tống tràn đến huyện Quang-lang. 

Sách Quế-hải-chí kể chuyện rằng : “ Viên tri-châu Quang-lang là phò-mã bị thua, trốn vào trong bụi cỏ, yhấy quân Tống đi lẻ-loi thì ra giết chết hoặc bắt về chặt ra mà ăn. Người ta cho là một vị thiên-thần ”. Phò-mã nầy chắc chính là Thân Cảnh-Phúc coi châu Lạng. Vậy sau trận Quyết-lý, Cảnh-Phúc rút lui vào rừng động Giáp rồi du-kích hậu-phương quân Tống, rình lúc bất-ngờ đánh úp quân địch làm chúng rất sợ-hãi. Tuy Cảnh-Phúc không những không theo gương các thủ-lĩnh các châu khác qui-hàng giặc mà còn đổi thế thủ ra thế-công bằng du-kích, nhưng cũng không ngăn nổi đại-quân Tống đang ồ-ạt băng ngàn tràn xuống miền nam. Các phủ Lạng-châu và Phú-lương đang sắp qua những ngày quyết-liệt.



CHƯƠNG XI : HÒA VÀ HÒA-BÌNH

1.- Tránh phục-binh : Trận Đâu-đỉnh

Chiếm xong huyện Quang-lang, Quách Quì định kéo quân thẳng xuống Lạng-châu. Đường thẳng là đường từ Ôn-châu đến Phủ-lạng-thương ngày nay, rất hiểm-trở, 2 bên toàn rừng núi. Phía đông có dãy núi rừng man-mác chạy dài qua châu Tô-mậu đến bờ bể. Phía tây có núi đá rất cheo-leo bao-trùm một vùng rất rộng mà nay gọi là núi Cai-kinh hay đúng hơn là núi Bắc-sơn. Núi toàn đá lèn lởm-chởm tràn về phía tây đến sông Phú-lương thuộc Thái-nguyên ngày nay, trong núi có một vài đường hẹp, ngoặt-ngoèo, không quen đường thì khó dò ra được. Đường chính phải qua ải Chi-lăng mà có sách chép là ải Giáp-khẩu. Ngoài đường chính ấy còn có một đường vành xa về phía tây qua xã Bình-gia, châu Vạn-nhai rồi đến Phú-lương, có một lối tắt trong núi qua xã Vạn-linh, đường cuối này tuy hẹp nhưng cũng khá ngắn. Ải Chi-lăng đã làm cho quân Tống khi sang đánh Lê Hoàn bị một phen thất-bại, đại-tướng Hầu Nhân-Bảo đã bỏ mình vì phục-binh của Lê đặt ở đó.

Lần này Lý Thường-Kiệt cũng đặt nhiều quân lính nấp 2 bên cửa ải để đợi quân Tống. Quách Quì dò biết không dám đưa quân qua ải, nhưng bấy giờ đại-quân Tống đã dồn vào chỗ đường độc-đạo như nước chảy vào khe hẹp nên Quì phải tìm đường qua. Quì sai tướng tiền-phong Tu Kỷ đem quân vòng quanh về phía tây, “ Giặc mới đặt phục-binh ở cửa ải Giáp-khẩu để đón quân ta, Quì biết nên đi đường tắt qua dãy núi Đâu-đỉnh mà tiến tới sông Phú-lương ” . Tống-sử và các sách khác chép rằng : “ Quách Quì tiến đóng ở ải Quyết-lý rồi tự đưa binh sang phía tây tiến đến sông Phú-lương ” . Nếu mở bản-đồ vùng này ra xét, ta nhận ra rằng dãy núi Đâu-đỉnh nói trên chắc là dãy núi Bắc-sơn, vả chăng hai chữ Đâu-đỉnh có nghĩa là đỉnh đâu-mâu tức là cái đỉnh bằng kim-loại mà người ta cắm trên mũ. Núi đá lèn có đỉnh lô-nhô như mũi đâu-mâu sắp thành hàng có thể có tên là Đâu-đỉnh-lĩnh. 

Vậy ta chắc rằng sau khi không dám qua ải Giáp-khẩu, Quách Quì đem đại-quân hướng về phía tây vượt qua dãy núi Bắc-sơn để ra chỗ cao-nguyên vùng Yên-thế, Quì đã theo đường tắt qua xã Vạn-linh. Thường-Kiệt không ngờ quân Tống có thể đem đại-quân qua đường hẹp ấy nên chỉ để một ít quân giữ. Tướng tiên-phong Tu Kỷ đưa kỵ-binh đi trước, Kỷ gặp một đoàn quân ta chừng vài nghìn người, quân ta đánh rất gắt, Kỷ phải đánh hết sức mới ra khỏi núi. Tiền-quân qua lọt, đại-quân kéo tràn theo sau, một mặt tiến xuống bờ sông Phú-lương tức là thượng-lưu sông Cầu thuộc địa-phận Thái-nguyên ngày nay, một mặt tiến sang phía đông tới phía nam ải Giáp-khẩu. Quân Lý nấp ở ải bị bọc sau lưng nên lật-đật rút lui vào núi động Giáp để tháo lui về phía đông-nam, liên-lạc với hữu-dực đóng ở vùng Vạn-xuân.

Sau khi quân Lý phải bỏ ải Giáp-khẩu, quân Tống kéo tràn qua đó và thẳng tới sông Đào-hoa, liên-lạc với những quân đã qua dãy núi Đâu-đỉnh rồi chia nhau đóng dọc bờ bắc sông Như-nguyệt ( trung-lưu sông Cầu ). Trong lúc ấy đạo quân Khúc Chẩn cũng từ Quảng-nguyên tiến tới phía đông-nam, Chẩn tới châu Môn, thủ-lĩnh châu ấy là Hoàng Kim-Mãn theo hàng, Kim-Mãn theo Chẩn tới sông Phú-lương họp với đại-quân, chắc rằng Khúc Chẩn đã đi đường Bình-gia, Vạn-nhai theo dọc phía tây dãy núi Đâu-đỉnh để vào tỉnh Thái-nguyên ngày nay. Các đạo quân Tống lần-lượt theo con đường từ bắc xuống nam dồn vào trước cái hào sâu thiên-nhiên là sông Cầu. Các quân ấy đóng trên bờ từ khoảng tỉnh-lỵ Thái-nguyên đến vùng trước Thị-cầu, sách Tống-hội-yếu chép : “ Ngày 21 tháng chạp, quân Quách Quì tới sông Phú-lương ” . Quân Lý bắt đầu một trận phòng-thủ vĩ-đại.


2.- Tiền-phong qua sông : Trận Như-nguyệt

Thế là sau khi vượt gần vạn dặm, quân Tống đã đến trước trung-thổ nước ta. Qua được sông Như-nguyệt thì Tống chắc khuynh-đảo được lăng-tẩm họ Lý và cơ-đồ Đại-Việt, Quách Quì sửa-soạn qua sông. Từ bờ sông Như-nguyệt đến Thăng-long, gần nhất và không bị trở-ngại nhiều là đường đi từ làng Như-nguyệt ở cửa sông Cà-lồ chảy vào sông Cầu tới bờ sông Nhị phía tây-bắc hồ Tây, đường ấy chỉ dài chừng hai mươi cây-số. Phía tây bến đò Như-nguyệt còn có những cồn núi cuối cùng của dãy núi Tam-đảo ngăn-cản, từ đó sang phía đông chỉ có đồng-bằng, qua sông chỗ nào cũng dễ-dàng, lúc qua rồi thì gặp đồng ruộng phì-nhiêu, lương-thực nhiều, phu-phen sẵn, muốn qua sông Lô cũng không khó nữa. Vậy nên quân Tống ở mặt tây đổ dồn xuống trước bến-đò Như-nguyệt, đó là hữu-dực do tướng Miêu Lý quản-lĩnh, giúp việc dẫn đường có hàng-tướng Hoàng Kim-Mãn mà Khúc Chẩn đã đem theo.

Đại-quân Quách Quì đóng cách đó sáu mươi dặm về phía đông, sáu mươi dặm tức chừng 30 cây-số. Tính theo bờ sông khuất-khúc ta thấy rằng đại bản-doanh đóng ở trước xã Thị-cầu ngày nay, đó chính là đường cái đi Thăng-long. Từ hành-doanh sang phía đông, đường đất ở bắc-ngạn sông Nam-định bị dãy núi Nham-biền chắn ngang, ngăn đường tới Vạn-xuân. Tả-dực quân Tống hình như không qua dãy núi nầy vì phải quay mặt về hướng đông để đối-phó với quân Thân Cảnh-Phúc đóng vùng động Giáp. Nói tóm lại phòng-tuyến của Tống theo dọc bờ sông Cầu ngày nay, từ địa-phận huyện Hiệp-hòa qua huyện Việt-yên, đến chân núi Nham-biền ở huyện Yên-dũng, rồi chạy lên phía đông-bắc đến nam-ngạn sông Thương. Khoảng phòng-tuyến chính dài ba muơi cây-số trải dài từ trước bến đò Như-nguyệt đến chân núi Nham-biền. Quân Tống chực qua sông ở khoảng ấy.

Còn quân Lý thì tiền-quân mai-phục ở ải Giáp-khẩu đã rút lui về động Giáp để xuống miền Vạn-xuân, đại-quân cũng rút lui về phía nam sông Nam-định, đó là phòng tuyến thứ ba của quân Lý. Như trên đã nói, sông Nam-định cũng là phòng-tuyến cuối-cùng mà Lý Thường-Kiệt phải đem toàn-lực giữ vì nó che-chở cho lăng-tẩm nhà Lý ở Thiên-đức, cho đồng-ruộng của dân-gian, và vì nó cũng là cái hào ngoài cho đô-thành Thăng-long. Lý Thường-Kiệt đã sai đắp đê nam-ngạn cao như bức thành đất, ngoài ra còn đóng cọc tre mấy tầng để làm giậu. Chiến-thuyền đều rút về bờ nam sẵn-sàng đón đánh quân địch nếu chúng chực qua sông, đại-quân Lý chắc rằng đóng ở Thiên-đức và Thăng-long. Thủy-quân một phần do Lý Kế-Nguyên đốc-suất giữ sông Đông-kênh để chặn thủy-quân Tống không lọt vào nội-địa tiếp-viện Quách Quì , một phần đóng ở Vạn-xuân để tùy cơ ứng-biến.

Phòng-tuyến quân ta rất kiên-cố mà Tống lại không có thuyền để qua sông, thủy-quân cũng không thấy tới, Quách Quì sẵn tính cẩn-thận lại muốn đợi thuyền từ bể vào cho nên hạ lệnh không cho các tướng tự-tiện tấn-công. Nhưng viên châu-mục Hoàng Kim-Mãn mách với Miêu Lý biết rằng đường từ bến-đò Như-nguyệt đến Thăng-long rất gần, Miêu Lý trình với Quách Quì việc ấy. Y nghĩ rằng đại-quân địch còn đóng ở động Giáp chưa kịp rút về, nên thừa-hư mà qua sông ở bến đò Như-nguyệt, kể ra địa-điểm và thời-gian cuộc tấn-công khởi-thủy chọn như thế là xác-đáng. Y nói : “ Giặc đã trốn đi rồi. Xin cho quân qua sông ”, Quách Quì miễn-cưỡng bằng lòng. 

Miêu Lý sai buộc phù-kiều trước bến đò Như-nguyệt rồi hẹn với tướng tiền-phong Vương Tiến đem quân qua sông trước, Hoàng Kim-Mãn dẫn đường. Quân Lý Thường-Kiệt cản lại, Vương Tiến thấy thế, sợ quân ta dùng cầu qua bắc-ngạn vội sai quân cắt đứt cầu. Hậu-quân Tống không sang sông kịp, quân tiền-phong tiến gấp về phía Thăng-long, có kẻ chỉ cách kinh-đô chừng mười lăm dặm. Quân ta phản-công kịch-liệt, quân Tống lâm-nguy, viện-binh phải chèo bè sang tiếp-cứu nhưng bị quân ta ngăn không đổ-bộ được. Thế quân Tống bị đứt, Quách Quì phải ra lệnh gọi Miêu Lý trở về. 

Tuy quân Tống phải lui nhưng thế vẫn mạnh cho nên tụi Miêu Lý trở về được vô-sự. Về sau lúc vua Tống thưởng công, Miêu Lý được phong tước tử và gần hai trăm quân được thưởng vải hay thăng chức đều nhờ việc sang sông táo-bạo lần này. Tụi Vương Tiến, Bình Viễn và Lưu Mân bị kết tội đã vội cắt phù-kiều nhưng vì có công đánh Quảng-nguyên, Quyết-lý nên được tha khỏi tội chém. Trận Như-nguyệt rất kịch-liệt, quân ta có khi đã lâm vào thế khốn. Muốn cổ-vũ binh-sĩ, Lý Thường-Kiệt sai người giả làm thần-nhân nấp trong đền Trương Hát ở bờ nam cửa sông Như-nguyệt, đọc thơ mắng giặc và báo trước rằng giặc sẽ thua : 

“ Nam-quốc sơn-hà Nam-đế cư. 
Tiệt-nhiên định phận tại Thiên-thư ; 
Như hà nghịch-lộ lai xâm-phạm ! 
Nhĩ-đẳng hành khan thủ bại hư. ”

nghĩa là :

Sông núi nước Nam vua Nam coi. 
Rành-rành phận định ở sách Trời. 
Cớ sao lũ giặc sang xâm phạm ! 
Bay sẽ tan-tành chết sạch toi !

Sách chép tiếp : “ Đang đêm nghe tiếng vang trong đền đọc bài thơ ấy, quân ta đều phấn-khởi. Quân Tống sợ táng-đảm không đánh đã tan ”. Trận này rất quyết-liệt và định-đoạt sự thắng-phụ sau này, các bia và sách ta đều ghi trận sông Như-nguyệt và cho đó là một cuộc đại-thắng. Đó cũng hợp với lời chép trong sách Tống. Quách Quì cũng nhận là thất bại, bắt tội Miêu Lý đã trái lệnh trên, Lý trả lời rằng Quì đã cho phép sang sông, Triệu Tiết cũng bào-chữa hộ cho nên Lý mới được tha. 


3.- Tống tấn-công thất bại : Trận Nam-định

Sau khi thất-bại ở đò Như-nguyệt, Quách Quì không mong chọc-thủng phòng-tuyến quân ta một cách bất-ngờ và đành chịu đóng quân, đợi thủy-quân tới đón qua sông. Nguyên trong kế-hoạch đã dự-định, hai tướng Hòa Mân và Dương Tùng-Tiên phải đem thuyền vượt bể, vào trong sông thuộc nước ta để liên-lạc với lục-quân và đón quân qua sông, nhưng thủy-quân đã thất-lợi ngay ở vùng biên-giới không liên-lạc được với Quách Quì. Đợi mãi không nhận được tin-tức gì của tụi Mân và Tùng-Tiên, Quì tự-liệu để tổng-tấn-công. Quì sai đóng bè rất lớn có thể chở mỗi lần 500 quân, bè đi lại nhiều lần, đổ bộ lên nam-ngạn những đạo quân khá mạnh. Quân tiên-phong đổ-bộ xông tới áp giạu, vừa chặt vừa đốt nhưng giạu dày mấy tầng không phá được. Quân Lý trên bờ cao đánh xuống. Quân Tống rất khốn-đốn, muốn trở về cũng không được vì bè đã về bắc-ngạn để chở viện-binh sang.

Quân ta chép giết quân địch đã đổ-bộ. Phần bị chết, phần xin hàng, đạo quân đã qua sông hoàn-toàn tan vỡ. Trên đây là lời của Chính Thúc do Tô Bình kể lại, 2 ông họ Trình bàn thêm rằng : “ Tranh nhau chỉ hai mươi lăm dặm. Muốn qua sông lần nữa nhưng không có thuyền, không có lương để đóng binh lâu. Lo việc nước mà lầm như vậy chưa từng thấy ”, thế là mộng-tưởng qua sông của quân Tống bị tiêu-tán. “ Muốn qua sông lần nữa nhưng không có thuyền ! ” , sự thất-bại của Tống trong việc hành-quân vĩ-đại này được tóm-tắt trong lời phê-bình ngắn-ngủi ấy.

Quì đóng quân lâu đợi thuyền không thấy. Có lúc thám-tử về báo có thuyền từ phía đông lại, tưởng là thủy-quân của Hòa Mân và Dương Tùng-Tiên đến, quân-sĩ Tống rất mừng. Lúc thuyền tới nơi “ lại hóa ra hàng vạn quân Giao-chỉ, cổ-tháo mắng chửi quan-quân ”. Quách Quì sợ quân mình khinh-địch lại càng cấm ngặt không được tấn-công nữa, lệnh ban ra rằng : “Ai bàn đánh sẽ bị chém !” . Quân Lý cũng thỉnh-thoảng qua sông khiêu-chiến, có lúc cưỡi thuyền con chèo sang áp bắc-ngạn, tướng Tống là bọn Diêu Tự đưa tinh-binh hết sức giữ bờ, quân Lý không lên cạn được. Triệu Tiết sai quân-sĩ vào rừng đốn cây làm những máy bắn đá, máy này có một cái cần, ở một đầu có bộ-phận để những viên đạn bằng đá, cần trương lên rồi bật làm cho đá ở đầu cần bắn đi xa. Tiết dùng công-cụ ấy phá thuyền đậu ở nam-ngạn và để đánh lui thuyền ta mỗi lúc quân ta tấn-công sang.

Hai bên giằng-co nhau hơn một tháng, đối-ngạn nhìn nhau, không ai dám quyết-liệt tổng-tấn-công nữa. Viên chuyển-vận phó-sứ Quảng-tây Miêu Thì-Trung bàn rằng : “ Quân ta không có ý tiến đánh thì chắc rằng giặc sẽ đi đường tắt tới để mong khi ta không phòng-bị, may phá được ta chăng. Ta nên để chúng làm như vậy, hễ chúng có thua, thế cùng rồi mới chịu hàng, ta nên bí-mật phòng-bị đợi chúng ”. Yên Đạt cũng đồng ý và còn chủ-trương khiêu-khích quân Lý để nhử tới. Đạt dẫn sách Binh-thư, nói : “ Nhử người tới đất mình lợi hơn mình tới đất người. Vậy ta nên giả cách không phòng-bị, chúng nó ắt sẽ tới đánh ta ” . Mưu này sắp được thi hành, quân Thường-Kiệt sẽ sa vào bẫy ấy.


4.- Lý tấn-công thất-bại : Trận Kháo-túc

Thám-tử Tống lại báo rằng ngoài sông Kháo-túc có thể lấy được, Quách Quì muốn tới đó nhưng nghi ta có đặt phục-binh cho nên Quì dẫn theo 5.000 kỵ-binh người phiên-lạc tức là người thổ-dân ở phương bắc. Sách Đàm-phố chép việc này không nói rõ sông Kháo-túc ở đâu, nhưng ta thường thấy tiếng kháo dùng ở miền Lạng-châu để chỉ tên các núi, cũng có khi viết khâu hay khảo, đó là tiếng thổ nghĩa là núi, ví dụ Kháo-mẹ, Kháo-con, Khâu-ôn. Trong một câu sau ở sách ấy lại chép sông Kháo ( bỏ chữ Túc ), tiếng Kháo và Cầu rất gần nhau. Lại xét trận-thế sau đây và lời của sách Tống ta có thể nghi rằng sông Kháo-túc nầy là một khúc sông Cầu khoảng kề phía đông-nam núi Nham-biền, có lẽ tên núi ấy là Kháo-túc chăng ? Tên sông cũng lấy tên núi ở cạnh bờ mà gọi.

Ý chừng phòng-tuyến của ta từ chân núi Nham-biền đến Vạn-xuân không kiên-cố như ở phía tây cho nên Quì nghĩ qua sông ở khoảng ấy dễ. Lý Thường-Kiệt sai các hoàng tử Hoằng-chân, Chiêu-văn đem thuyền chở quân đến chống lại. Hoằng-chân có nuôi riêng 500 quân đặc-biệt, cấm mọi điều thị-dục, dạy cho trận-pháp. Đội quân riêng ấy rất giỏi, hiệu-lịnh rất nghiêm, người nào cũng cầm một cái kim-bài để làm hiệu riêng. Hoằng-chân từ phía đông đem 400 chiến-hạm chở vài vạn quân tới. Quân quát-tháo ầm-ỹ. Theo kế-hoạch Yên Đạt đã bàn, Quì rút quân. Quân ta đổ-bộ lên bắc-ngạn sông đuổi đánh quân địch. Tiền-quân của Tống thua, Quách Quì phải cho thân-quân tới cứu, tụi Yên Đạt cũng tiến theo.

Quân ta bấy giờ đã tiến sâu vào đất bằng, có lẽ là mé tây núi Nham-biền. Quân Tống phản-công mạnh. Quân ta lui một ít. Quì sai các tướng Trương Thế-Cự, Vương Mẫn đưa kỵ-binh ra giúp sức. Giới Định đặt phục-binh ở trong núi bấy giờ cũng đổ ra. Quân Tống giết chừng vài nghìn quân địch. Trên đất bằng kỵ-binh Tống rất thắng lợi, quân ta bị rối loạn, rút lui hỗn-loạn, tranh nhau sang sông trở về bị chết đuối rất nhiều, nước sông ba ngày chảy không hết xác. Ta ghé thuyền đưa quân về bị quân Tống bắn đá xuống như mưa làm thuyền đắm, 2 hoàng-tử Hoằng-chân và Chiêu-văn đều bị chết chìm xuống sông. Thuyền của đội quân riêng Hoằng-chân bị đắm nhưng ai cũng cầm vững kim-bài mà chết, tả-lang-tướng Nguyễn Căn bị tướng Tống là Đặng Trung bắt.

Trận Kháo-túc nầy là cuộc đại tấn-công của Lý Thường-Kiệt nhưng thất-bại. Các sách và sử Tống đều cho là một cuộc đại-thắng của Tống và thường chép “ đánh đại-bại quân Giao-chỉ ở sông Phú-lương ” ấy là muốn nói trận này. Quân ta tấn-công bất-lợi bèn đóng giữ bờ nam sông. Quân Tống muốn sang mà thuyền không có, hai bên cầm-cự nhau đã 40 ngày. “ Đường chỉ cách 25 dặm mà không thể nào vượt qua được ”, Quách Quì đợi thủy-quân mãi nhưng không thấy đến.


5.- Thủy-chiến : Trận Đông-kênh

Nguyên là tụi Hòa Mân và Dương Tùng-Tiên đã đem thuyền sang hải-phận ta, muốn theo dọc sông Đông-kênh để vào cửa Bạch-đằng nhưng gặp thủy-quân của Lý Kế-Nguyên chặn lại ở hải-phận Vĩnh-an. Các tướng như Trương Thuật, Bùi Cảnh, Bành Tôn đều hăng-hái chiến-đấu nhưng cũng không tiến nổi, phải lùi về đóng ở cửa sông Đông-kênh, có lẽ là cửa Tiên-yên ngày nay. Tùng-Tiên quân tuy ít nhưng cũng gắng tiến sâu vào cõi ta, gặp thủy-binh ta đánh nhau lớn bé đến mười trận. “ Tuy không giết được nhiều quân địch nhưng cũng không đến nỗi thua ”, đó là lời bào-chữa cho Tùng-Tiên của vua Tống trong chiếu ngày 23 tháng 2 năm Mậu ngọ. Thật ra thủy-quân Tống bị thua luôn, quân-lính bị thương nhiều.

Tùng-Tiên đậu thuyền ở cửa sông Đông-kênh, đợi tin lục-quân nhưng không biết tin-tức và tình-trạng của đại-binh ra sao. Y bèn sai hai tướng hiệu-dụng là Phàn Thật và Hoàng Tông-Khánh vượt bể vào biên-giới miền nam nước ta để dò tình-hình và khuyên Chiêm-thành đừng giúp ta. Tùng-Tiên lại khuyên Chiêm-thành nên đem quân chắn các đường từ nước ta vào nước ấy để phòng khi quân ta bị quân Quách Quì đuổi, phải chạy trốn xuống phương nam. Chiêm-thành nghe lời và có đưa 7 ngàn quân chẹn các đường quan-hệ.

Nhiệm-vụ đầu của thủy-quân là xui Chiêm-thành đánh ta nhưng không đạt, mà quân Tùng-Tiên cũng không lọt được vào sông ta trợ-chiến cho lục-quân được. Không có liên-lạc với Quách Quì, Tùng-Tiên đỗ thuyền đợi. Đến lúc có lệnh đi đón về mới biết đã hòa-bình ! Ngày 8 tháng 3 năm Đinh-tị , vua Tống hạ chiếu nói rằng : “ Nếu Dương Tùng-Tiên chưa về thì cho quân đi tiếp-viện ” . Ngày 20 tháng ấy, Tùng-Tiên về đến nơi. Thủy-quân Tống đã hoàn-toàn thất-bại vì không tinh-nhuệ bằng thủy-quân ta. Sự thất-bại về chiến-thuật của thủy-sư như thế đã làm hỏng cả chiến-lược của Quách Quì.


6.- Tống lui quân

Sau khi quân ta thất-trận ở Kháo-túc mất 2 hoàng-tử, Lý Thường-Kiệt nghĩ đến kế hoãn-binh. Vả ta biết quân Tống cũng đã mỏi-mệt lắm rồi, hễ chúng rút quân về thì quân ta lại khôi-phục dễ-dàng những châu đương bị chiếm, vì vậy Thường-Kiệt bèn “ dùng biện-sĩ để bàn hòa. Không nhọc tướng-tá, khỏi tốn máu-mủ mà bảo-an được tông-miếu ”. Ông sai sứ tới doanh Quách Quì nói : “ Xin hạ chiếu rút đại-binh về thì sẽ lập-tức sai sứ sang tạ tội và tu-cống ” , ông lại bằng lòng nhượng đất cho Tống. Sứ-giả là viên văn tư-sứ Kiều Văn-Ứng nhận với Quách Quì rằng : “ Chỗ nào quân Tống đã chiếm tức là đất Tống ”. Ông lại bào-chữa cho vua Lý, đổ lỗi việc đánh Ung-châu cho người Tống là Từ Bá-Tường đã xui-giục .

Về mặt Tống, lương-thảo rất thiếu-thốn. Từ khi đại-quân vào đất ta, phu khuân-vác lương-thảo không đủ số, viên chuyển-vận phó-sứ Quảng-tây Miêu Thì-Trung phải tâu việc ấy về triều. Vua Tống hạ-chiếu nói : “ Vì số phu không đủ cho nên binh phải dừng lại lâu như thế. Vậy phải bắt phu cho đủ, nếu bắt không đủ bảy phần mười thì châu-quan phải phạt một phần và huyện-quan phải phạt hai phần ..... ”. Về sau khi kê công-tội trong việc nam-chinh, Triệu Tiết bị khiển-trách vì để thiếu lương. Chính Thúc kể chuyện thiếu lương phải thở ra câu này : “ May có lời giặc xin qui-thuận, không thì làm thế nào ? ”.

Tình-hình quân quẫn-bách như thế ! Mà Thăng-long gần như thế ! Các tướng Tống không biết nghĩ nên gắng tiến hay nên lui. Bấy giờ đã cuối tháng giêng năm Đinh-tị , mùa nóng gần tới, các tướng Tống đều thoái-chí, cùng bàn rằng : “ Lương ăn của chín đạo quân ta đã cạn. Lúc ra đi quân có 10 vạn, phu có 20 vạn. Vì nóng-nực và lam-chướng, quân phu đã chết mất quá nửa rồi, còn non nửa cũng đều ốm ”. Quách Quì kết-luận rằng : “ Ta không đạp đổ được sào-huyệt giặc, bắt được Càn-đức để báo mệnh Triều-đình là do bởi Trời ! Thôi ta đành liều một thân chịu tội với Triều-đình để mong cứu hơn 10 vạn nhân-mạng ” . Quì bèn quyết-định nhận lời sứ ta mà lui quân. Quì cho người mang biểu của vua Lý về triều Tống và hẹn với sứ ta tới đó nhận trả lời.

Quách Quì đã định ngày rút quân nhưng sợ quân ta theo đánh nên không ban bố cho mọi người biết trước. Đang đêm Quì cho lệnh rút lui lập-tức. Các bộ-binh và kị-binh không kịp sắp thứ-tự, hoảng-hốt đạp xéo nhau mà đi. Tống-sử chép việc nầy kể thêm rằng : “ Quân Giao-chỉ đóng bên kia sông rình thấy như vậy nhưng biết rằng tướng Đào Bật cầm hậu-quân đi sau cho nên không dám đuổi theo ” . Đào Bật là một tướng văn võ kiêm toàn, từ khi đánh Quảng-nguyên đến khi tới Phú-lương, Quì đã sai Bật cầm quân giữ mặt hậu. Nay quân rút, Bật cũng có trách-nhiệm che-chở cho đại-quân lui để khỏi bị quân ta theo đánh. Bật, rất điềm-tĩnh, ra lệnh cho quân-sĩ mình không được nhôn-nhao, đợi sáng rồi mới sắp hàng chỉnh-tề thong-thả rút lui. Quân Quách Quì nhờ đó được vô-sự . Các sách không chép rõ ngày rút quân. Ta biết rằng Quì đến đó ngày 21 tháng 12, vậy ngày rút quân về vào đầu tháng hai năm Đinh-tị 1077. Lý Thường-Kiệt cũng muốn hòa-bình nên không thừa-cơ bội-ước và để quân Tống rút lui yên-ổn.


7.- Giảng hòa

Quân Tống đã vượt hàng ngàn cây-số, qua biết bao núi đèo mới tới sông Phú-lương. Chỉ còn vài chục cây-số là đến Thăng-long, thế mà triều-đình Tống đợi mãi không được tin báo thắng-trận. Ngày đầu năm Đinh-tị ( 1077 ) vua Tống Thần-tông nóng lòng, phán rằng : “ Triều-đình muốn biết sự động-tĩnh của quân An-nam-hành-doanh từng ngày một. Vậy sai Chu Ốc hiện sung chức quyền-phát ở Ung-châu phải tâu về hằng ngày. Phu mang điệp sẽ dùng thứ bài dài đặc biệt, viết chữ lớn để xa trông rõ, đề chữ Khu-mật-cấp-tốc văn-tự ( văn-tự cấp-tốc của bộ quốc-phòng ) và sẽ chạy qua các trạm không phải dừng ”. Nhờ vậy vua Thần-tông theo dõi đại-quân tiến hằng ngày.

Hạ-tuần tháng 2 được tin Quách Quì nhận lời đình-chiến với Lý, đã lui quân và thôi không tìm cách vượt bốn năm chục dặm cuối-cùng để hạ Thăng-long nữa. Tuy nhận được biểu của vua Lý khiêm-tốn xin nhận lỗi, chịu nhường đất và trở lại tu-cống như xưa nhưng Tống Thần-tông lấy làm bất-mãn, muốn sai quân tiếp-viện xuống để gắng qua sông. Có viên giám-sát ngự-sử Thái Thừa-Hi dâng sớ can ngăn. Vua Tống cũng cho lời tâu ấy là phải. Vả Lý Thường-Kiệt cũng đã giữ thể-diện cho Tống bằng lời lẽ qui-phục, xin cống-hiến và nhường những đất quân Quì đã chiếm. Tể-tướng Ngô Sung là kẻ chủ-hòa xưa nay lại rất bằng lòng.

Ngày 25 tháng 2 năm Đinh-tị , Ngô Sung thay mặt quần-thần dâng biểu mừng vua Tống “ đã dẹp yên An-nam và lấy lại được Quảng-nguyên ”. Cũng ngày ấy có chiếu đổi châu Quảng-nguyên ra Thuận-châu và thăng châu Quang-lang lên hàng huyện, bãi bỏ ti An-nam-đạo kinh-lược chiêu-thảo đô-tổng-quản và ti an-phủ, giải-tán hành-doanh. Vua Tống trả lời vua Lý Nhân-tông, bảo phải tu-cống như trước và phải trả lại dân-đinh mà quân Lý đã bắt ở Khâm, Liêm và Ung. Cuộc chiến-tranh Lý, Tống khởi đầu từ tháng 11 năm Ất-mão ( 1075 ) đến đây đã chấm dứt. Ấy là vào tháng hai năm Đinh-tị ( 1077 ) , kéo dài trong mười lăm tháng.


8.- Kết cục

Tống không đạt được mục-đích dự-định thôn-tính đất Việt, không tiêu-hủy được binh-lực Lý, chỉ chiếm được đất các châu Quảng-nguyên, Tư-lang, Tô-mậu, Môn và Quang-lang là đất rừng núi mà thôi. Trái lại bị thiệt người tốn của rất lớn. Ngoài bốn trại Thái-bình, Vĩnh-bình, Cổ-vạn, Thiên-long, và bốn thành Khâm, Liêm, Bạch và Ung bị tàn phá, Tống còn mất quân lính, phu-phen rất nhiều. Theo lời Chính Thúc, “ 8 vạn phu vận-lương và 11 vạn chiến-binh chết vì lam-chướng. Còn 28.000 người sống-sót về mà trong đó còn bị ốm nhiều. Kể cả số trước bị địch giết thêm mấy vạn, cả thảy không dưới 30 vạn ”. Tuy so với các số công-khai sau này có khác nhưng có lẽ Chính Thúc kể cả thổ-đinh.

Tuy triều-đình Tống chúc mừng thắng trận nhưng ai cũng biết Tống đã bị thất-bại to, mất thể-diện với thiên-hạ. Vua Tống cho kiểm-điểm binh-mã thấy có 49.506 người, 4.690 ngựa. Lúc về đến nơi, trừ số chết bệnh hay vì cớ khác chỉ còn 23.400 lính và 3.174 ngựa. Phí tổn cả thảy mất 5.190.000 lượng vàng. Vua Tống nghe lời bàn của Thái Thừa-Hi, sai các tướng cầm quân nam-thảo coi các châu ở trên đường sang Giao-chỉ : Quách-Quì coi Đàm-châu, Triệu Tiết coi Quế-châu, Thạch Giám coi Ung-châu và Đào Bật coi Thuận-châu tức là Quảng-nguyên cũ. 

Sau, vua Tống xét rõ công tội các tướng cầm quân. Tội chính về Quách Quì vì đã trì-hoãn không chịu tiến binh, bị đổi đi Ngạc-châu rồi giáng làm tả-vệ tướng quân và an-trí ở Tây-kinh. Vua sai tra-cứu duyên-cớ sự trì-hoãn ấy, Chu Ốc khai vì tể-tướng Ngô Sung bảo Quì đừng tiến binh nhưng sự thật là Sung dặn phải xét kỹ-lưỡng rồi sẽ hành-động. Tội thứ hai là đã không biện đủ lương-thảo cho quân-mã dùng, những người có trách nhiệm về lương-thảo như bọn Lý Bình-Nhất, Thái Dục và Chu Ốc đều bị biếm.

Còn Triệu Tiết lại được khỏi tội vì có ngự-sử Thái Xác bênh-vực. Nhưng 5 năm sau ( 1082 ) khi bị đổi lên lộ Phu-Diên, Tiết tỏ vẻ không bằng lòng, vua Tống mắng rằng : “ Triệu Tiết trước đây đi đánh An-nam bị thua, đã được tha không bị tội chết, nay còn ý oán. Nếu không trừng-trị thì ai sợ lệnh trên nữa ” . Cho đến Dương Tùng-Tiên thống-lĩnh thủy-quân lúc mới về cũng bị tội, nhưng sau được ân-xá. Tống vội phủ-dụ các quân lính bị đau, cấp tiền cho gia-đình những người tử-trận, thưởng những người đã có công và phạt những người đã có tội theo hàng Lý. Từ Bá-Tường phải tự thắt cổ. Triệu Tú trước bày cho ta phép hỏa-công bị phát-phối đi Hồ-bắc. Các binh-mã thuộc An-nam hành-doanh được rút về trừ một số phải đóng coi các châu vừa được nhượng. Muốn tỏ lòng khoan-hồng, vua Tống theo lời Quách Quì xin, thu-dụng tả-lang-tướng Nguyễn Căn đã bị bắt ở sông Kháo-túc và bổ làm hạ-ban điện-thị.

Tuy vậy vua Tống vẫn nghĩ đến tương-lai. Ngày 14 tháng 9 năm Mậu-ngọ 1078, có La Xương-Hạo từ Chiêm-thành về tới nơi, dâng các bản-đồ vẽ đường đi từ Chiêm đến Giao-chỉ. Tống Thần-tông phê thưởng cho Xương-Hạo và nói thêm rằng : “ Từ khi dụng binh ở An-nam, kẻ hiến kế đánh giặc kể có hàng trăm. Lời bàn về đường thủy, đường bộ để tiến quân thường không giống nhau, chưa biết ai phải, nên chép các thuyết thành từng loại, về mỗi loại vẽ đồ phụ vào để sẵn-sàng cho việc dụng-binh ngày sau ”. Nhưng sau đó Thần-tông chán-nản về việc chiến-tranh và không muốn động đến nước ta nữa. Lý Thường-Kiệt thì trái lại, dùng vũ lực chiếm lại một phần đất đã mất và đe-dọa Quảng-nguyên. Cuối-cùng Tống không những phải bỏ cả năm châu đã chiếm mà còn phải trả cho ta một phần đất ở tây-bắc Cao-bằng ngày nay mà các tù-trưởng đã đem nộp cho Tống.



CHƯƠNG XII : KHÔI PHỤC ĐẤT MẤT

1.- Tống tổ-chức nhượng-địa

Tuy không lấy được toàn cõi nước ta nhưng Tống cũng đã chiếm đuợc năm châu miền núi : Quang-lang, Tô-mậu, Môn, Tư-lang và Quảng-nguyên. Trong đó hai châu Quang-lang và Quảng-nguyên là quan-trọng hơn cả, Quang-lang là cổ-họng của châu Ung, Quảng-nguyên là nơi có tiếng sản-xuất nhiều vàng bạc. Tống liền tổ-chức cai-trị các châu ấy. Ngày 25 tháng 2, sau khi triều-đình mừng thắng trận, vua Tống hạ chiếu đổi Quảng-nguyên ra Thuận-châu và thăng Quang-lang lên hàng huyện. Ta sẽ thấy rằng Quang-lang ở vào địa-thế không thể giữ được nên Tống phải bỏ sau khi Quách Quì rút quân. Các châu Tô-mậu và Môn hình như không được hai bên chú-ý lắm. Còn Thuận-châu thì được đặt vào hàng Ung-châu và có lẽ kiêm-quản các châu kia. Đào Bật liền được bổ coi châu mới ấy. Bật là người Vĩnh-châu, xuất thân vũ-chức. Trước đã từng giúp Dương Điền đánh giặc Dao ở Hồ-nam, sau lại có công phủ-dụ dân bị loạn Nùng Trí-Cao lôi cuốn. Trong vụ hành-quân đánh Lý lần nầy, Bật đã được giao những trọng-chức là đi phủ-dụ các dân khê-động vùng Tả-giang và mỗi lúc đại-quân tiến hay lui, Bật cũng phải cầm quân chặn hậu. Tuy là vũ-tướng, Bật lại là một thi-sĩ có tài. 

Xét nhân-cách, chức-vị, công-trạng của viên tri-châu đầu ở Thuận-châu, ta biết rằng Tống quan-tâm đến nhượng-địa vừa được và gắng sức tổ-chức cai-trị. Ngoài Đào Bật, Tống định bổ tới Thuận-châu đủ các viên-chức, mỗi chức một người : thông-phán, thiểm-thư, phán-quan, kiềm-hạt, đô-giám, đô-áp. Sợ rằng châu mới độc nước, quan-lại không thích đi, chiếu thư có dặn rằng : “ Mỗi năm sẽ thay một quan. Ở hết hạn được thăng một chức và bổ về mạc-chức nghĩa là ở trung-ương ”. Việc đầu Tống làm là củng-cố đề-phòng châu mới. 

Việc thứ hai là tổ-chức khai-lợi các mỏ. Chiến-tranh chưa hết, Quách Quì đã xin sai viên đề-điểm-hình-ngục Quảng-tây đề-cử đặt các lò luyện quặng vàng bạc ở Quảng-nguyên, ngày mồng 9 tháng 3 có chiếu sai viên quan cao-cấp là viên-ngoại-lang Tất Trọng-Hùng coi về việc ấy. Việc thứ ba là thu-phục nhân-tâm. Tống đặt các chức lại-trị coi đủ mọi việc hành-chánh, thưởng công cho các tù-trưởng đã theo giúp quân Tống như cháu Nùng Thiện-Mỹ là Huệ Đàm , định cấp ấn son cho các động-trưởng. Châu-trị bấy giờ đóng ở đâu ? Thành Na-lữ ngày nay còn dấu, có lẽ là thành Thuận-châu cũ.


2. Khôi-phục Quang lang

Huyện Quang-lang kề trại Vĩnh-bình thuộc Ung-châu cai quản. Đất ấy quan-trọng vì gần-gũi các đồn ở Vĩnh-bình nhưng phòng-thủ dễ-dàng hơn Thuận-châu, vả lại hòa-bình đã trở lại dần-dần, vua Lý đã xin sai sứ tới Tống. Triệu Tiết bấy giờ coi Quế-châu không ngần-ngại rút bớt chi phí phòng-thủ ở Quang-lang, Lý Thường-Kiệt liền mưu-đồ chiếm lại những đất đã mất. Sau khi Quách Quì rút lui khỏi Lạng-châu, quân Lý theo sau và đóng giữ ở động Giáp rồi kéo vào đánh úp, chiếm lại Quang-lang. Các viên tri-huyện Hồ Thanh và tuần-phòng Trần Tung đều bỏ chạy.

Thế mà viên coi trại Vĩnh-bình không biết. Tháng 7 ( 1077 ) ti chuyển-vận mới tâu về triều, nói : “ Có dò được tin quân Giao-chỉ hiện đóng ở ngoài huyện Quang-lang ”. Vua Tống không hài lòng, hạ chiếu : “ Huyện Quang-lang đã bị quân Giao-chỉ đánh úp và chiếm,cChưa thấy lộ Quảng-tây xử-trí làm sao. Từ đó qua ải Quyết-lý đến Thuận-châu không xa, coi khéo lại không thể cố-thủ được. Phải làm sao cho không tổn quốc-uy, sao cho binh-lực và tài-phí không càng ngày càng hao-tổn. Vậy giao cho Triệu Tiết, Lý Bình-Nhất, Miêu Thì-Trung cùng nhau bàn mưu-kế cho đúng lợi hại, chớ có lần-lữa tránh việc đến nỗi hỏng đại-sự của Triều-đình ở một phương. Bàn-định xong sẽ gấp tự viết thư báo về tâu rõ ”.

Sau đó không thấy Tiết tâu điều bàn-định về triều, chỉ thấy rằng ngày 8 tháng giêng nhuận năm sau ( Mậu-ngọ 1078 ) , 2 viên-chức ở Quang-lang bị kết tội bỏ thành trốn : Trần Tung bị chém và Hồ Thanh bị đày ra đảo Sa-môn. Thế là quân Lý đã lấy lại được huyện Quang lang, có lẽ 2 châu gần cạnh là Tô-mậu và Môn cũng được giải-phóng nốt. Chỉ còn Quảng-nguyên vì trọng-binh Tống đóng, quân Lý chưa dám kéo vào, nhưng Lý thường thường đe-dọa, phao truyền tin sắp tới chiếm Quảng-nguyên để thử xem Tống hành-động thế nào. Được tin, Đào Bật vẫn điềm-nhiên, khuyên binh-sĩ ở yên cố-thủ chớ khiêu-khích quân Lý, vì vậy quân Lý vẫn đóng im ở Quang-lang không dám kéo vào. Dân Thuận-châu được yên-tĩnh. Hễ quân Lý động tĩnh thế nào, đều có kẻ mách cho Đào Bật biết.

Dùng vũ-lực khôi-phục đất mất sợ không xong, Lý lại chủ-trương ngoại-giao mềm-dẻo và xin sai sứ tới bàn. Triệu Tiết tâu về, vua Tống bằng lòng và hạ chiếu nói : “ Giao-chỉ chịu theo ta rồi. Nếu nó có sai người tới bàn việc, hãy cho tới Quế-châu ”. Tuy vậy vua Tống vẫn sợ quân ta sẽ sang đánh Ung-châu như trước. Vua viết thư hỏi ý-kiến Triệu Tiết : “ Giao-chỉ nghịch thuận thế nào ? Chúng sắp vào cống, thế nào cũng dâng miền đã nhượng cho ta. Ta nên trả lời chóng hay chầy, cho chúng nhiều hay ít ? ” .

Tiết trả lời rất tường-tận. Lời bàn như sau :

“ Lúc chống quân ta ở sông Phú-lương, Giao-chỉ đã đem tất cả các tướng giỏi tụ-tập lại đó, thế mà cũng đến nỗi thế cùng lực quệ rồi phải xin hàng. Nay việc binh vừa xong, nên để binh dừng, dân nghỉ. Nhưng tụi thủ-lĩnh các khê-động thuộc Khâm, Liêm muốn dựa vào biên-hấn để kiếm-lợi, chúng trương-hoành thanh-thế giặc để làm náo-động biên-tình, những kẻ nhẹ dạ hay nghe và thích kiếm chuyện lại đồng-thanh phụ-họa gây lo cho phương nam. Tôi xét thế Giao-chỉ thấy chúng chưa dám động. Ấy là vì có 3 lẽ :

1. ) Trước đây Giao-chỉ lấy tụi Lưu Kỷ làm mưu-chủ, nay tụi ấy đã được ta bổ làm công-chức. Các thuế mỏ vàng, mỏ bạc ở Quảng-nguyên, Tư-lang nay đều về ta. Các khê-động mới theo ta, nay đều tự-chủ và lập đảng riêng-biệt, Giao-chỉ khó lòng mà họp lại được. Huống chi dân miền biên-thùy chống lại chúng, không chịu để chúng hiếp-dỗ. Ta đã lấy được phủ ở phía ngoài đất chúng như là cắt cánh tay phải của chúng. Trong vài năm nữa, thế chúng vẫn còn chết. Càn-đức nhỏ-dại, chính-sự phần lớn ở môn-nhân mà ra, chúng nó còn phải gầm-ghè nhau để tự-bảo, không rỗi tay để cướp ta. Đó là lẽ thứ nhất mà chúng chưa dám động.

2. ) Từ kinh-thành Giao-chỉ đến biên-trại cũ, đường đi mất hơn mười ngày. Từ trước, giặc tới đó chưa từng có đủ lương ăn, chúng chỉ nhờ tụi Lưu Kỷ góp-nhặt cấp cho mà cũng không đủ ăn nửa tháng. Hết rồi thì chúng cướp-đoạt của dân cho nên dân rất oán-thù. Trước đây tụi Kỷ liên-lạc với các khê-động ở đất ta và nhờ dẫn đường nên chúng dám vào cướp. Nay phên-giạu đều hết sạch, chúng biết nương-tựa vào đâu mà dám dòm-ngó biên-thùy ? Từ khi chúng làm phản đến nay, dân bỏ cày đã hai năm. Dân ta cũng bỏ cày cấy. Lại thêm bị điều-động, bị tật-dịch. Số chết nhiều không kể xiết. Ví như chúng có ý ngông-cuồng tranh cương-thổ ta thì vừa qua khỏi trường-giang đã dậm lên đất ta. Chúng lấy ai dẫn đường ? Lấy lương đâu ăn ? Quân giặc có bao nhiêu để tự-vệ ? Phải chia quân ra thủy lục thì quân chắc ít, khí chắc hết. Đó là lẽ thứ hai mà chúng chưa dám động.

3. ) Giao-chỉ thu thuế nặng. Những nhà hạng vừa và hạng dưới mà mỗi năm phải nộp đến trăm quan. Bốn phần mười thuế ấy nộp nhà chúa, còn dư thì các thủ-lĩnh lấy. Thuế nặng đến nỗi dân phải xiết cả tài-sản, vợ con, mà bù không đủ số thiếu. Biên-dân rất oán-giận. Vừa rồi quan-quân đến đánh muốn tỏ lòng thương dân-chúng tới hàng, ta đã treo các sắc-bảng hứa tha cho 5 năm thuế, chúng đều vui qui-thuận. Giả-sử Giao-chỉ trở lại hiếp dỗ chúng thì có ai theo ? Đó là lẽ thứ ba mà chúng chưa dám động.

Xét ba lẽ chúng không thể động, ta thấy rằng giặc vừa bị thương-di như thế mà sợ chúng lại phạm thiên-uy thì quá đáng. Trước đây Địch Thanh bại Nùng Trí-Cao xong rồi rút quân liền, không cần phá sào-huyệt nó, thế mà Trí-Cao cũng bị giết, huống nay Giao-chỉ đã không trông cậy vào láng-giềng nào mà dân-chúng đều oán. Thế cô như cây măng. Chỉ chờ thời bị diệt ”.

Tuy lời thư của Triệu Tiết ngoa và không đáp lại những câu hỏi của Tống Thần-tông nhưng nó tả cũng khá đúng thế-lực và tâm-tình tương-đối của hai bên Tống, Lý một năm sau khi giảng-hòa. Lý giữ được gần toàn binh-lực ở đồng bằng nhưng vây-cánh ở thượng-du hoàn-toàn bị tan-rã. Họ Nùng, họ Vi theo Tống đã đành, mà họ Thân hình như cũng điêu-tàn, trong sử Lý sau này không thấy nói gì đến nữa. Trái lại trong đời Anh-tông có Thân Lợi tự xưng là con Nhân-tông, họp nhiều quân chiếm các đất Bắc-cạn, Thái-nguyên ; không biết Lợi có họ hàng gì với họ Thân ở động Giáp hay không. Còn Tống thì chán-nản không muốn đánh nhau với quân ta nữa tuy rằng vẫn muốn giữ các mỏ vàng Quảng-nguyên. Tống Thần-tông nghe lời Triệu Tiết bèn “ xá tội ” cho vua Lý. Tống, Lý trở lại hòa-thuận cùng nhau. Lý Thường-Kiệt sẽ có cơ-hội ngoại-giao đòi lại những đất còn mất.


3.- Đòi Quảng-nguyên : Đào Tông-Nguyên

Tháng 7 năm ấy ( 1077 ) triều đình Tống xét rõ công-trạng của các tướng thuộc An-nam hành-doanh ; Quách Quì bị an-trí ở Tây-kinh, còn Triệu Tiết vẫn được lưu lại coi Quế-châu, sung chức an-phủ-sứ Quảng-tây để đối-phó với Lý. Tháng 10 sứ-bộ ta tới biên, Tiết tâu rằng : “ Người Giao sai tụi Lý Kế-Nguyên tới biên-giới cùng với quan ta bàn việc. Tôi muốn bảo quan ta lấy ấn-tín triều-đình mà hiểu-dụ Càn-đức, ra lệnh cho y trả lại những nhân-khẩu đã cướp rồi triều-đình sẽ cấp đất cho ” , vua Tống bằng lòng. Nhưng trong lời biểu của vua Lý có dùng chữ húy của triều Tống, Triệu Tiết không chịu nhận biểu và bảo sứ ta trở về chữa lại. Ngày 15 tháng 11, Tiết tâu : “ Giao-chỉ dâng biểu có phạm miếu-húy, sứ-giả đã về rồi ” , vua Tống bảo cứ thu rồi tâu đệ về triều. Đầu năm sau ( 1078 ) , vua Lý sai Đào Tông-Nguyên trở lại đi sứ. Tông-Nguyên đem theo 5 con voi để cống và tờ biểu của vua Lý xin lại các đất Quảng-nguyên và Quang-lang. 

Vua Tống trả lời : “ Hãy đợi sứ tới kinh, sẽ phân-xử về cương-giới ” . Tuy vậy ti kinh-lược Quảng-tây có kẻ không muốn để sứ tiến kinh. Ngày 22 tháng giêng nhuận, ti chuyển-vận tâu rằng : “ Trước đây sứ Giao-chỉ đến nhưng phải quay về vì trong biểu có phạm húy. Nay sứ đã trở lại và đã chữa biểu nhưng viên câu-đương thuộc ti kinh-lược là Dương Nguyên-Khanh chưa chịu thu nhận, sợ chúng ngờ-vực là muốn ngăn chúng ”. Vua Tống liền bảo tụi Nguyên-Khanh : “ Phải nhận và gửi biểu về, sai người đưa sứ tới kinh. Còn như việc chúng đòi trả nhân-khẩu và định biên-giới thì hãy đợi phân-xử riêng ” .

Vua tôi Tống vẫn sợ ta có lòng phản-trắc. Triệu Tiết xin tăng quân đóng ở Quế-châu cho được 5000, ti chuyển-vận Quảng-tây xin tăng lương-thực và tiền bạc. Quế-châu xin sai chúa trại Hoành-sơn tới đạo Đặc-ma mua ngựa và tới châu Ung, Khâm kiểm-điểm đân khê-động, tập rèn vũ-nghệ. Vua Tống khuyến-khích dân Thái xứ Cửu-đạo-bạch-y vì chúng đã trình những việc thám-thính được ở nước ta. Nhân bấy giờ có sứ Chiêm-thành tới Quảng-châu, ti kinh-lược Quảng-đông không muốn cho vào kinh vì ” chúng đều vãng-lai với Giao-chỉ, sợ có gian-phi lẫn vào để thám-thính ”. Trong khi sứ ta khó-nhọc dẫn đàn voi đi Biện-kinh, vua Tống phê rằng : ” Sứ Giao tiến tới kinh, vì chúng mới cướp ta nên phải lo đề-phòng. Khi còn ở dọc đường cũng như khi tới kinh, hễ chúng ra vào phải cắt người giám-thị. Vậy viết thư cho ti kinh-lược Quảng-tây và cho các viên hộ-tống phải mau mau báo-cáo. Nếu dọc đường có xẩy việc gì, ti kinh-lược chưa kịp bẩm thì cứ việc thi-hành ”.

Tháng 6 sứ-bộ qua lộ Kinh-hồ-bắc, viên chuyển-vận sứ ở đó không đủ phu hộ-tống, xin phép bỏ tiền thuê phu. Ngày mồng 2 tháng 9, Đào Tông-Nguyên đã tới kinh, xin dâng cống-vật. Triệu Tiết khuyên Tống Thần-tông đừng trả 2 châu Quảng-nguyên và Tư-lang, vua Thần-tông cũng không bằng lòng trả. Nhưng từ khi chiếm được Quảng-nguyên, Tống đã bị thất-vọng lớn. Châu ở cách xa Ung hai ngàn dặm, khí-hậu lại độc, quân thú mười phần chết mất bảy, tám. Mỗi lúc đến phiên đi thú ở đó, lính từ-biệt vợ con như là sắp chết, cả nhà khóc-lóc rất là thảm-thiết. Quân thú đào-ngũ hàng đoàn, có lúc có hai quân-đội bỏ doanh trốn về nhà. Triệu Tiết nghe nói, viết thư cho tướng chỉ-huy, bảo : “ Quân đóng ở ngoài lâu ngày mệt nhọc, cho chúng nghỉ một tháng rồi bảo chúng trở lại ”. Lúc chúng về qua doanh, Tiết mời ăn uống rồi gọi hai người đứng đầu mà hỏi vì sao bỏ ngũ, chúng đều trả lời : “ Chỉ vì đi thú lâu ngày ở nơi nước độc cho nên nhớ nhà ”, Tiết nói : “ Mẹ ta già tám mươi tuổi, ta muốn về thăm có được không ? ” Lập-tức sai chém hai người ấy và phạt tội bọn kia phải đánh và đày đi châu khác.

Các viên-chức ở Quảng-nguyên lần-lần ốm chết. Từ ngày mồng một tháng ba năm Mậu-ngọ ( 1078 ) , Đào Bật đã cáo ốm và xin đổi hay về hưu nếu không có chỗ để đổi đi. Vua Tống sai Tiết khám thật và bảo chọn người khỏe mạnh thay-thế để Bật về nghỉ ở Quế-châu. Bật được đổi và thăng chức nhưng ốm chết vào tháng mười một năm ấy. Vua Tống hỏi ý-kiến Triệu Tiết thì Tiết khuyên giữ lấy Quảng-nguyên và Tư-lang. Triều-đình cho đất Thuận-châu là vô-dụng. Vua Tống bất-đắc-dĩ phải trả lời sẽ trả cho vua Lý nhưng, hoặc muốn giữ thể-diện, hoặc để khỏi bị chỉ-trích, hoặc vẫn muốn theo lời Tiết, Tống Thần-tông đòi ta trả trước các tù-binh và nhân-khẩu đã bị bắt. Tống-sử còn chép lời chiếu trả lời cho Lý Nhân-tông như sau :

“ Khanh đã được triều-đình cho coi cõi Nam-giao, đời đời được ban vương-tước. Thế mà Khanh đã bội đức, phụ mệnh, tới cướp phá các biên-thành ; đã bỏ lòng trung-thuận của cha ông, làm phiền quân triều-đình phải đi chinh-phạt. Đến lúc quan-quân vào trong cõi, thế bức rồi Khanh mới qui-hàng. Xét tội thì Khanh càng đáng bị truất chức. Nay Khanh đã sai sứ tới cống, dâng lời rất kính-cần. Xét rõ tư-tình, Trẫm thấy Khanh đã biết hối. Trẫm vỗ-về vạn-quốc không kể xa gần nhưng Khanh phải trả các dân Khâm, Ung mà Khanh đã bắt đưa đi xa làng-mạc. Đợi khi nào Khanh đưa trở về hết, Trẫm sẽ lập-tức lấy các châu Quảng-nguyên ban cho Khanh ”.

Đào Tông-Nguyên đệ lời vua Lý hẹn sẽ trả một nghìn quan-lại bắt ở ba châu Khâm, Liêm, Ung. Tống Thần-tông lại đặt ra một điều-kiện mới là phải phạt những kẻ cầm-đầu gây việc chiến-tranh. Tống Thần-tông hạ chiếu nói :

“ Giao-chỉ quận-vương Lý Càn-Đức bằng lòng trả những người đã cướp ở ba châu Ung, Khâm, Liêm, thì theo lời Khanh đã xin, lấy các châu Quảng-nguyên, Tô-mậu và huyện Quang-lang trả lại cho. Nhưng phải đem các thủ-lĩnh đã gây loạn đến biên-giới để xử ” .

Thế là Tống đòi Lý xử ” tội-nhân chiến-tranh ” , mà tội-nhân ấy chính là ám-chỉ Lý Thường-Kiệt ! Vua Lý trả lời rất tường-tận, nay sách không chép lại. Ta rất tiếc không được biết lời-lẽ thư trả lời nhưng cũng đoán được rằng Lý không nhận đem xử thủ-lĩnh gây loạn, mà vì thế phái-bộ Đào Tông-Nguyên không đem lại được một kết-quả thực-tế gì về việc đòi đất Quảng-nguyên ngoài lời hứa của hai bên.


4.- Tống trả nhượng-địa

Tuy Tống lấy giọng bề trên đối với vua Lý nhưng bề trong Tống vẫn sợ ta uy-hiếp biên-thùy. Đối với sứ-bộ Đào Tông-Nguyên, Tống tiếp-đãi rất tử-tế. Bấy giờ sứ Chiêm-thành cũng vừa đến, đưa voi từ Quảng-châu tới cống. Sứ Chiêm sợ gặp mặt sứ ta. Vua Tống tỏ vẻ lúng túng vì biết rằng ta tự coi Chiêm-thành như phụ-thuộc trực-tiếp nước ta bèn sai xếp-đặt làm sao cho hai sứ-bộ không chạm mặt nhau và để tỏ rõ rằng Tống ưu-đãi sứ ta hơn sứ Chiêm. Vua Tống dặn các viên đón-tiếp rằng : “ Nhà ở, nơi ăn yến đều để riêng. Gặp ngày sóc thì hai phái-bộ đều đến điện Văn-đức nhưng chia ra đông-tây mà đứng. Ngày vọng thì phái-bộ Giao-chỉ vào điện Thùy-củng, phái-bộ Chiêm-thành vào điện Tử-thần. Ngủ và đãi yến thì sứ Giao ở điện Đông-đoá, sứ Chiêm ở Tây-vu ”. 

Tống Thần-tông bấy giờ lo việc biên-thùy miền bắc hơn miền nam. Tháng 8 năm ấy ( 1078 ) đổi Triệu Tiết đi coi Thái-nguyên và bổ Tăng Bố thay, nhưng viện khu-mật xin lưu Tiết coi ti an-phủ tuy rằng Bố đã đến Quế-châu. Trong khi ấy nội-tình ở Quảng-nguyên cũng như ở các biên-trại vẫn khó-khăn và bối-rối. Đào Bật ốm nặng. Ngày 28 tháng 10 phải sai Trương Chi-Gián thay coi Thuận-châu. Bật không về kịp, tháng sau thì mất. Ung-châu bị tật-dịch, hỏa-tai luôn luôn. Người đương-thời hay tin những điềm gở. Khi thấy một tượng Phật ở Ung-châu tự-nhiên động, dân-gian lo-sợ ; vì trước quân Lý vào đánh Ung-châu cũng đã có điềm ấy. Vua Tống sai lập thủy-lục đạo-tràng để cầu phúc cho những oan-hồn tử-sĩ và giao cho Tăng Bố bàn có nên dời thành Ung hay không. Mà điềm xấu không phải ngoa. Các doanh-đồn, kho, trại ở Ung, Liêm, Vĩnh-bình, Thái-bình bị cháy. Rất nhiều lương-thực, khí-giới bị thiêu-hủy. Phải chăng chỉ là sự tình-cờ ?

Mặt khác, thấy Tống lần nữa không muốn trả Quảng-nguyên, Lý Thường-Kiệt xui dân châu cướp phá. Ngày 21 tháng tư năm Kỷ-mùi 1079, ti kinh-lược Quảng-tây tâu : “ Dân Man cướp Thuận-châu, xin đưa quân dẹp ” , vua Tống phê : “ Có thể đưa cả đạo quân đoàn-kết ở Đàm-châu đến Quế-châu, tạm đóng để trấn-tĩnh lòng dân ở Lưỡng-Quảng cho chúng khỏi khiếp-sợ. Đợi lúc biên-sự yên, quân ấy sẽ trở về chỗ cũ ”. Cầm đầu quân giải-phóng ấy có Nùng Trí-Xuân coi động Cung-khuyết. Trí-Xuân có lẽ là dòng Trí-Cao vốn đã theo Tống và được ban chức nội-điện sùng-ban. Bấy giờ Trí-Xuân thông với họ Ma coi vùng Bắc-cạn ngày nay. Ma Thuận-Phúc coi động Vũ-lăng ( đất Bắc-cạn ) và Hoàng Phu họp quân cùng Nùng Trí-Xuân đánh Thuận-châu. Các tù-trường trung-thành với Tống chống lại, trong bọn ấy có Linh Sùng-Khái coi châu Cát-lộng ( có lẽ cũng là đất Cổ lộng ở phía bắc vùng Ngân-sơn phía nam Cao-bằng ). Nùng Trí-Hội coi châu Qui-hóa cũng đem 2.000 quân tới cứu Thuận-châu .

Trí-Xuân thua, chạy xuống miền nam cầu-viện với vua Lý, lúc trở lại thì bị viên coi Đống-châu là Hoàng An-Cao giết, vợ con và đồ-đảng cũng bị bắt. Ba tháng sau, Ma Thuận-Phúc và Hoàng Phu cũng bị bắt và đày đi xa. Lý Thường-Kiệt hình như cũng không muốn gây việc chiến-tranh to cho nên việc khởi-nghĩa ở Quảng-nguyên cũng tạm bỏ. Các quan Tống ở Quảng-nguyên lần-lượt chết bệnh. Vua Tống thương-xót, truy-ân cho viên quyền-phát Vương Cảnh-Nhân, viên đô-giám Trương Cát, viên đô-giám Dương Nguyên-Khanh, viên tuần-phán Lưu Tử-Dân, viên kiềm-hạt Trương Thuật và viên đồng-tuần-kiểm Ngô Hạo. Các người ấy đều chết vì bệnh sốt-rét ở Quảng-nguyên. Lính thú thì mỗi năm cắt tới ba nghìn mà chết năm sáu phần. Đó là lời của Triệu Tiết nói. Vua Tống phải đặt lệ ban tiền tuất cho con cháu những tử-sĩ một cách rất hậu .

Cuối cùng Triệu Tiết cũng nhận rằng không thể giữ được châu Quảng-nguyên. Nhưng trong triều còn có kẻ luyến tiếc. Vua Tống nói : “ Vì Càn-đức đã phạm-thuận, ta mới sai quân đi hỏi tội. Quách Quì đã không đánh lấy được kinh-đô nó mà nay Thuận-châu là đất lam-chướng. Triều-đình được đất ấy cũng chưa có lợi, lẽ nào lại còn tự mình xua thú-binh vào nơi nước độc. Một người bị chết Trẫm còn thương-xót, huống chi trong mười người chết mất năm, sáu. ”. Miêu Thì-Trung cũng bàn nên bỏ nhưng không muốn chính-thức trả lại cho vua Lý, y nói : “ Các đồn-trại thuộc Thuận-châu ở sâu trong đất giặc, chở lương vào rất khó, thú-binh đóng ở đó mười người chết tám chín. Vậy ta nên bỏ đi, nhưng Thuận-châu vốn là đất cơ-mi của châu Ung chứ không phải thuộc Giao-chỉ ” . 

Vua tôi nhất-định trả đất Quảng-nguyên, chỉ còn chờ cơ-hội có thể trả mà không mất thể-diện mà thôi. Cơ-hội ấy sắp đến. Không lấy sự Tống yêu-sách xử tội mình làm giận, Lý Thường-Kiệt sai đem trả một ít tù-nhân gồm đủ gái trai già trẻ. Các tù-nhân ấy được đưa từ Nghệ-an về bằng đường thủy. Cửa thuyền đều bị trát bùn kín. Trong thuyền thắp đèn đuốc luôn để tù-nhân không biết ngày đêm thế nào và cũng không thấy đường-sá, mỗi ngày chỉ cho thuyền đi chừng mười đến hai mươi dặm rồi bắt đậu lại. Quân lính canh thuyền giả đánh trống cầm canh, ngồi trong thuyền nghe canh tưởng chừng đi trong vài tháng mới tới. Ngày 13 tháng 10 năm ấy ( 1079 ) , ti kinh-lược Quảng-tây tâu nói Giao-chỉ đã đưa trả 221 người dân đã cướp. Tuy Lý trả không đủ số một nghìn quan-lại đã hẹn, và tuy đã khắc chữ vào mặt, vào tay tù-nhân, Tống Thần-tông cũng vin vào cơ-hội mà phán : “ Hãy nhận tù-nhân và bỏ Thuận-châu, lấy ban cho Giao-chỉ ”. Tuy lời chiếu chỉ nói đến Thuận-châu nhưng kỳ-thật Tống trả tất cả bốn châu một huyện mà quân Quách Quì đã chiếm : Quảng-nguyên, Tư-lang, Môn, Tô-mậu và Quang-lang. 

Quan Tống đã đề-phòng sự trả đất nầy cho nên trước đó đã bớt lại những châu, động, nguyên thuộc Ung-châu mà sau sáp-nhập vào Thuận-châu. Sáu tháng trước, ti kinh-lược Quảng-tây nói : “ Những động như Cống thuộc châu Thuận-an trước là thuộc Ung-châu, sau khi lấy được Quảng-nguyên mới nhập vào đó, vậy xin đem nhập lại Ung-châu ”. Vua Tống bằng lòng. Tống trả đất nhưng đã di-dân vào đất Tống. Một năm sau khi có chiếu trả Thuận-châu, viên coi Ung-châu là Lưu Sơ tâu : “ Đã dời 9.929 người đã theo ta vào ở các động gần trong để dễ đàn-áp. Dân dời tới Tả-giang thì giao cho các viên tuần-kiểm Nùng Bảo-Phúc và viên coi Giang-châu Hoàng Thiên-Hưng quản. Dân dời vào Hữu-giang thì giao cho các viên coi Điền-châu Hoàng Tiên-Sảnh, viên coi Đống-châu Hoàng An-Định quan-sát ”. Vua Tống bằng lòng. 


5.- Dư-luận

Đến đây là chấm dứt chính-sách của Tống muốn chinh-phục nước Đại-Việt. Nào hai bên huy-động quân dân hàng chục vạn, nào biện-luận trong gần bốn năm, kết-quả là biên-thùy trở lại như trước năm Ất-mão 1075. Thế mà Tống đã thiệt hơn hai chục vạn người. Đối với nước ta tuy có thể nói không được thua gì nhưng nếu để Tống tấn-công trước chưa chắc quân ta đã bảo-toàn lãnh-thổ được. Vậy cho nên chánh-sách ngoại-giao của Lý gồm ba thời kỳ là tấn-công, cầm-cự để đến đình-chiến và điều-đình có lẽ là con đường độc-nhất mà một nước nhỏ phải làm để đối-phó với một nước lớn lăm-le muốn nuốt mình.

Xét lại, cuộc tấn-công của Lý Thường-Kiệt không những là táo-bạo mà có thể còn là vong-mạng, dễ đem lại những ảnh-hưởng tai-hại vô-cùng cho nước ta. Nhưng hành-động của ông đã thành-công, ấy là vì ông đã quan-sát tường-tận tình-hình, quyết-định rõ-ràng kế-hoạch khiến trong lịch-sử nước ta có một vũ-công phi-thường để dấu chân người Đại-Việt lên đất xưa vua Triệu. Đời sau không có khi nào người nước ta có dịp diễn lại một cuộc tranh-hùng như vậy tuy rằng hình như Nguyễn Huệ có lúc muốn theo gương Lý Thường-Kiệt nhưng vì chết yểu nên sự không thành.

Không biết câu ca-dao :

Nực cười châu-chấu đấu xe. 
Tưởng rằng chấu ngã, ai dè xe nghiêng !

sinh ra đời nào. Nhưng nó có thể tóm-tắt, như hoạt-họa, khoảng lịch-sử oanh-liệt này của nước ta. Tuy về vật-chất, sự thắng-lợi của Lý Thường-Kiệt chỉ có tính-cách tiêu-cực nhưng về tinh-thần thì trái lại, nó đã làm tăng thanh-thế nước ta lên nhiều, buộc Chiêm phải sợ và Tống phải nể. Đối với Tống, sự thất-bại trong chính-sách nam-thùy có ảnh-hưởng rất lớn. Như ta đã thấy, ảnh-hưởng đầu tiên là cuộc tấn-công của Lý Thường-Kiệt làm cho kẻ chủ-mưu Vương An-Thạch bị đổ và kéo đổ theo cả một công-cuộc cách-mạng về tư-tưởng, chính-trị, tài-chính và kinh-tế của hoàn-cầu. Ảnh-hưởng thứ hai là người nối An-Thạch, Ngô Sung, cũng vì thất-bại trong cuộc tấn-công nên cũng bị gièm-pha và đổ.

Phê-bình chung về chánh-sách Tống ở nam-thùy, đã có lời Ngụy Thái, em vợ Tăng Bố, trong sách Đông-hiên bút lục. Thái viết : “ Từ khi bọn Tiêu Chú đến kinh-lược Quảng-tây, hoặc nói dối-giá để lừa trên dưới, hoặc không phòng-ngữ dân ngoài để đến nỗi bốn đồn-trại bị hãm. Quách Quì lại do-dự đến nỗi không giữ nốt được Quảng-nguyên, cuối cùng phải bỏ đi. Dân bị bắt thì mười phần chỉ thả được một. Thế mà triều-đình tốn hàng vạn, dân Lưỡng-Quảng từ đó phải khốn-đốn ”. 


6.- Bang-giao thân-thiện ( 1079 - 1082 )

Trả xong các đất Quảng-nguyên, Tống coi như đã trút được một gánh nặng trên vai. Vua Tống lấy làm đắc chí, thăng hàm cho viên coi Quế Châu là Tăng Bố “ Vì đã xếp-đặt việc Giao-chỉ xong-xuôi nên Bố được suy ân ”. Nhưng ai cũng nhận thấy rằng cuộc chinh-nam đã làm tổn-hại binh-lực và thanh-danh Tống mà không đem lại được một lợi-điểm nào. Triều-thần đều đổ lỗi cho Ngô Sung đã kiềm-hãm Quách Quì không để Quì tiến binh mau-chóng, vì vậy Ngô Sung bị bãi chức tể-tướng, rồi chẳng bao lâu thì mất.

Đối với ta, vua Tống tỏ vẻ kính-nể. Tháng 9 nhuận năm ấy ( 1080 ) tăng thêm thực-ấp cho vua Lý. Ở nước ta triều-đình rất vui-vẻ, sử toàn chép những sự tốt lành trong mấy năm liền. Chỉ có một điều làm bớt vui là Lý Đạo-Thành mất vào tháng mười năm ấy. Đối với Tống, vua Lý vẫn tiếp-tục giao hiếu. Giữa năm Tân-dậu 1081 một phái-bộ được sai sang Tống vừa để cống phương-vật vừa để xin kinh Đại-tạng. Phái-bộ nầy quan-trọng hơn thường, gồm đến 156 nhân-viên và có Lương Dụng-Luật , Nguyễn Văn-Bội cầm đầu. Sợ quan địa-phương Tống làm khó dễ như trước, Lý Nhân-tông gửi biểu nói :

“ Trước đây tôi có sai bọn Đào Tông-Nguyên vào triều cống nhưng bị quan Quảng-châu cấm-chế ngăn-cản nên các thú-vật đem cống không cùng tới một lần được. Nay tôi lại sai viên Lương Dũng-Luật và viên trước tác-lang Nguyễn Văn-Bội đi thuyền tới cống. Xin giáng chỉ cho phép theo lệ cũ mà vào kinh ” .

Vua Tống bảo viên quan coi Quảng-châu không được ngăn-cản, phải theo lệ cũ mà nhận sứ, dặn phải sai một viên nhập-nội-sứ-thần hộ-tống tới kinh. Viên chuyển vận-sứ Quảng-đông nói sứ ta xin đi đường Kinh-hồ. Vua Tống trả lời : “ Nếu người Giao muốn đi đường thủy thì ti kinh-lược Quảng-tây cứ theo đường cũ mà dẫn, chớ có đổi ”. Thế mà viên kinh-lược Quảng-tây bấy giờ là Trương Hiệt ( thay Tăng Bố từ tháng 9 nhuận năm trước ) nói : “ Giao-chỉ vào cống có 156 người, đối với lệ cũ thì thừa ra 56 người ”. Tống Thần-tông phê : “ Ai đã đến đó thì cứ cho vào kinh. Về sau sẽ theo lệ cũ ”. Tống hết sức làm vừa lòng vua Lý. Thấy sự giao-tiếp các công-văn với nước ta phiền-phức, vua Tống hạ chiếu cho ti kinh-lược Quảng-tây nói rằng : “ Từ nay hễ có chiếu ban cho An-nam thì sai Khâm-châu báo tin cho đạo ấy. Đợi nó sai người đến biên-giới nghinh tiếp rồi giao cho ” .

Dọc biên thùy, Tống tổ-chức lại để cho sự giao-dịch trở lại bình-thường. Từ tháng 5 năm Kỉ-mùi 1079, viên kinh-lược Quảng-tây là Tăng Bố đã sai các châu Khâm và Liêm lập lại các trạm, các bến-đò để người nước ta sang buôn bán. Sau chiến-tranh, Ôn Cảo được bổ coi trại Hoàng-sơn. Năm 1082 có chiếu đổi Cảo coi Khâm-châu. Viên chuyển-vận phó-sứ Quảng-tây là Ngô Tiềm sợ người nước ta oán Cảo mà sinh sự, Tiềm nói : “ Gần đây sai Ôn Cảo coi Khâm-châu, tôi trộm nghĩ rằng Giao-chỉ còn nghiến răng muốn ăn thịt Cảo, sợ chẳng may vì thế chúng sẽ cướp ”. Vua Tống vốn không thích Cảo, phê : “ Cảo vốn tính nhu-nhược mà lại có hiềm-thù với Giao-chỉ, thật không nên ở chỗ cùng-biên can-trọng, vậy sai viên kiềm-hạt Lưu Hi kiêm coi Khâm-châu ”. Trái lại, Long Đạt được bổ coi trại Vĩnh-bình không chịu nhận chức vì “ đã coi các trại ở Ung-châu, y từng bị Giao-chỉ giết chết mẹ, vợ, con và em, nay không muốn gặp mặt chúng ”. Vua Tống cũng bằng lòng. Xem các việc trên, ta thấy rằng vua Tống tránh những việc tuy rất nhỏ nhưng có thể gây sự với nước ta.


7.- Đòi Vật-ác, Vật-dương. Lại Đào Tông-Nguyên

Sở-dĩ Tống dè-dặt với nước ta như vậy là vì bấy giờ Tống còn phải đánh nhau với quân Hạ ở miền bắc và vừa bị thua một trận to ở Vĩnh-lạc ( 1082 ). Ở trong địa hạt Quảng-tây cũng vừa có dân châu An-hóa nổi loạn, các quan Tống vào dẹp bị giết chết. Loạn ấy kéo dài đến cuối năm chưa yên làm vua Tống rất lo. Thấy Tống lâm vào khó-khăn và biết ý Tống Thần-tông không dám găng với nước ta, Lý Thường-Kiệt bắt đầu từ năm Nhâm-tuất 1082 trở lại chính-sách củng-cố và mở-mang bờ-cõi vào các khê-động Hữu-giang. Chính-sách dùng hôn-nhân để ràng-buộc thượng-du vẫn được tiếp-tục. Tháng hai năm ấy, vua Lý gả công-chúa Khâm-Thành cho Hà Di-Khánh châu-mục Vĩ-long ở vùng châu Chiêm-hóa ngày nay. Thường-Kiệt lại mưu lấy lại những đất tuy thuộc Quảng-nguyên nhưng đã bị các tù-trưởng đem nộp Tống trước khi có cuộc Tống, Lý chiến-tranh. Trong những đất ấy có 2 động lớn là Vật-dương và Vật-ác.

Các sử-sách Tống và Việt đều có chép hai tên đất ấy nhưng không chỉ rõ ở vùng nào. Nay góp-lặt những tham-khảo rời-rạc ta có thể nhận ra 2 động ấy ở phía tây-bắc Cao-bằng ngày nay. Từ đời Đường, các động ấy đều thuộc châu Quảng-nguyên bởi họ Nùng cai-quản. Hai tên Vật-dương và Vật-ác thấy chép ở sử ta vào đời Nùng Trí-Cao. Ta đã thấy rằng Trí-Cao được vua Lý Thái-tông tha chết và cấp cho đất Quảng-nguyên và đất lân-cận như Lôi-hỏa, Bình, Tân, Bà, Tư-lang ( 1041 ). Bảy năm sau, Trí-Cao làm loạn chiếm Vật-ác. Bị quân Lý đánh, Trí-Cao chạy vào đất Tống chiếm châu An-đức. Năm 1050, Trí-Cao lấy động Vật-dương thuộc châu An-đức lập nước Nam-thiên và lấy hiệu Cảnh-thụy. Theo đó ta biết rằng hai động kia ở trung-gian Cao-bằng và An-đức ngày nay.

Sau khi Trí-Cao mất, Nùng Tông-Đán coi đất Vật-ác. Theo lời viên kinh-lược Quảng-tây Hùng Bản tâu năm 1084 thì trong đời Gia-hữu ( 1057 ) , Tông-Đán đem động Vật-ác nộp cho Tống cùng các động khác là Lôi-hỏa, Kế-thành và Ôn-nhuận, rồi Tống đổi tên Vật-ác ra châu Thuận-an. Ta còn nhớ rằng bấy giờ vua Lý Thái-tông đòi Tống trả người và đất. Vua Tống Anh-tông không chịu trả tụi Tông-Đán nhưng chịu trả 2 châu và sai Tông-Đán coi châu Thuận-an mới lập. Nói tóm lại, Lý mất động Vật-ác vào năm 1057 bởi vì Nùng Tông-Đán đem nộp cho Tống, Tống gọi đất ấy là châu Thuận-an.

Ta cũng đã thấy rằng cha con Nùng Tông-Đán theo Tống nhưng vẫn là mối lo cho Tống. Phải đợi tới năm 1064, Tống-Đán mới vào ở đất Tống, năm ấy viên coi Quế-châu là Lục Sằn tới vùng Hữu-giang dụ các khê-động. Không những tụi Tông-Đán theo mà tụi Nùng Trí-Hội cũng theo. Trí-Hội là dòng dõi Nùng Dân-Phú, tri-châu Quảng-nguyên đời Nam-Hán. Đó là theo lời Lưu Sơ coi Ung-châu. Lại theo lời Hùng Bản, trong đời Trị-bình ( 1064 ) , Nùng Trí-Hội đem động Vật-dương theo Tống được vua Tống đổi tên cho động ấy ra châu Qui-hóa. Trí-Hội rất trung-thành với Tống. Năm 1073, Ôn Cảo giúp việc ti kinh-lược Quảng-tây có tâu xin tăng hàm cho. Cảo nói : “ Đã có chiếu bổ tụi Nùng Tôn-Đán và Nùng Trí-Hội làm tướng quân nhưng man-di không biết chức ấy là gì, chúng muốn xin một chức ở hàng cao như phó-sứ ” . Tống Thần-tông ban cho chúng hàm cung-bị-khố phó-sứ, Tông-Đán làm đô-giám Quế-châu và Trí-Hội coi châu Qui-hóa.

Ta cũng đã thấy rằng Trí-Hội chặn đường từ Quảng-nguyên đi Đặc-ma cản-trở việc Lưu Kỷ đi mua ngựa ở đó cho nên tháng tư nhuận Ất-mão 1075, Lưu Kỷ đem quân đánh châu Qui-hóa. Tống giúp Trí-Hội chống Lưu Kỷ nên Trí-Hội giữ vững được châu mình, sau lại được phong chức văn-tư phó-sứ. Năm 1079, Nùng Trí-Xuân cùng Ma Thuận-Phúc họp nhau đánh quân Tống coi Quảng-nguyên, Trí-Hội mang quân tới cứu quân Tống. Vua Tống ban thưởng và thăng lên chức cung-uyển phó-sứ và cấp cho toàn bổng vì “ Trí-Hội tuổi già và đã có công ”. Xem vậy ta thấy rằng từ khi hàng Tống vào năm 1064, Trí-Hội vẫn trung-thành với Tống. Châu Qui-hoá mà y vẫn quản-lĩnh là đất cũ Vật-dương của Lý. Trong khoảng mười sáu năm Lý chưa có dịp nào để đòi lại đất ấy.

Đất Qui-hóa ở đâu ? Theo lời viên coi Ung-châu là Lưu Sơ thì khi Lưu Kỷ nộp đất Quảng-nguyên cho Tống “ triều-đình lấy châu Thông-nông cho Trí-Hội ”, như vậy nghĩa là vua Tống lấy đất Thông-nông thuộc Quảng-nguyên thưởng cho Trí-Hội để thêm vào đất Qui-hóa của y đã có. Sử Lý cũng có chép tên đất Thông-nông vào đời Lý Anh-tông ( Dương Tự-Minh đánh Đàm Hữu-Lạng ở đó vào năm 1145 ) và nói rõ rằng châu ấy thuộc Quảng-nguyên. Nay ở làng Xuân-lĩnh gần Nước-hai ( Cao-bằng ) còn có đền Quan-triều thờ Dương Tự-Minh, ở phía tây tỉnh Cao-bằng còn có làng và tổng Thông-nông. Vả chăng viên coi Quế-châu là Hùng Bản có nói : “ Các châu Qui-hóa, Thuận-an là đất cổ-họng của Hữu-giang, chế-ngự các đường trọng-yếu đi các nước Giao-chỉ, Đại-lý, Cửu-đạo-bạch-y ”. Xét các chứng trên, ta có thể thấy rằng động Vật-dương hay châu Qui-hóa ở phía bắc tổng Thông-nông ngày nay, tức là ở vào địa-phận châu Qui-thuận và Trấn-an, kề phía bắc các địa phận Sóc-giang và Bảo-lạc ở địa-đồ của sở họa-đồ Đông-dương.

Nói tóm lại, động Vật-dương là đất Nùng Trí-Hội nộp Tống vào năm 1064 và được Tống đổi tên ra Qui-hóa, động Vật-ác là đất Nùng Tông-Đán nộp Tống từ năm 1057 và được Tống đổi ra châu Thuận-an. Hai động này ở phía bắc biên-thùy huyện Thạch-lâm tức là tây-bắc Cao-bằng và thuộc các châu Trấn-an và Qui-thuận của Trung-quốc. Phải chăng tên Qui-thuận là lấy hai chữ đầu 2 châu Qui-hoá, Thuận-an mà đặt ra ? Tháng 6 năm Nhâm-tuất 1082, vua Lý sai một phái- bộ đem 50 sừng tê và 50 ngà voi sang cống vua Tống. Mục-đích lần nầy là để đòi dân Quảng-nguyên mà Tống đã đem vào ở trong đất Tống. Lời biểu của Lý nói :

“ Thủ-lĩnh động Cát-đán thuộc Quảng-nguyên là Nùng Dũng cùng dân động đã làm loạn và chạy vào Ung-châu. Tôi đã viết thư nhiều lần vào đòi nhưng Ung-châu không chịu trả ”.

Vua Tống trả lời : “ Tụi Nùng Dũng nguyên không phải Giao-chỉ quản. Chúng theo ta khi Giao-chỉ chưa hàng, vậy chúng là dân ta, không lẽ gì ta trả chúng ”.

Lý đã kiên-nhẫn xin đất Vật-ác và Vật-dương cả thảy sáu lần mà hai lần bị Tống Thần-tông từ, bốn lần bị Thái-hoàng-thái-hậu họ Cao gạt. Từ đó vua Lý phải thôi hẳn, không thể nhắc đến việc hai động nữa. Vả bấy giờ nước ta đã đến lúc cực thịnh. Thái-hậu Linh-nhân ( Ỷ-Lan ) và vua đều rất mộ Phật và ưa tạo-tác. Các đại-thần thì có Lê Văn-Thịnh đứng đầu, đều là những người mê-tín dị-đoan và luôn-luôn xu-nịnh cái tính mê-tín của vua và thái-hậu cho nên không có ai nghĩ đến việc biên-thùy một cách khẩn-thiết như hồi Lý Thường-Kiệt còn cầm quyền. Còn Lý Thường-Kiệt thì bấy giờ ở luôn tại Thanh-hóa, ảnh-hưởng của ông đối với Nhân-tông hình như cũng giảm đi nhiều.

Tống Lý lại trở nên hòa-hảo. Triều Lý Nhân-tông còn dài trong khi nước Tống bị Kim xâm-lấn, bắt vua và phá kinh-đô, kẻ sống-sót phải xuống miền nam sông Dương-tử lập nước Nam-Tống, thế mà các vua Lý không biết lợi-dụng thời-cơ để mở rộng thêm vùng Bắc-Việt. Xem thế mới biết rằng tất cả chính-sách lấn dần vào Hữu-giang trong triều Lý chỉ nhờ Lý Thường-Kiệt mới có thành-công.



Phần III – Vì Dân vì Đạo


CHƯƠNG XIII : COI ĐẤT MIỀN NAM


1. Tu-bổ nội-trị

Sau khi đánh lui quân Tống, thanh-thế Lý Thường-Kiệt lại càng lừng-lẫy. Vua mới mười hai tuổi, quyền vẫn ở trong tay tể tướng. Thường-Kiệt đã lo-lắng khôi-phục những đất đã mất và đòi lại những châu-động bị sáp-nhập vào Tống trước khi có đại-chiến-tranh. Đối với trong nước, ông cũng tu-bổ đê-điều, đường-sá, đình chùa hư hỏng vì chiến tranh. Ông sửa đổi việc hành-chánh, tuyển thêm nhân-viên giúp việc các công-sở. 

Một việc cải-cách quan-hệ mới là tổ-chức những cơ-quan hành-chính thuộc mọi ngành. Năm Đinh-tị 1077, nước ta bắt đầu mở những kỳ thi chọn những nhân-viên chuyên-môn về viết chữ tốt, làm toán giỏi, thông hình-luật. Những người trúng-tuyển được bổ làm lại-viên ở các viện và bộ như thư-xá, hộ-bộ, hình-bộ.


2. Thôi chức tể tướng

Vì Thường-Kiệt có công-lao đặc-biệt nên được cất lên ngang hàng các hoàng-tử. Ta đã thấy rằng vua Lý Thánh-tông từng phong cho ông làm Thiên-tử nghĩa-nam nghĩa là con nuôi vua, vua Lý Nhân-tông coi ông như em nuôi và ban cho ông hiệu Thiên-tử nghĩa-đệ.

Tuy vậy, vua càng lớn thì thế-lực Thường-Kiệt chắc cũng bị giảm dần. Quyền-bính dần-dần chuyển sang tay Lý Nhân-tông. Từ năm Quí-hợi 1083, các sử bắt đầu chép những việc tỏ rằng Nhân-tông đã ra thân-chính. Bấy giờ vua 16 tuổi, đối với nhà vua đó là tuổi trưởng-thành. Tháng hai năm ấy, vua ra ngự ở điện Thiên-khánh, thân-hành duyệt các hoàng-nam ở kinh-thành và chia ra làm ba hạng. Hoàng-nam, như ta đã thấy, là con trai lên mười tám tuổi, phải đăng tên vào sổ công để gọi ra lính. Duyệt hoàng-nam là dấu-hiệu vua mới đã trưởng-thành. Tháng ba năm ấy, thái-hậu sai chọn mỹ-nữ vào hầu ở cung Vạn-diên. Tháng chín, dân động Ma-sa ( ở vùng Đà-giang ) nổi loạn, tháng mười vua đem quân thân-chinh và dẹp yên.

Thường-Kiệt đi đâu vắng mà vua phải thân-chinh ? Các sử ta không hề chép. Nhưng còn có hai bia đời Lý nói rõ rằng ông được sai coi đất Thanh-hóa : “ Đầu đời Anh-vũ-chiêu-thắng, vua ban hiệu Thiên-tử nghĩa-đệ sai ông ra giữ trấn Thanh-hóa thuộc quận Cửu-chân, châu Ái, coi mọi việc quân và dân. Lại phong cho ông lộc của một vạn hộ ở Việt-thường ”. Niên-hiệu Anh-vũ-chiêu-thắng có từ tháng tư năm Bính-thìn 1076 đến tháng hai năm Ất-sửu 1085. “ Năm Nhâm-tuất, Hoàng-đế đặc-gia một quân ở trấn Thanh-hóa, ban cho ông làm phong-ấp ”. Năm Nhâm-tuất 1082 chính là năm trước khi có những việc Nhân-tông thân-hành đã kể trên.

Vậy thì chắc rằng trong năm Nhâm-tuất ông ra đóng ở trấn Thanh-hóa, có lẽ vào cuối năm ấy, song hình như ông đã được trao quyền coi Ái-châu từ trước nhưng chỉ phải dao-thụ, nghĩa là ở xa trông-coi mà thôi. Từ lúc đánh Chiêm-thành về, ông đã có chức Nam-bình tiết-độ-sứ, Nam-bình đây có thể trỏ ba châu mới được. Ta sẽ thấy rằng năm Tân-dậu 1081, Lý Thường-Kiệt có lần vào Thanh-hóa xử việc chia ruộng cho giáp Bối-lý. Vậy bấy giờ ông đã được coi riêng đất Thanh-hóa rồi. Lý Đạo-Thành mất năm Tân-dậu 1081, chỉ còn Thường-Kiệt là kẻ chế lại ít nhiều uy-quyền của Nhân-tông, ông đi xa thì vua mới thân-chinh thực-sự được, chắc đó là một cớ khiến ông vào trấn Thanh-hóa.

Theo lời Triệu Tiết, vua và thái-hậu oán Thường-Kiệt đã gây chiến-tranh với Tống. Tuy những ý-tưởng của Tống đối với nước ta phần nhiều là những thành-kiến chủ-quan nhưng trong cơn nguy-kịch, đang khi quân Tống uy-hiếp lăng-tẩm và kinh-thành nhà Lý, thái-hậu và vua là đàn bà con trẻ quen sống thái-bình êm-ấm, chắc chẳng khỏi có lúc nản lòng và oán viên đại-tướng quen với trăm trận không nghĩ đến sự nhàn thân. Vả bấy giờ chiến-tranh đã xong mà lại đòi được tất cả những đất đã mất, danh-dự và quyền-lợi đã bảo-toàn, thế mà Thường-Kiệt còn gắt-gao đòi lại đất Vật-ác, Vật-dương. Tháng 9 năm ấy ông lại đem quân vào đánh Nùng Trí-Hội để chiếm đất Vật-dương và có lẽ còn soạn-sửa tấn-công mạnh vào đất Tống nữa. Những lời Ngô Tiềm nói và những tin đồn ở Quảng-tây rằng quân ta sắp đánh Tống, dẫn lại trong chương trước, chứng-thực cho sự sửa-soạn ấy. Tự-nhiên thái-hậu sợ vì ông mà chiến-tranh lại bùng nổ một lần nữa. Đó là cớ thứ hai mà thái-hậu và vua muốn ông bỏ chính-quyền. Tuy vậy như ta đã thấy, triều-đình Lý vẫn thiết-tha muốn đòi lại 2 động Vật-ác và Vật-dương nhưng chỉ muốn dùng lối ôn-hòa. Trước đó bốn năm, Tống đã đòi Lý xử tội Thường-Kiệt đã gây chiến-tranh. Nếu ông rời ngôi tể-tướng, có lẽ sự điều-đình sẽ dễ-dàng hơn. Đó là lẽ thứ ba khiến vua Lý Nhân-tông sai ông vào coi trấn Thanh-hóa. 

Thường-Kiệt phải bỏ Thăng-long vào Thanh-hóa là một sự bất-đắc-dĩ nhưng không phải bị cách chức hay khiển-trách. Vua Nhân-tông lại đặc-biệt đặt thêm một quân ở Thanh-hóa để phó cho ông và phong một vạn hộ ở Việt-thường nghĩa là ở ba châu ngoài dãy núi Hoành-sơn. Như thế đủ tỏ rằng tuy thôi chức tể-tướng nhưng ông vẫn rất được tôn-trọng. Vả hình như hồi ông ở Thanh-hóa, các triều-thần như Lê Văn-Thịnh vẫn chịu ảnh-hưởng của ông trong việc điều-đình với Tống để đòi đất.


3. Thị-trấn Thanh-hóa

Thanh-hóa là một trấn giàu, rộng, được khai thác từ đời Hán, Đường. Nhân-dân trù-mật và rất được giáo-hóa. Việc cai-trị và hành-chính ở đó chẳng khác gì ở trung-nguyên chung-quanh Giao-châu. Đời Đinh, Lê, đô đóng ở Hoa-lư không xa Thanh-hóa mấy. Lê Hoàn lại là người Ái-châu. Năm 993, Lê Hoàn phong cho con thứ bảy là Long-Túng làm Định-phiên-vương coi Ngũ-huyện-giang ở Ái-châu. Đến đời Lý kinh-đô đóng tại Thăng-long, đất Ái-châu liền đổi ra trại. Thanh-hóa hình như không được quan-tâm đến lắm, các sử còn lại không chép một tên vị quan nào được bổ coi Ái-châu trong đời đầu Lý. Trong khoảng ba đời vua đầu nhà Lý, ta thấy sử còn chép dân nổi loạn sáu lần, mỗi lần hoặc vua thân-chinh hoặc vua sai hoàng-tử đi dẹp. Năm 1061, Thường-Kiệt đã được sai đi kinh-phỏng ở Ngũ-huyện.

Đất Thanh-hóa bấy giờ chỉ giao cho các châu-mục giữ chứ không có đại-quân đóng, mỗi lúc hữu-sự thì sai quân ở miền bắc vào. Phải đợi đến năm 1082, Lý Nhân-tông mới đặt Thanh-hóa thành một trấn có đạo quân đóng ở đó luôn, đạo quân ấy giao cho Lý Thường-Kiệt. Ta có thể coi Thanh-hóa gần như là một nước nhỏ tự-lập với triều-đình. Lý Thường-Kiệt tuy không có tước vương nhưng là một Thiên-tử nghĩa-đệ, vậy ông được hoàn-toàn tự-do hành-động trong trấn ông coi. Trị-sở trấn Thanh-hóa bấy giờ ở gần xã Duy-tinh huyện Hậu-lộc ngày nay. Trấn-sở có lẽ không to-tát kiên-cố lắm vì mười lăm năm sau đã phải sửa-chữa nha-thự. Với lộc vạn-hộ ở Việt-thường và thuế cả Ái-châu, ông có thể xây đủ lâu-đài doanh-thự nhưng hình như ông không muốn làm phí-phạm của dân.

Vả dân Thanh-hóa cũng như dân khắp cả nước Đại-Việt đương-thời, sinh-hoạt cốt nhờ nghề nông. Tuy cũng có những nghề nhỏ như chăn tằm, dệt vải, đánh cá, trồng hoa quả, đốn gỗ, săn tê tượng, làm muối, làm công-nghệ và buôn-bán nhưng đều là những nghề phụ. Kẻ trị dân tốt là kẻ không quấy-nhiễu dân, không làm dân tốn tiền tốn của, phải chầu-chực việc công, để dân có đủ thời-giờ cày cấy đúng thời, tát nước, làm cỏ. Kẻ trị dân tốt là kẻ nghiêm cấm tụi vô-lại cướp lúa, cướp tiền-của, ăn trộm trâu bò hay tranh-giành ruộng đất. Kẻ trị dân tốt lại là kẻ xử kiện công-minh, để cho kẻ bị áp-bức có đường kêu, cho kẻ phạm tội không oán-trách. Còn như những công-tác làm cho kinh-tế mở-mang, quốc-quĩ dồi-dào, nếu làm thì phải phiền đến dân trước đã : hoặc ép dân phải đi xâu, hoặc bắt dân phải đóng thuế. Cho nên một kẻ “ lương-mục ” ngày xưa thường tránh không làm.

Ta không biết Lý Thường-Kiệt trị dân bằng cách nào. Có lẽ ông chỉ chăm phủ-dụ không làm phiền dân, xử kiện rất công bình. Vị đại-sự Hải-chiếu Pháp bảo là một người làm việc ở Thanh Hóa dưới quyền ông đã ca-ngợi công-đức ông trong bài bia Linh-xứng. Lời bia nói rằng :

“ Ông, trong tỏ khoan-minh, ngoài thì ân-huệ. Sửa-đổi tục xấu cho dân không quản khó-nhọc. Làm việc thì cốt tránh làm phiền dân, sai dân thì cốt dỗ dân vui lòng làm việc, vì đó mà dân được nhờ. Đem bụng khoan-thứ cứu dân, lấy lòng nhân-ái yêu dân, vì đó mà dân kính-phục. Lấy vũ-oai để trừ lũ ác, lấy chính-luật mà xử kiện, nhờ đó mà không ai oán, cho nên ngục-thất chẳng cần coi. Xem sự đủ ăn là nguyện của dân, lấy việc cày cấy là gốc của nước, nhờ đó mà mùa không mất. Cai-trị giỏi cho nên không cần đánh dẹp. Nuôi-nấng những kẻ già-nua cho nên kẻ già được yên. Đạo ông như thế có thể gọi là gốc để trị dân, thuật để yên dân. Thật là đẹp-đẽ ! ”

Tuy lời các bia là lời tán-dương của những kẻ thuộc-hạ nhưng ta không có lẽ gì mà cho đó chỉ là lời nịnh-hót một vị quan trên, nhất là văn ấy lại viết sau khi Lý Thường-Kiệt đã rời Thanh-hóa hoặc đã mất. Một sự chắc-chắn là từ khi ông ra coi Ái-châu, trong mười chín năm, không hề thấy sử chép một việc loạn gì ở vùng Thanh-hóa trở vào nam. Trái lại sau khi ông trở về triều, ở Diễn-châu và ở miền giáp Chiêm-thành lại có giặc quấy. Trong lúc tại quận, nhân-dân yên-ổn, chính-sự nhàn-rỗi, ông thường ngao-du sơn thủy để thưởng-thức phong-cảnh đẹp lạ ở Thanh-hóa.

Những lúc khách kinh-kỳ tới viếng, những lúc sứ Chiêm-thành, Chân-lạp qua chầu, ông đón tiếp ân-cần. Đó cũng là những lúc đỡ tẻ trong đời êm-lặng của tướng-quân tại quận. Các sử không chép việc ông ra trị Thanh-hóa, vậy ta không biết rõ chính-tích của ông. Chỉ có bia chùa Hương-nghiêm còn ghi chuyện ông chia đất ở làng Bối-lý và bia Linh-xứng chép chuyện ông với một vị cao-tăng tới thăm ông, cùng đi du-lịch sông núi và chuyện ông dựng chùa Linh-xứng, nhà Thọ-đường mà thôi.

Sau đây là chuyện chia đất. Chùa Hương-nghiêm là một ngôi chùa cổ lập ra từ đời Đường ở giáp Bối-lý. Người sáng-lập là Lê Lương, một kẻ rất giàu-có và nhiều thế-lực trong hạt. Gặp năm đói-kém, ông lấy của nhà phát chẩn cho dân. Khi Đinh Tiên-Hoàng lên ngôi, vua ban cho ông chức-tước và thực-ấp. Thực-ấp ấy là đất chung-quanh chùa, có lẽ rộng như một phủ, huyện. Đến đời Lý Nhân-tông, họ Lê có vị đại-sư rất có tiếng là Đạo-dung, sư lại có người anh họ là Lưu Khánh-Đàm, bạn thân của Lý Thường-Kiệt. Vì vậy Thường-Kiệt đã vì sư và Khánh-Đàm sửa-chữa chùa Hương-nghiêm ở trong trị-hạt của ông.

Chính-tích của Lý Thường-Kiệt trong mười chín năm tại trấn mà nay chỉ ghi được một việc cỏn-con như thế mà thôi. Thật là đáng tiếc, đáng trách các sử-gia và văn-sĩ ta đã không ghi chép việc thường ngày.


4. Trở về triều

Ông ở Thanh-hóa trong mười chín năm, từ 1082 đến 1101. Năm Tân-sửu 1101 , vua Nhân-tông cải nguyên, lấy niên-hiệu Long-phù và cử Lý Thường-Kiệt kiêm chức nội-thị phán-thủ đô-áp nha-hành-điện nội ngoại đô-trị-sự, nghĩa là một chức quan hầu gần vua và coi hết các việc trong ngoài cung điện. Như thế đủ tỏ rằng đã có một sự thay đổi lớn ở triều đình năm ấy và Lý Thường-Kiệt được gọi về kinh. Hai chứng phù-hợp với nhau cho ta biết chắc rằng năm Tân-sửu, vua Lý Nhân-tông mời ông về Thăng-long giữ chức tể-tướng trở lại. Lúc rời kinh, ông 64 tuổi, bấy giờ trở về đã 83 tuổi. Vì lẽ gì có việc thay đổi nầy ? Năm năm trước, thái-sư Lê Văn-Thịnh bị cách chức vì vua hiềm-nghi ông muốn dùng thuật-pháp để hại vua. Văn-Thịnh bị đày vào Thanh-hóa giao cho Thường-Kiệt giữ. Sử không chép ai thay ở chức tể-tướng.

Sau đó mấy năm liền, nhiều hiện tượng thiên-nhiên xẩy ra mà người ta cho là điềm xấu, báo Trời không bằng lòng nhân chính, tin trước những tai-họa sắp xẩy ra như : tật-dịch, binh-đao, hoặc một vị đại-thần, thái-hậu, vua sắp mất. Khi thấy có những điềm ấy, vua thường tự xét mình có tội-lỗi gì và tìm phương cứu-chữa : sai xét lại các án, phóng-thích tù-nhân, cầu “ trực-ngôn ”, nghĩa là cho phép công-luận một cách không dè-dặt chỉ-trích chính-sách triều-đình và đề khởi những chính-sách mới. Cũng có lúc dùng lễ-bái để cầu Trời cầu Phật tha lỗi, hay dùng một cách giản-dị hơn là đổi niên-hiệu để tỏ mình bắt đầu một kỷ-nguyên mới như một người thường dân gặp vận đen thì đổi nhà hay đổi họ, đổi tên.

Năm Đinh-sửu, chín tháng sau khi Lê Văn-Thịnh phải tội, trên trời, sao hiện giữa ban ngày. Vua liền xá tội cho các tù-nhân giam ở nhà ngục Đô-hộ-phủ ở Thăng-long ( 1097 ) . Một năm sau nữa, đất động, sao chổi lại hiện ra. Vua 35 tuổi vẫn chưa có hoàng-trừ. Vua lập đàn, có xây núi Ngao-sơn trên đất cạn, dựng đài cao, chung-quanh treo đèn đủ sắc đủ kiểu, ở trên có vũ-nữ múa, nhạc-công cử nhạc. Rồi trong hai năm, Nhân-tông và thái-hậu dựng nhiều chùa ở núi An-lão ( Kiến-an ) , núi Tiên-du ( Bắc-ninh ). Vua sai Kiều Văn-Tư đi sứ Tống để xin kinh Tam-tạng. Vua cố gắng như vậy nhưng tai-nạn cũng không tránh khỏi. Cuối năm Canh-thìn 1110 , bệnh dịch phát to trong nước, đầu năm sau vua cải-nguyên và mời Lý Thường-Kiệt về kinh.

Ông có thay đổi chính-trị gì không ? Các sử ta chép những khoảng nầy rất sơ-sài nên không thấy nói gì về chính-sự. Chỉ thấy trong mấy năm liền chép rặt chuyện dựng chùa, xây tháp, hoàng-hậu và phi-tần ăn chay cầu-tự và chuyện vua đi các hành-cung xem cày, gieo thóc, xem đánh cá hoặc săn voi. Tuy nhiên ta cũng còn thấy sử chép một đôi việc, có thể đoán là do sáng-kiến của ông mà ra. Liền sau khi từ Thanh-hóa trở về triều, ông đổi châu Hoan ra phủ Nghệ-an, chắc là ông đã thấy vị-trí quan-trọng của châu Hoan trong việc phòng-thủ nước nhà nên cất xứ ấy lên hàng phủ để tăng số quân-lính coi giữ. Cuối năm Nhâm-ngọ 1102 , lụt to, đầu năm sau ông sai các nơi trong và ngoài thành đắp đê chắn nước.

Tuy chính-tích ông ghi rất ít nhưng ta cũng tin rằng việc ông về triều đã làm yên lòng vua và dân. Những năm sau đó đều là những năm thịnh. Sử chép rằng vào tiết lập-xuân, tháng chạp năm Nhâm-ngọ đầu năm 1103 , “ thụy-tuyết ” xuống. Tuyết là sương-muối chăng ? Bấy giờ cho rằng nó báo điềm tốt. “ Rồng vàng ” lại hiện, “ mây tốt ” cũng thấy trên trời, hươu đen tự nhiên tới. Vua ban áo lạnh cho các quan, đặt lễ thu-yến. Thái-hậu đem tiền kho chuộc con gái nhà nghèo đã phải thế thân trả nợ rồi đem gả cho đàn ông góa vợ nhưng không có tiền cưới vợ khác. Sứ Chiêm tới cống. Vua sai Đỗ Anh-Hậu đi sứ Tống. Thật là cảnh-tượng thái-bình. Chỉ có cuối năm Quí-vị 1103 đầu năm Giáp-thân 1104 có loạn ở miền nam, nhưng hình như cũng không nguy-kịch mấy.

Sau khi Lý Thường-Kiệt tự đem quân dẹp loạn Lý Giác ở Diễn-châu ( 1103 ) và Chiêm-thành ở các châu Bố-chánh ( 1104 ), ông tổ-chức lại quân-đội trong nước. Tháng ba năm Giáp-thân 1104 , duyệt lại các đơn-vị từ cấm-binh đến dân-quân. Đổi hai đội binh Hoàng-nam-dũng-tiếp tả và hữu ra đô Ngọc-giai. Đô là đội thân-quân, hộ-vệ vua và giữ cung-điện. Đô Ngọc-giai là đô hầu bên “ thềm ngọc ” tức là gần bên ngai vua. Đội binh Ngự-long được đổi ra đô Hưng-thánh và đô Quảng-vũ , đó là cấm quân. Còn sương-quân thì có quân của các đại-tộc tức là quân của các nhà quan có quyền-thế nhưng không phải họ vua, dân-quân vừa cày vừa làm lính gọi là điền-nhi. Quân của nhà quan đổi thành lính Vũ-thắng. Điền-nhi đổi ra lính Thiết-lâm. 


5. Dẹp loạn Lý Giác

Sau khi Thường-Kiệt rời khỏi Thanh-hóa, dân miền nam lại có kẻ manh-tâm làm loạn tuy rằng Nghệ-an được củng-cố phòng-thủ hơn trước. Ở đất Diễn-châu có Lý Giác chống với quan-quân. Tương-truyền rằng Giác học được phép phù-thủy, dùng âm-binh sai khiến quân lính giả bện bằng rơm, bằng cỏ. Giác chiêu-tập những kẻ vô-lại, chiếm Diễn-châu, đắp thành để làm loạn. Loạn Lý Giác báo về đến kinh, vua hỏi quần-thần ai có thể cầm quân dẹp nổi. Các quan đều trỏ Lý Thường-Kiệt tuy rằng bấy giờ ông đã 85 tuổi. Vua nói : “ Giặc Lý Giác kiệt-hiệt, nên chọn tướng trẻ mà địch nó. Thường-Kiệt dự việc binh đã lâu năm nay đã già rồi. Nếu nay Trẫm lại còn giao cho việc quân thì không đành lòng. Trẫm muốn đãi kẻ lão-thần ”. Thường-Kiệt cúi đầu tâu rằng : “ Tôi từ trước chưa từng học mưu lược của kẻ làm tướng, thế mà đánh Chiêm phạt Tống, may được thành-công. Đó là nhờ đức thiêng của Bệ-hạ và sự gắng của các tướng-thần. Nay nhờ ơn nước, tôi được ngôi cao, lộc trọng thế này. Nếu cứ ngồi yên xem giặc Giác làm kiêu thì tôi sẽ chết không nhắm được mắt ”, rồi ông tình-nguyện đi đánh. Vua ban lời khen ngợi và bằng lòng để ông đi.

Diễn-châu là đất phía bắc tỉnh Nghệ-an và có lẽ gồm một ít đất Thanh-hóa. Thường-Kiệt đem quân đến đánh. Lý Giác thua, bỏ chạy vào Chiêm-thành. Dư-đảng bèn tan. Việc loạn Lý Giác này cũng như việc đánh Chiêm-thành năm sau có lẽ không phải là một cuộc xuất quân quan-trọng. Dẫu sao, chuyện Lý Giác lại có kết-quả là gây mối chiến-tranh với Chiêm-thành một lần nữa.


6. Đuổi quân Chiêm

Lý Giác chạy trốn vào Chiêm-thành, nói rõ tình-hình nước ta cho vua Chiêm nghe. Vua Chiêm bấy giờ là Chế ma-na, Maspéro nói là Indravarman II. Có lẽ Giác mách vua Chiêm rằng từ khi Nhân-tông thân-chính, vũ-bị không gia-ý như trước cho nên vua Chiêm đem quân vào chiếm lại các đất Lâm-bình, Minh-linh và Bố-chánh mà Chế-củ đã nhường cho ta. Tháng hai năm Giáp-thân 1084 , vua Lý sai Thường-Kiệt đem quân vào đuổi. Quân Chiêm thua, Chế ma-na phải trả lại ba châu ấy. Như trên đã nói, việc đánh Chiêm-thành lần này không kịch-liệt, đó chỉ là một cuộc tuần-biên, nhưng nếu xét lịch-sử bang giao Chiêm-Việt từ lúc Tống, Lý chiến-tranh, ta có thể hiểu được rằng cuộc xung-đột lần nầy có thể xẩy ra nhưng chẳng quá một cuộc xích-mích ở biên-thùy.

Trước đó Chiêm-thành nghe lời Tống đem quân chực đón đánh quân ta trong khi Quách Quì tấn công mặc bắc để dồn quân ta xuống cõi miền nam ( 1076 - 1077 ) . Nhưng sau thấy quân Tống phải rút lui, Chiêm-thành lấy làm lo, sợ ta trả thù, vì vậy trong năm 1077 , Chiêm sai sứ tới nước ta và sứ-thần Chiêm khi tới Biện-kinh cùng một lúc với sứ ta đã tìm cách tránh mặt. Từ năm 1081 đến 1091, năm nào sứ Chiêm cũng đến cống vua Lý. Trong khoảng thời gian ấy, vua Lý cũng có sai Mạc Hiển-Tích đến nước Chiêm một lần, nói là để đòi lễ tuế-cống nhưng có lẽ không phải vì mấy năm liền Chiêm không hề thiếu cống. Năm 1092, vua Chiêm hơi đổi ý. Nhân sứ Chiêm tới Tống, vua Chiêm xin Tống đem quân đánh Lý và hẹn sẽ tập-kích để yểm-hộ. Vua Tống nói rằng : “ Chiêm-thành có thù cũ với Giao-chỉ, hiện nay Giao-chỉ vẫn giữ thần-tiết vào cống thường-thường, vậy khó lòng bàn việc cất quân đánh Giao-chỉ ”. 

Chiêm-thành nghỉ cống trong ba năm. Năm 1094 lại bắt đầu sai sứ đến triều Lý một hoặc hai năm một lần cho đến hết đời Lý Nhân-tông. Nhưng năm 1103 không thấy sử chép Chiêm tới cống mà năm 1104 lại có, vậy ta có thể hiểu rằng đó là vì Lý Giác xui-giục Chiêm-thành vào đánh nước ta. Vua Chàm sẵn thù vua Lý nên bị lầm, tưởng nước ta bấy giờ yếu nên mới đem quân vào chiếm miền nam, nhưng khi Thường-Kiệt kéo quân vào thì Chiêm liền lui, vua Chiêm lại sai sứ tới Thăng-long như cũ. Vả Thường-Kiệt cũng không có ý kéo quân vào chiếm thêm đất Chiêm, bấy giờ ông đã 85 tuổi, tuy không hăng-hái như trong trận năm 1069 nhưng già như vậy mà còn cầm quân đi xa hơn ngàn dặm, so với chuyện Mã Viện đời Hán cũng chẳng kém gì.


7. Huân-dự cuối cùng

Vua Nhân-tông nghị công ông đánh-dẹp, đem vũ-uy làm chấn-động từ Tống đến Chiêm bèn chế bài hát để tán-dương công-trạng rồi ban chức : Triều-quốc thái-úy, thủ thượng-thư-lệnh, khai phủ nghị-đồng-tam-ti, kiêm ngự-sử đại-phu, dao thụ chư trấn tiết-độ-sứ . Nhưng tuổi già ông không chịu nổi gian-lao trong cuộc đuổi quân Chiêm. Năm sau, vào tháng 6 năm Ất-dậu 1105, ông mất tại kinh-đô, thọ 86 tuổi. Vua tặng quan-chức tước-lộc như sau : Nhập-nội-điện đô-tri kiểm hiệu-thái-úy, bình-chương quân-quốc-trọng-sự, Việt quốc-công, thực-ấp vạn hộ. Vua lại phong cho em là Thường-Hiến nối tước hầu, ban tên thụy là Mục-uyên. Nhữ Bá-Sĩ nói mộ Lý Thường-Kiệt đặt tại làng Yên-lạc, huyện Kim-động, tỉnh Hưng-yên ngày nay.


8. Dư-luận

Công-trạng Lý Thường-Kiệt lớn-lao như thế, đời Lý đã rất được tán-dương. Các bia Linh-xứng, Báo-ân và Hương-nghiêm đã ghi lại một vài lời tán-tụng. Chỉ cần nhắc lại rằng bấy giờ vua Nhân-tông mới lên mười tuổi thì ta đủ hiểu rằng lời khen trên qui vào Lý Thường-Kiệt là kẻ vừa cầm quyền vừa cầm quân. Đời Trần tuy không có văn tán-dương công-trạng Lý Thường-Kiệt nhưng sách Việt-điện u-linh đời ấy còn chép chuyện ông và nói vua Trần Nhân-tông phong sắc thần cho ông, thế cũng đủ biết danh ông còn lừng-lẫy ở đời ấy. Chỉ tiếc rằng Lê Văn-Hưu trong Đại-Việt sử-ký không để lại một lời bàn.

Đầu nhà Lê, Nguyễn Trãi trong Bình Ngô đại-cáo có nói rằng hào-kiệt nước ta đời nào cũng có ; cho nên “ Triệu Tiết nghe tiếng giật mình ! ”. Đó là một câu để ca-tụng kín-đáo Lý Thường-Kiệt. Trong đời Lê Thánh-tông, văn-học đại-thịnh. Tuy đối với những kẻ hoạn-thần, sử-gia đã có lòng khinh-dể nhưng Ngô Sĩ-Liên khi chép đến trận Ung-châu cũng phải phê-bình : “ Vua Tống ban tên thụy cho Tô Giàm là Trung-dũng cũng đủ làm rạng lòng trung-dũng của Lý Thường-Kiệt ”. Dư-luận đời Hậu-lê thường chú-ý đến Thường-Kiệt là một hoạn-quan hoặc có ý tiếc rằng sự-nghiệp ấy không vào tay một nho-thần, hoặc có ý tự-phụ rằng hoạn-quan nước Việt còn thế huống chi nho-thần ! Tự-nhiên đó chỉ là những dư-luận của nhà nho, nhờ chữ nho mà nay còn sót lại. Còn dư-luận của các hạng người khác ra sao thì ta không thể biết được.

Ngô Thì-Sĩ là người đã chịu khó khảo-sát các sách Trung-quốc để tăng-bổ đoạn sử Lý Thường-Kiệt. Ông đã phê-bình nhiều về họ Lý. Thì-Sĩ viết : “ Nước ta với Bắc triều đánh nhau nhiều lần, khi thắng, khi bại. Sau đó Ngô Tiên-chúa được trận ở Bạch-đằng, Lê Đại-hành giết giặc ở Lạng-sơn. Trần Nhân-tông bại Toa-đô, bắt Ô-mã-nhi, đuổi Thoát-hoan. Ấy là những việc mà nước ta thích khoe. Nhưng những cuộc thắng trận ấy đều vì giặc đến trong nước, ta bất-đắc-dĩ mà chống. Bên mỏi, bên nhàn khác nhau ; thế chủ, thế khách chênh-lệch. Đến như bày trận đường-đường kéo cờ chính-chính ; mười vạn quân kéo thẳng sâu vào đất khách ; phá quân ba châu như chẻ trúc ; lúc tới cõi không ai dám địch ; lúc rút quân không ai dám đuổi ; dụng binh như thế chẳng phải nước ta vốn chưa từng có bao giờ ? Vậy cho nên tôi cho rằng việc các châu Ung, Liêm, Khâm là vũ-công đệ nhất từ xưa nay ở nước ta. Lý Thường-Kiệt khởi thân là một quan hoạn mà lập được nhiều công lạ liền-liền, người Tống thật phải xấu-hổ !

“ Hoặc có kẻ hỏi tại sao không gióng trống thẳng tiến ? Nếu không đến kinh-đô nhà Tống thì cũng lấy lại đất của nhà Triệu ta xưa. Xin trả lời : Phải biết người, biết ta. Trăm trận mà không biếng, đó là phép dụng vũ hay đó. Xét thấy nhờ việc này mà ta trương vũ-uy, người Tống thấy ta mạnh bèn nghĩ cách lấy ân-ý mà đãi ta. Từ đó về sau nghi-lễ cống-sính, lời-lẽ văn-thư đều không sách-hoạch lôi thôi nữa ..... ”.

Qua đời Nguyễn, nghị-luận cũng quanh-quất trong hai ý ấy : tán-dương vũ-công, chú ý đến việc xuất-thân là hoạn-thị. Ngày nay chúng ta không thành-kiến, có thể xét sự-nghiệp Lý Thường-Kiệt một cách công-minh. Đọc hết đoạn sử này, ai cũng phải công nhận rằng Lý Thường-Kiệt đã có công đặc-biệt đối với vận-mệnh nước ta : mở cõi miền nam và miền bắc, chống thắng cuộc xâm-lăng của nước ngoài và củng-cố biên-thùy mọi mặt khiến các lân-bang kính-nể. Đạt được mục-đích ấy là nhờ dân ta đời Lý đã đông-đúc, lại nhờ kẻ cầm quyền biết tổ-chức binh-đội, biết lợi-dụng đức-tính bền-bỉ của nông-dân ở đồng-bằng, tập-tính giỏi nghề đi sông đi bể của dân miền bể và hiểu thiên-thời địa-lợi của dân thượng-du.

Trái lại, tuy Tống có của-cải nhiều, binh-mã giỏi, tướng có kinh-nghiệm, vua có chí to, nhưng những cái sở-trường ấy không hợp với mục-đích xâm-lăng, không hợp với địa-hình, thời-tiết miền nam. Cũng tướng ấy, quân ấy, nếu để ở biên-thùy bắc thì có thể ngăn cản được quân Liêu, Hạ. Nhưng vua Tống lại đem chúng tới vùng nóng-nực, rừng núi, xa làng-mạc chúng. Chỉ nêu danh-nghĩa đem quân đi phạt man-di thì có lẽ chỉ làm phấn-khởi các tướng-tá vì họ mong thắng trận rồi được thăng chức-tước, nhưng đối với quân ô-hợp lượm ở miền bắc thì chỉ có mong muốn cướp-bóc, hiếp-chóc, họa may mới làm chúng chiến-đấu hăng-hái. Khốn nỗi, quân chưa xuống đến miền giàu có mà đã bị thiệt-hại nhiều, cho nên không ai có lòng chiến-đấu.

Lý Thường-Kiệt đã biết đem sự bất-kỳ chống với sự mạnh, đem chỗ mình giỏi chống với chỗ địch kém, đem quân được nghỉ ngơi đợi quân phải mệt-nhọc, đem sự nhẫn-nại chống với sự kiêu-căng, nhất là lấy nghĩa sinh-tồn của một dân-tộc đối với lòng cầu danh của một vài nhân-vật địch. Đó là những cái cớ chính làm cho quân Lý thắng và quân Tống thua. Công Lý Thường-Kiệt là to, tài cầm quân của Lý Thường-Kiệt cao đã đành, mà đến chính-sách nội-trị và ngoại-giao của Thường-Kiệt cũng khéo. Thường-Kiệt lại không tự-ái quá, biết trọng quyền-lợi chung, nếu không thì sao khi vua còn nhỏ, ông cầm hết quyền-bính và quân-đội trong tay mà không bắt chước Lê Hoàn hay Lý Công-Uẩn, chỉ ra một lệnh là cướp được ngai vàng ? Nếu không thì sao khi thấy tình-thế ngoại-giao với Tống trở nên khó-khăn bởi mình, ông lại chịu bỏ ngôi tể-phụ mà ra lủi-thủi ở trấn Thanh-hóa ?

Tuy sách-sử ta chép chuyện sơ-sài, nhưng xét qua những sự còn ghi trong các sách Tống ta cũng hiểu được ít nhiều đức-tính của Thường-Kiệt, chỉ tiếc rằng riêng về cá-tính của ông thì không có những chứng làm cho ta biết rõ ràng hơn. Những lời nói mà bia Nhữ Bá-Sĩ và sách Cương-mục còn chép, vào khoảng đồng-ấu và lúc già, thì không có gì chắc-chắn. Sợ đó chỉ là lời sáo-ngữ mà sử-quan hay người viết thần-sắc và dã-sử đã bịa ra mà thôi. Chỉ có một điểm mà ta chắc-chắn là thái-độ của Thường-Kiệt đối với đạo Phật, tuy không mê đạo nhưng ông cũng đã che-chở các tăng-đồ và ít ra cũng đã dựng chùa Linh-xứng ở Thanh-hóa. Chùa ấy nay cũng đã mất, ngoài cái bia chùa còn lại, tuyệt-nhiên không còn vật gì kỷ-niệm một vị ân-nhân của dân-tộc ta. Tưởng nay đã đến lúc có thể đền-bù công đức của Lý Thường-Kiệt.



CHƯƠNG XIV : ĐẠO PHẬT ĐỜI LÝ

1.- Tín-ngưỡng ở Giao-châu

Trước khi các tông-giáo tràn vào, người Việt chắc đã tôn-sùng những mãnh-lực thiên-nhiên như núi sông, sấm chớp. Những di-tích còn lại không những ở trong tập-tục của dân-gian mà trong điển-lệ tế-tự nay còn những vị thần được thờ tại rất nhiều nơi mà không ai biết rõ gốc-tích từ đâu tới. 

Ðến hồi Bắc-thuộc, đạo Nho và đạo Lão được đem vào. Nhất là trong đời loạn-li sau khi Hán mất, Sĩ-Nhiếp là thái-thú ở Giao-châu giữ một vùng yên ổn thì nhiều nhà trí-thức Trung-hoa tụ tập ở Luy-lâu, trị-sở Giao-châu, nhờ đó Nho-học và Ðạo-học lại càng bành-trướng. Trong 2 đạo mới, đạo Lão là thích-hợp với tín-ngưỡng gốc của dân Việt cho nên nó lan tràn nhanh chóng và hòa lẫn với những tập-tục dân-gian. Còn như Nho-giáo tuy được dựa thế những kẻ cầm-quyền, phần đông là nho-sĩ, nhưng nó cũng chỉ giữ tính-cách thường chứ không thành một tín-ngưỡng mới. Sau đó đạo Phật từ Ấn-độ lan đến góc đông-nam lục địa. Với tính-cách ôn-hòa, thần-bí, Phật-giáo chóng ăn sâu vào lòng tín-ngưỡng người Việt, nó dung-hòa dễ-dàng với sự sùng-bái thường và dễ đi đôi với Ðạo-giáo đến đấy từ trước.

Ba tông-giáo Nho, Lão, Phật đã sớm thành cơ-bản của tín-ngưỡng dân Việt và đồng thời tiến-triển, cho nên thường gọi là Tam-giáo. Tuy nói là tam-giáo tịnh hành nhưng theo thời-đại, một hay hai giáo vẫn được chuộng hơn. Ta sẽ thấy trong thời nhà Lý, Phật-giáo chiếm bậc nhất. Nhưng ta cũng phải nhận rằng Phật-giáo hành ở xứ ta, cũng như ở Trung-quốc bấy giờ, đã dung-hòa với Ðạo-giáo và những tín-ngưỡng gốc ở dân-gian. Nó đã biến thành một tông-giáo lấy Phật làm gốc nhưng lại ghép vào các vị thần-linh mà xưa chỉ là một mãnh-lực thiên-nhiên. Nó dùng những kỳ-thuật theo-đuổi những mục-đích thích-hợp với Ðạo-giáo hơn là Phật-giáo.

Ðịa-vị các tăng-gia trong suốt đời Lý vẫn là trọng nhưng ảnh-hưởng về chính-trị hình như không có bao nhiêu. Về phương-diện tinh-thần và luân-lý thì hẳn rằng Phật-giáo có ảnh hưởng lớn. Nó đã đổi cái triều-đình vũ-phu và mộc-mạc đời Ðinh, Lê, đóng ở chỗ đầu ngàn cuối sông ra một triều-đình có qui-mô, có lễ-độ, ở giữa bình-nguyên, có thể so-bì với các nước khác ở miền bắc.


2. Ðạo Phật tới Việt

Nhờ một câu chuyện giữa thái-hậu Linh-nhân, tức là Ỷ-lan, mẹ Lý Nhân-tông, với một nhà sư có học uyên-bác mà ta còn biết gốc-tích đạo Phật ở nước ta. Ngày rằm tháng 2 năm Hội-phong thứ 5 ( 1096 ) , thái-hậu đặt tiệc chay ở chùa Khai-quốc thết các tăng. Tiệc xong, thái-hậu kê-cứu đạo Phật với các vị sư già học rộng. Thái-hậu hỏi :

“ Nghĩa hai chữ Phật và Tổ thế nào ? Bên nào hơn ? Ðạo tới xứ ta đời nào ? Truyền-thụ đạo ấy, ai trước ai sau ? Mà sự niệm tên Phật, hiểu tâm tổ là do từ ý ai ? ”

Các sư đều im-lặng. Chỉ có vị Trí-không trả lời rất tường-tận từng khoản, vì đó thái-hậu ban cho sư hiệu Thông-biện quốc-sư. Về đoạn truyền giáo vào xứ ta, lời sư đại-khái như sau :

“ Phật và Tổ là một. Phật truyền đạo cho Ca-diệp. Về đời Hán có Ma-đằng đem đạo vào Trung-quốc, Ðạt-ma lại truyền vào nước Lương và nước Ngụy. Ðạo rất thịnh khi dòng Thiên-thai thành-lập, dòng ấy gọi là Giáo-tông. Sau lại có thêm dòng Tào-khê tức là dòng Thiền-tông. Hai dòng ấy vào nước ta đã lâu năm. Về dòng Giáo có Mâu Bác và Khang-tăng-hội là đầu. Về dòng Thiền trước nhất có Tì-ni-đa-lưu-chi, sau đó Vô-ngôn-thông lại lập ra một dòng Thiền khác nữa ”.

Trí-không trả lời như thế đã khá rõ-ràng. Nhưng thái-hậu có óc phán-đoán lại hỏi thêm chứng những điều nói trên. Sư trả lời rành-mạch, dẫn những sách cũ, những lời của người xưa mà nay ta còn tìm lại được một phần, nó có thể khiến ta tin rằng những chứng Trí-không đem ra đều là đích-xác. Trí-không viện lời của hai người xưa bên Trung-quốc, một người nói đến sự truyền dòng Giáo-tông, một người chứng việc truyền dòng Thiền-tông vào nước Việt.


3. Ðạo Phật bành-trướng

Ma-la-kì-vực, tên chữ Phạn là Marajivaka, người Ấn-độ, đến Giao-châu rồi qua Quảng-châu. Tới Lạc-dương đời Tấn Huệ-đế năm 294. Ông giỏi phù-pháp. Sau gặp loạn ở Trung-quốc, ông lại trở về Ấn-độ. Khang-tăng-hội vốn người Tây-vực, theo cha buôn ở Giao-châu rồi học đạo Phật ở đó. Nguyên người Tây-vực mà ở xứ Việt cho nên học giỏi hai thứ tiếng Phạn và Việt, nhờ đó ông đã dịch nhiều sách Phật ra Hán-văn. Sau đó ông sang nước Ngô, giảng đạo cho Ngô Tôn-Quyền rồi mất tại đó năm 280. Còn như Chi-cương-lương thì Trần Văn-Giáp cho là Cường-lương-lưu-chi chép trong sách Thập-nhị-du-kinh. Tên Phạn của sư là Kalaruci theo Pelliot, hay là Kalganaruci theo Trần Văn-Giáp. Vị sư này tới Giao-châu vào khoảng năm 255 - 256 và có dịch kinh Pháp-hoa Tam-muội.

Xem mấy thí-dụ trên ta thấy rằng nhiều vị tăng dịch kinh Phật là người Ấn-độ hay người Tây-vực. Ngoài những vị đã do đường bộ tới Trung-quốc thì một số đã đi đường bể. Những vị này tất-nhiên phải học Hán-tự. Các vị ấy chắc phần lớn đã qua và ở đất Giao, vì thế đạo Phật rất có thể đã tới nước ta trước khi đến Trung-quốc. Cho đến sư Ðàm-thiên cũng là người Indoscythe ở phía tây-bắc Ấn-độ. Sư rất giỏi Hán-văn. Sở-dĩ sư rõ tình-hình Phật-giáo ở Giao-châu chắc vì cũng có lúc ở đó. Lịch-sử Phật-giáo ở nước ta từ ban đầu cho đến lúc phái Thiền-tông xuất-hiện không được biết rõ vì không ai biên-chép lại. 

Dòng Thiền-tông có 2 phái : phái Nam-phương và phái Quan-bích. Phái Nam-phương vào trước, phái Quan-bích vào sau. Nhưng từ đời Ðinh cả 2 đều phát-triển một cách thịnh-vượng.

Tổ phái NAM-PHƯƠNG là Tì-ni đa-lưu-chi, tên Phạn là Vinitaruci, nguyên người Thiên-trúc hoặc đạo Bà-la-môn ( Braman ) , sau theo Phật-giáo rồi sang các xứ đông-nam để tới Tràng-an, kinh-đô nước Trần bên Trung-quốc ( 573 ). Sau, sư tới Quảng-châu, ở đó sáu năm dịch các kinh Phật. Tháng ba năm Canh-tý 580, sư sang Giao-châu tới trụ-trì ở chùa Pháp-vân tại Luy-châu. Ở đó được mười lăm năm, đến năm Giáp-dần 594 đời Tùy Khai-hoàng mới mất. Ðệ tử Vinitaruci có sư Pháp-hiền, vị này được coi như là tổ thứ nhất của dòng Nam-phương. Sư người Chu-diên họ Ðỗ, ở chùa Chúng-thiện tại núi Thiên-phúc hạt Tiên-du. Sư có rất nhiều học-trò. Thứ-sử Lưu Phương mời tới Luy-lâu ở chùa Pháp-vân. Rồi đi giảng đạo, dựng chùa khắp mọi nơi ở Phong-châu ( Sơn-tây ) , Hoan-châu ( Nghệ-an ) , Tràng-châu ( Ninh-bình ) và Ái-châu ( Thanh-hóa ). Ðến năm Bính-tuất 626 đời Ðường Vũ-đức mới mất.

Phái Nam-phương rất phát đạt và bành-trướng nhất trong vùng Từ-sơn. Có sư Ðịnh-không là tổ thứ tám, lập chùa ở làng Dịch-bảng là quê nhà Lý về sau ( trước 808 ). Sau đó phái Nam-phương có nhiều can-hệ với các triều-đại độc-lập ở nước ta. Sư Pháp-thuận giúp Lê Ðại-hành, sư Vạn-hạnh giúp Lý Thái-tổ, sư Ðạo-hạnh mà tục-truyền là tiền-thân của Lý Thần-tông, sư Minh-không giúp Lý Thần-tông, đều thuộc phái này cả.

Phái QUAN-BÍCH thì đến đời Ðường Nguyên-hòa mới vào nước ta do vị sư người Ðường là Vô-ngôn-thông đem tới. Sư người Quảng-châu, họ Trịnh. Sau khi đi học với Mã-tổ ở Giang-tây, sư về Quảng-châu. Sư sang Giao-châu năm canh-tý 820, ở chùa Kiến-sơ tại Phù-đồng. Phái này phát-đạt cũng chóng và đã phát ra nhiều vị cao-tăng còn để tiếng về sau. Sư Khuông-việt giúp Ðinh Tiên-hoàng, sư Trí-không tức là Thông-biện quốc-sư, sư Khổng-lồ, sư Giác-hải đều thuộc phái này.

Không những ở chung-quanh kinh-kỳ đạo Phật thịnh-hành mà đến những chốn xa như Ái-châu, Phật-giáo đời Ðường cũng đã phát đạt. Trong các vị tăng quê nước ta đã từng đi Thiên-trúc cầu đạo có hai vị người Ái-châu là Trí-hành và Ðại-thặng-đăng. Tuy đạo được thịnh-hành nhưng nước ta bấy giờ vẫn còn bị người Tàu thống-trị cho nên Phật-giáo cũng như các ngành tư-tưởng khác hình như cũng chỉ đạt đến một hạng người quyền-quí hoặc gần-gũi người ngoại-quốc cầm quyền chứ không phổ cập đến dân-gian. Phải đợi đến thời-kỳ độc-lập mới bắt đầu có những bằng chứng rằng Phật-giáo có tổ-chức và ăn sâu vào dân-chúng.


4. Chế-độ tăng và chùa

Trong khi các nước ở Trung-quốc phải đương đầu với Tống trong cuộc chiến-tranh thống-nhất thì ở nước Giao-chỉ, tông-giáo cũng như hành-chính dần dần tự cởi dây ràng-buộc và trở nên tự-trị. Các phái Thiền-tông phát-đạt, tăng-đồ bành-trướng ảnh-hưởng trong xã-hội. Kẻ cầm quyền không những cần đến thiền-sư về phương-diện tín-ngưỡng mà về phương-diện chính-trị cũng cần nữa. Nhất là trong đời Ðinh, Lê các vua đều là những bậc võ-biền, nhân loạn mà nắm được chính-quyền. Học-thức vua ít mà kẻ nho-học cũng chưa đông, phần nhiều chắc trung-thành với triều-đại bị tiếm nên không được tin dùng. Chỉ có kẻ tăng-đồ có đủ thì-giờ, đủ phương-tiện sinh-sống để đọc nhiều, hiểu rộng. Vả nhà tu-hành lại ít có thành-kiến thiên-vị về chính-trị cho nên dễ được vua mới tin-dùng.

Nhà Ðinh mới lập nước liền trọng-đãi các nhà sư. Năm đầu sau khi lên nôi, Ðinh Tiên-hoàng đã định phẩm-hàm và giai-cấp cho các tăng và đạo. Tăng và đạo cũng được coi như là những công-chức văn võ. Tuy đời Lý cũng đặt lại phẩm-hàm và giai-cấp cho tăng-đạo nhưng vẫn theo qui-chế đời Ðinh. Ðầu hàng Tăng có chức Quốc-sư. Sau theo thứ-tự trên dưới có những chức tăng-thống, tăng-lục, tăng-chính, đại-hiền-quan. Quốc-sư chỉ có nghĩa là người sư của nước chứ không phải là chức tể-tướng như thái-sư. Cũng như các chức kia, quốc-sư coi việc giữ các chùa trong nước, giảng đạo, lập đàn, giúp vua trong những việc cầu may, cầu phúc. Ngoài những chức phẩm trên, ta còn nhận thấy những hiệu như đại-sư, trưởng-lão, cư-sĩ. Có lẽ đó chỉ là huy-hiệu mà thôi.

Chùa thì do vua, quan, hay dân làng xây dựng lên. Những chỗ danh-lam thì chắc thuộc nhà vua và được vua cấp tiền của, ruộng đất, phu-hầu. Năm 1088, Lý Nhân-tông định chia chùa làm ba hạng, đại, trung và tiểu-danh-lam do các quan văn và quí-chức đề-cử : “ Ấy vì bấy giờ các chùa có điền-nô và của kho ” , điền-nô là phu cày ruộng cho chùa. Ở các trấn cũng có tăng-quan coi các chùa và phật-giáo.

Ðược làm sư không những là một vinh-hạnh. Sư có chức-phận đã đành, mà về phần vật-chất lại khỏi bị bắt làm xâu, làm lính ; ở chùa lại được bổng-lộc dân chúng cúng và vua ban. Vì thế muốn được làm sư phải có bằng của nhà nước cấp cho, như thế gọi là được độ. Sử-sách ta còn chép một vài năm, vua chọn dân để cho làm sư. Năm 1014 , tăng-thống Thẩm Văn-Uyển xin lập giới-trường ở chùa Vạn-thọ trong thành Thăng-long để cho tăng-đồ thụ giới. Năm 1016 , vua chọn hơn nghìn người ở Kinh-sư để cho làm tăng và đạo-sĩ. Năm 1019 , Lý Thái-tổ lại độ dân khắp nước để làm tăng. Sau mãi đến năm 1134, Lý Thần-tông mới sai hội dân ở đài Nghinh-tiên để độ tăng một lần nữa. Ðó là những cơ-hội lớn chọn tăng một cách tập-đoàn, còn hàng ngày vẫn cấp bằng cho những trai-tráng được rút tên ra ngoài sổ bạ. 

Con cháu những nhà quyền-quí cũng không ngần-ngại bỏ nhà theo Phật-giáo như các cháu họ Lý Thường-Kiệt , sư Mãn-giác con Lý Hoài-Tố , Diệu-nhân ni-sư con nuôi Lý Thánh-tông và sư Viên-chiếu cháu thái-hậu Linh-nhân. Xem chuyện các cao-tăng, ta thấy phần nhiều các vị này giỏi nho-học hoặc khi bé thường học Nho rồi sau mới theo Phật. Nhưng trong khoảng đầu đời Lý chưa mở khoa thi nho, sau dần-dần nho-học tiến-mạnh, tam-giáo tịnh-hành, các khoa thi nho mới được mở đều và các khoa thi tam-giáo cũng được lập vào cuối đời Lý Cao-tông ( 1179 và 1194 ). Các nho-thần như Ðàm Dĩ-mông đã bắt đầu kiềm-chế tăng-đồ, kiểm-điểm khảo-hạch tăng-chúng. Năm 1179, Lý Cao-tông sai thi các đệ-tử tăng-quan tụng kinh Bát-nhạ .

Các vua trước như Thần-tông, Anh-tông mê đạo, nhiều dân-đinh xin độ làm tăng để trốn khỏi dao-dịch, lại có những ác-tăng làm điều phạm-pháp. Năm 1198, Ðàm Dĩ-Mông nói với vua rằng : “ Bây giờ tăng-đồ gần bằng số dịch-phu, chúng tự kết bè, bầu chủ, họp nhau thành từng bầy. Chúng làm nhiều việc bẩn-thỉu, ở nơi giới-trường tĩnh-xá mà công-nhiên rượu thịt ; ở trong trai-phòng tĩnh-viện mà âm-thầm gian-dâm. Ngày ẩn, tối ra, thật như đàn cáo chuột. Chúng làm bại tục, thương giáo, dần-dần thành thói quen. Nếu không cấm thì lâu thành quá lắm ”.

Vua Cao-tông cho lời Dĩ-Mông là phải, sai Dĩ-Mông triệu-tập tăng-đồ trong xứ ở các nơi cốc-xá, chọn từng mười người có tiếng lưu lại làm tăng, còn dư thì đánh dấu vào tay mà bắt hoàn tục. Chắc rằng lời Dĩ-Mông là quá đáng và sự sa-thải triệt-để tăng-đồ một phần là do nho-gia bài-xích dị-đoan, nhưng đạo Phật không phải vì đó mà suy. Trạng-nguyên Lê Quát dòng-dõi Lê Văn-Thịnh phải phàn-nàn trong bia chùa Thiệu-phúc dựng đời Trần rằng : “ Làng xóm nào cũng có chùa mà không đâu thấy thờ Khổng-thánh ”.


5. Tăng và chính-trị

Lúc nước ta vừa được độc lập, vua đều là những kẻ vũ-biền. Sở-dĩ các vua ấy trọng tăng-đồ một phần chắc vì lý-do chính trị. Tuy không có chứng gì tỏ rằng các vua Ðinh và Lê mộ Phật nhưng dân-gian bấy giờ chắc theo đạo Phật nhiều. Nhiều việc còn chép trong sử chứng tỏ các vua ấy hành-động thường trái với điều dạy phải từ-bi của Phật vì những cực-hình dùng ở đời ấy như : cột đồng đốt nóng, vạc dầu đun sôi, chuồng hổ báo, cũi ngâm sông. Các vua lại nhận thấy rằng các tăng có học rộng hơn mình và hơn các tướng. Tuy bên cạnh vũ-tướng còn có nho-thần nhưng những người này thường hay cố chấp trong những thuyết trung-quân, không thể trung-thành với một ông vua mới đã cướp quyền của chúa mình. Vì những lẽ ấy, các vua Ðinh, Lê đã lợi dụng học-vấn của tăng-đồ để trị dân và đối ngoại. Cũng như đại-đa-số người đương-thời, các vua rất tin rằng tăng và đạo-sĩ có những thuật làm cho họ biết trước được những sự hay dở tương-lai hay là có thể cầu cho họ được phúc và tránh họa.

Vị sư đầu-tiên được tham-gia chính-sự là đại-sư Khuông-Việt giúp Ðinh Tiên-hoàng và Lê Ðại-hành. Sư tên Ngô Chân-Lưu, dòng-dõi vua Ngô. Bé học nho, lớn theo Phật. Ðinh Tiên-hoàng ban cho chức tăng-thống và hiệu Khuông-Việt đại-sư nghĩa là vị sư lớn giúp nước Việt. Sau khi Lê Hoàn lên ngôi, “ phàm sự quân-quốc đều giao cho sư hết ”.  Lúc Lý mới lập cơ-nghiệp, sư Vạn-hạnh đã có ảnh hưởng nhiều. Từ đời Lê, sư có tiếng là một kẻ tiên-tri cho nên Lê Ðại-hành đã từng hỏi ý-kiến trong khi đánh Tống và đánh Chiêm. Về việc chống Tống, sư đoán nội trong ba bảy ngày giặc sẽ tan, còn về việc đánh Chiêm thì sư khuyên nên đánh chóng. Các sách sử ta đều kể chuyện Vạn-hạnh đã đoán được câu sấm mà sâu ăn thành ra trên cây vong-gạo. Sư biết trước rằng nhà Lê sắp mất, nhà Lý sẽ lên, bèn nói với Lý Công-Uẩn chuyện ấy và quả-quyết rằng họ Lý là họ của ông. Biết đâu rằng chuyện sấm ấy lại không phải là mưu của Vạn-hạnh.

Về sau các vua Lý có học hành, tuy vẫn thích Phật nhưng ở một cách cao hơn. Triều-thần đã có nhiều người học uyên-bác cho nên ảnh-hưởng về chính-trị của các sư bị giảm dần. Cuối cùng các tăng chỉ còn giữ những việc giảng kinh hay giáo-hóa. Trong phạm-vi tín-ngưỡng và kỹ-thuật, địa-vị các tăng-già vẫn rất trọng. Vua và thái-hậu thường mời những vị sư có tiếng vào giữ chùa trong thành nội để giảng kinh, các vị Huệ-sinh và Viên-chiếu từng được Lý Thái-tổ mời vào cung. Nhất là trong đời Lý Nhân-tông, vua và thái-hậu Linh-nhân rất mộ Phật, thường sai các sư có danh nhất vào nội để bàn đạo. Những vị như Thông-biện, Mãn-giác, Chân-không, Giác-hải, Khổng-lộ đều được mời và trọng-đãi. Cũng nhờ đó mà ta mới có câu chuyện Thông-biện bàn nguồn gốc đạo Phật còn chép lại cho đến ngày nay.

Các công, vương, tướng cũng thường hay che-chở tăng ni và tôn-trọng họ vào bực thầy. Lương Nhậm-Văn, Lý Thường-Kiệt, Vương Tại, Ðoàn Văn-Liệm, Phụng-càn-vương, công chúa Thiên-cực đều có giao-thiệp mật-thiết với các cao-tăng. Vả chăng nhiều vị thiền-sư là con cháu vua, hoàng-hậu hay các đại-thần. Chắc vì sự liên-quan đến gia-đình, ảnh hưởng của những vị ấy đối với chính-trị cũng không ít. Về mặt kỹ-thuật, tăng-đồ thường có tiếng là có phép thần-thông hoặc biết chữa-bịnh một cách thần-diệu, vì vậy mà nhiều vị đã được vua dùng như Minh-không chữa bệnh cho Thần-tông, Ðạo-tuệ được Anh-tông đón vào cung-cấm chữa cho các cung-phi, Nguyện-học có tiếng cầu mưa và chữa bệnh rất hay cũng đã được Anh-tông mời tới.

Trong đời Thánh-tông và Nhân-tông, vì vua chậm có hoàng-tử cho nên các vị có tiếng biết phép cầu-tự, đầu-thai lại rất được quý-trọng, những chuyện Ðại-điên, Ðạo-hạnh còn được để đến ngày nay. Nói tóm lại, ảnh-hưởng của các nhà sư lúc ban đầu liên quan trực-tiếp với chính-trị , nhưng sau dần-dần ảnh-hưởng chỉ còn tới cá-nhân vua quan. Vì đó mà gây ra những phong-trào từ trên lan xuống dưới, rồi phong-hóa chung cả nước cũng chịu nhiều ảnh-hưởng của hình-thức Phật-giáo hiện-hành.


6. Ðạo Phật và phong-hóa

Từ đời Lý Nhân-tông về sau, các vua thường chết yểu, tự-quân thường trẻ tuổi cho nên các thái-hậu được nhiều quyền. Sự sùng bái Phật dần-dần chuyển sang thành dị-đoan, nó ăn nhịp với đạo-giáo hiện-hành và các tín-ngưỡng cổ-truyền còn sót lại. Những kẻ tầm-thường đua nhau lợi-dụng lòng mê-tín của vương hậu đến nỗi gây ra một phong-trào loạn-tri ở trong cung. Những chuyện huyền-bí như Nguyễn Bông đầu-thai thành Càn-đức, Giác-hoàng muốn đầu-thai nhưng bị Ðạo-hạnh ngăn cản rồi đến chuyện Ðạo-hạnh hóa kiếp ra Lý Thần-tông đã làm người nước ta đời bấy giờ rất tin vào thuyết luân hồi và bí-thuật của các nhà sư. Ai cũng tin rằng nếu tìm được thiền-tăng hay đạo-sĩ dạy cho thì mình có thể biến-đổi được sức mạnh thiên-nhiên, hóa hình, ẩn thân, rút đất phục hổ, cầu mưa, làm nắng. Vì thế một vị thái-sư có danh-vọng như Lê Văn-Thịnh mà phải cách chức và toan bị giết chỉ vì vua Nhân-tông nghi ông đã hóa hổ để vồ mình, một tên dân thường mộng thấy trâu trèo lên ngọn cây muỗm mà đoán rằng mình sắp được làm vua nên nổi loạn.

Ở trong triều thì từ công-hầu, hoạn-đậu cho đến những tăng-già cũng đua nhau hiến vật lạ cho là điềm tốt. Những điềm lành như mây ngũ sắc, rồng vàng hiện thì các chính-sử còn chép rất nhiều. Tuy những sự mê-tín này không ảnh-hưởng trực-tiếp đến chính-trị nhưng nó đủ chứng rằng tâm-thần nhân-dân rối-loạn, thời-giờ của nhà chức-trách bỏ phí vào việc hão-huyền và sự thưởng-phạt của nhà vua thường căn-cứ vào những điều không chính-đáng. Ðến cuối đời Lý, nho-học bành-trướng, những tà-thuyết dần-dần bị phát-giác, những ảo-thuật của kẻ bịp đời bị bộc-lộ. Sử còn chép những chuyện buồn cười như vị sư ở Tây-vực khoe mình biết phục-hổ nhưng đến khi làm thử thì chết khiếp rồi bị hổ vồ. Lại như chuyện tên hầu-cận nói mình có phép làm im sấm nhưng sau khi đọc thần chú, sấm vẫn ầm-ầm làm cho Lý Cao-tông sợ kinh. 

Trên đây là nói riêng về ảnh-hưởng không tốt của sự mê-tín dựa theo đạo Phật. Còn như những tư-tưởng siêu-việt, những giáo-dục từ-bi của đức Phật thì hẳn đã có ảnh-hưởng rất hay đối với phong-tục và văn-hóa nước ta triều Lý. So sánh với hai triều Ðinh, Lê, ta nghiệm thấy đời Lý phong-tục triều-đình thuần-hậu hơn nhiều. Các vua vũ-biền các đời trước đã đem những thói giết-chóc thời loạn ra thi-hành ở thời binh chứng tỏ rằng các vua ấy vẫn còn giữ tập-tính của người rừng-rú. Những việc Ðỗ Thích giết cha con vua Ðinh, Ngọa-triều giết em là Lê Trung-tông đủ tiêu-biểu cho lòng tàn nhẫn, tính phàm-phu và sự tư-lợi điều-khiển hành-vi của kẻ cầm quyền.

Sang đời Lý thì khác hẳn. Tuy rằng trong các việc hành-quân ở Chiêm hay đánh Tống có giết hại nhiều người, tuy rằng khi có loạn trong nước vẫn có tội tử-hình nhưng ta phải nhận rằng chưa có đời nào như ở đời Lý mà vua độ-lượng khoan-hồng đối với dân hay là đối với kẻ địch. Lý Thái-tông tha tội cho Nùng Trí-Cao, Lý Thánh-tông tha chết cho vua Chàm là Chế-củ. Tuy rằng đó là có lợi cho đường chính-trị nhưng nếu không có sẵn từ-tâm thì ắt không nghĩ đến khoan-hồng để làm lợi cho chính-trị của mình. Nhờ sẵn từ-tâm như vậy cho nên các vua Lý đã có những cử chỉ đáng kính tuy vụn-vặt mà còn được ghi lại trong sử-sách. Mùa đông năm Ất-mùi 1055 , trời giá rét , Lý Thánh-tông nói với các quan rằng : “ Ta ở trong cung kín, sưởi lò than, khoác áo lông mà còn rét như thế này. Ta nghĩ đến tù-nhân bị nhốt trong lao-tù chịu trói-buộc khổ-sở mà chưa biết phải trái ra sao. Ăn không đầy bụng, mặc chẳng che thân. Vì gió rét nên có kẻ chết không nơi nương-tựa. Ta thật lấy làm thương ” . Rồi vua sai phát chăn chiếu cho tù và cấp cho một ngày hai bữa cơm. 

Lại có lúc Thánh-tông chỉ con gái mình là công-chúa Ðộng-thiên mà nói với các quan coi việc kiện-tụng rằng : “ Ta yêu con ta như ta là cha mẹ dân yêu dân. Vì dân không hiểu luật-lệ nên mắc tội, ta lấy làm thương. Vậy từ rày về sau không kể tội nặng hay nhẹ, các người phải xử một cách khoan-hồng ” . Lòng thương người như vậy của Thánh-tông không phải là một sự giả-dối của nhà chính-trị mà chính là lòng từ-bi do Phật-giáo gây nên. Chính Lý Thánh-tông là tổ thứ nhất một dòng Thiền-tông ở nước ta là dòng Thảo-đường lập ra tại chùa Khai-quốc ở Thăng-long .

Cho đến Thái-hậu Ỷ-lan tuy có ghen-tuông đã bức-sát thái-hậu Thượng-dương và các cung-nữ nhưng sau đó đã biết hối và tìm cách chuộc tội mình. Bà xuất-thân là gái thôn-quê, biết rõ nỗi gian-lao của nông-dân phải cày sâu cuốc bẫm cho nên đã có lúc khuyên Lý Nhân-tông phạt tội nặng những kẻ trộm và giết trâu. Tháng hai năm Ðinh-dậu 1117 , thái-hậu nói cùng vua : “ Gần đây người kinh-thành và làng-ấp có kẻ trốn đi chuyên nghề trộm trâu. Nông-dân cùng-quẩn, mấy nhà phải cày chung một con trâu. Trước đây ta đã từng mách việc ấy và nhà-nước đã ra lệnh cấm nhưng nay việc giết trâu lại nhiều hơn trước ”. Nhân-tông bèn hạ lệnh phạt rất nặng những người trộm và giết trâu, phạt cả vợ con và hàng-xóm vì tội không tố-giác.

Thái-hậu chậm con hiếm cháu cho nên thương đàn bà con gái vì nghèo phải đem thân thế nợ, không thể lấy chồng. Mùa xuân năm Quý-mùi 1103 , thái-hậu lấy của kho chuộc chúng về và gả cho những kẻ góa vợ. Tuy những hành-động từ-bi của thái-hậu không phải tự-nhiên mà có, tuy vì một phần muốn chuộc tội và cầu phúc cho con nhưng chắc nhờ ảnh-hưởng của Phật thì mới có những hành-động bác-ái ấy. Vả chăng ở triều Lý ít có những cuộc tàn-sát vì mưu tiếm-vị cướp quyền, tuy có hai lần vào đời Thái-tông và Cao-tông nhưng kết-cục không khốc-hại như các triều đại khác. Các đại-thần cũng ít người bị nghi-kị và tàn-sát như ở các đời sau.

Nói tóm lại, sau các đời vua hung-hãn họ Ðinh, Lê, ta thấy xuất-hiện những kẻ cầm quyền có độ-lượng khoan-hồng, những người giúp việc ít tham-lam phản-bạn. Ðời Lý có thể gọi là đời thuần-từ nhất trong sử nước ta, đó chính là nhờ ảnh-hưởng của đạo Phật. Mà thực vậy, mỗi khi ta thấy có nho-gia bài-xích Phật-giáo thì ta biết rằng trong nước sẽ có một cuộc tranh giành quyền-lợi mà giết lẫn nhau. Sau khi Ðàm Dĩ-Mông sa-thải tăng-già thì có Trần Thủ-Ðộ liền sau tàn sát họ Lý. Cuối đời Trần, nho-học lại thịnh, có Trương Hán-Siêu, Lê Quát chỉ-trích đạo Phật thì sau lại có Hồ Quí-Ly sát-hại họ Trần. Trần Thủ-Ðộ và Hồ Quí-Ly làm những việc kia ấy cũng là vì muốn thi-hành chính-trị vị-danh xa hẳn lòng bác-ái từ-bi của Phật.

Trong khi Dĩ-Mông phỉ-nhục tăng-đồ thì lại có một vị tăng dám can Lý Cao-tông đừng hát-xướng chơi-bời, xa-hoa quá độ. Lời can ấy lại viện sách nhà Nho ! Sư là tăng-phó Nguyễn Thường, lời sư nói với Cao-tông rằng : “ Tôi nghe ở tựa kinh Thi có nói : âm-nhạc làm loạn nước thì nghe như oán, như giận. Nay dân thì loạn, nước thì khốn, chúa-thượng rong chơi vô-độ, triều-chính rối loạn, dân-tâm lìa-tan, đó là triệu-chứng nước mất đó ”. Lời can ấy cũng đủ tỏ giá-trị của người đi tu và ảnh-hưởng của họ đối với chính-trị, với phong-hóa. Lời can ấy lại là một lời đoán vận-mệnh nhà Lý rất hay, chỉ cần lý-luận mà tìm ra chứ chẳng phải mượn kì-thuật gì cả.


7. Ðạo Phật và văn-hóa

Lời sư Nguyễn Thường can vua lại chứng-tỏ một sự mà ta đã biết rồi, đó là ở đời Lý phần lớn các tăng học nho rất rộng, vậy nên tăng-đồ có ảnh hưởng lớn đến văn-hóa đương-thời. 

Nói tóm lại suốt trong triều đại Lý, đạo Phật được vua coi trọng, tăng-già nhiều kẻ giỏi-giang cho nên ảnh-hưởng Phật-giáo ăn sâu vào tất-cả các ngành hoạt-động của người trong nước về phương-diện tinh-thần cũng như vật-chất.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét