Trang

Thứ Ba, 30 tháng 10, 2018




bài viết này là 1 sự đánh giá khác về vua Lê Chiêu Thống, 1 nhân vật bị xem là " xấu " trong lịch sử, là " nhân vật phụ " bên cạnh các nhân vật chính cùng thời là nhà Trịnh, là Quang Trung Nguyễn Huệ, hơi xa một tí là Nguyễn Ánh Gia Long. Bỏ qua những lời bào chữa về việc các sử liệu chính thức lên án vua Chiêu Thống khi không có chứng cứ rõ ràng ( kiểu như những hành vi trả thù ) thì lời bào chữa của tác giả cũng không được thuyết phục lắm khi cho rằng hầu hết các sử liệu cùng thời toàn nói xấu vua trong khi tác giả chỉ có thể đưa ra 1 hoặc 2 sử liệu có tính bênh vực vua cùng vài người thân cận ....... phủ nhận những sử liệu được coi là chính thức trong khi sử dụng những sử liệu mà cá nhân cho là đáng tin thì làm sao thuyết phục được đây  ??  

nếu lên án hành vi vua Chiêu Thống mượn quân Tàu để cứu ngôi vua thì hành vi của Nguyễn Ánh Gia Long mượn quân Xiêm Thái Lan cũng chẳng khác gì nhau, cái khác cơ bản và cốt yếu nhất là Nguyễn Ánh đã thành công trong việc thống nhất đất nước, còn vua Chiêu Thống thì không. Do đó " được làm vua, thua làm giặc " , mượn quân nước ngoài mà thành công thì không sao, còn nếu không thành công thì sẽ bị cho là bán nước, là kết án muôn đời. Âu đó cũng là lẽ thường tình trong lịch sử chính trị vậy.

dù sao cũng khá khen cho tác giả khi đã cố công bào chữa cho 1 " nhân vật phụ " bị lịch sử của các triều đại miệt thị cùng 1 lối viết khá thu hút và hấp dẫn, câu cú rõ ràng. Cho dù viết 1 câu Tiếng Việt đơn giản hay là viết văn, viết sử, thì cái cơ bản nhất phải là viết để cho người khác hiểu mình đang nói gì. Ngay như công việc dịch thuật, dịch từ tiếng nước ngoài ra Tiếng Việt cũng phải trình bày câu chữ sao cho rõ ràng dễ hiểu, chứ có nhiều tác phẩm hoặc bộ phim dịch ra đọc một hồi rồi chẳng hiểu cái câu đó nó nói cái gì nữa.



Lê Chiêu Thống đáng thương hay đáng trách ?

LÊ DUY KỲ ( 1766 - 1793 ) 

( Nguyễn Duy Chính : lược trích )

LỜI NÓI ÐẦU 

Nói Lê Duy Kỳ có thể ít người biết nhưng nếu nói vua Chiêu Thống thì phần lớn chúng ta đều hình dung ra một ông vua nhiều tội lỗi, đáng nguyền rủa. Vua Chiêu Thống [ dưới triều Nguyễn được đặt tên thụy là Mẫn Ðế nghĩa là ông vua đáng thương ] là vị vua cuối cùng của triều Lê, trị vì chỉ một thời gian rất ngắn. Người lãnh đạo sau cùng của triều đại thường được ghi nhận một cách thiếu thiện cảm – kẻ thất bại bao giờ cũng có lỗi và đáng trách nhiều hơn đáng khen – từ Bảo Ðại nhà Nguyễn, Phổ Nghi nhà Thanh, hay Sùng Trinh nhà Minh. Tuy nhiên không phải lịch sử mãi mãi đều lập lại một quan điểm, trong nhiều giai đoạn nhiều nhân vật đã được đánh giá lại cho chính xác.

Cuối thế kỷ XVIII nước ta đầy biến động, cuộc nổi dậy của anh em Tây Sơn không những chấm dứt vương quyền chúa Nguyễn ở Nam Hà mà còn diệt luôn chúa Trịnh ở miền Bắc đưa đến sự sụp đổ nhà Lê, triều đình chính thống của Việt Nam trong gần 400 năm. Tuy nhiên Tây Sơn cũng không giữ nước được lâu và chỉ chưa đầy 20 năm thì chính họ cũng bị tiêu diệt. Sự thay đổi nhiều thế lực, nhiều vương quyền quá nhanh trong một thời gian ngắn khiến cho sử sách viết về thời kỳ này bao gồm đủ loại khuynh hướng, nếu chỉ nhìn một phía chắc chắn chúng ta sẽ vừa thiếu sót vừa thiên vị. Một triều đại qua đi, những người hoài vọng thường có khuynh hướng đề cao người đi trước và trút trách nhiệm cho người không may mắn phải ở vào vị trí sau cùng.



Trong vài chục năm qua, không ít những tác phẩm miêu tả một thời kỳ cũ bằng lăng kính chính trị mới. Khi cần đề cao tinh thần chống xâm lăng – dù là từ phương Bắc hay phương Tây – người ta thích huyền thoại hoá nhân vật Nguyễn Huệ, và lẽ dĩ nhiên để làm nổi bật một cá nhân ở phía này thì cũng phải hạ thấp một đối tượng ở phía khác, chính vì thế Nguyễn Ánh cũng như Lê Duy Kỳ đều bị miêu tả dưới những tội danh “ bán nước ” . Những bản án nặng nề đó chưa hẳn đã vì tội trạng của đương sự mà chỉ để làm sáng tỏ chính nghĩa trong công tác động viên quần chúng đánh đuổi ngoại xâm.

Bên cạnh đó chúng ta cũng không thể bỏ qua chủ tâm nguyên thuỷ của chính triều Nguyễn đã cố ý viết sai lạc về đối phương. Giai đoạn cuối triều Lê và suốt thời kỳ Tây Sơn được viết nhằm trám vào một khoảng trống của lịch sử chứ chưa hẳn đã là trình bày sự thật khách quan về những gì đã xảy ra tại miền bắc. Ðể bảo vệ và đề cao vai trò của mình, triều Nguyễn không chỉ bôi đen anh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ mà còn nỗ lực xoá nốt tính chính thống của vua Lê. Với nhà Tây Sơn, vua Gia Long đuổi tận giết tuyệt nhưng lòng người không oán thán nhiều vì anh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ lên ngôi chưa lâu, ơn đức chưa đủ thấm vào quần chúng. Trái lại nhà Lê mấy trăm năm qua tuy không có thực quyền, ngôi vua chỉ là hư vị nhưng vì công lao của nhiều đời nên tuy đã diệt vong mà tâm tình “ hoài Lê ” vẫn còn âm ỷ và day dứt, một mạch nước ngầm chảy trong huyết quản của người dân Bắc Hà. Tới hậu bán thế kỷ XIX, khôi phục Lê triều vẫn còn được sử dụng như một chiêu bài trong những cuộc nổi dậy.

Vào những năm cuối của triều đại Tây Sơn, không hiếm cựu thần nhà Lê vẫn tưởng Nguyễn Ánh đang đóng vai “ phục quốc ” , thành công rồi sẽ lại tôn Lê như bao nhiêu đời chúa trước. Trên giấy tờ Nguyễn Ánh vẫn dùng niên hiệu Cảnh Hưng, chúa Nguyễn cũng đã cho người liên lạc với con cháu và cựu thần tiền triều [ kể cả việc sai người sang Trung Hoa tìm Lê Chiêu Thống ] để ước hẹn khởi binh và một nhà nho đã “ bịa ra lời của Nguyễn công [ tức chúa Nguyễn ] làm bài hịch Dụ Bắc thành trung nghĩa hào kiệt gửi cho người quen mọi nơi, tỏ ý đang đem quân ra Bắc diệt giặc phù Lê và bảo những người trung nghĩa với Lê cất quân đánh giặc ”. Chính vì thế tuy Nguyễn Huệ xử với cựu triều không đến nỗi nghiệt ngã [ ngoại trừ những người nổi lên chống lại triều đình ] , sĩ phu Bắc Hà vẫn coi ông như một “ ông Ác ” , ngược lại chúa Nguyễn được miêu tả như một “ ông Thiện ”. Câu hát “ lạy trời cho cả gió nồm, cho thuyền chúa Nguyễn giong buồm thẳng ra ” là một thí dụ điển hình về cuộc chiến tranh tâm lý cuối thời Tây Sơn.

Ðến khi sắp sửa thành công, Nguyễn Ánh không còn phải tiếp tục tôn phò nên dứt khoát dùng niên hiệu Gia Long, xác định là một vị hoàng đế mới. Triều đình chính thức và hợp pháp của An Nam lúc đó là nhà Tây Sơn không còn được Trung Hoa yểm trợ – vì quan điểm đối với An Nam của vua Nhân Tông [ Gia Khánh ] khác hẳn vua cha Cao Tông [ Càn Long ] – nên chúa Nguyễn không phải chuẩn bị một cuộc chiến đối đầu với Trung Hoa như Nguyễn Quang Bình [ Nguyễn Huệ ] đã làm mà còn được nhà Thanh ám trợ đẩy anh em Nguyễn Quang Toản vào tuyệt lộ. Nhằm thực hiện việc một ná bắn hai chim, triều Nguyễn dùng ngay hào quang chống xâm lăng của Tây Sơn [ nay đã bị diệt ] để truất đi cái mệnh trời của Lê triều đã kéo dài gần 400 năm. Không thể tru di tông thất nhà Lê giống như nhà Trần với nhà Lý, nhà Hồ với nhà Trần, tân triều nhấn mạnh vào sự bạc nhược vô dụng [ và phản quốc ] của ông vua đã thất thế. Song song với việc tiễu trừ dư đảng Tây Sơn, những cuộc truy quét qui mô để xoá bỏ những giấy tờ, tài liệu, ấn tín ..... liên quan đến cựu triều cũng được nhà Nguyễn tiến hành qua nhiều đợt khác nhau. 

Cảm thấy sự thờ ơ của triều đình đối với miền Bắc – mà người ngoại quốc cũng nhận ra rằng nhà Nguyễn coi như một thuộc địa – và e rằng nhiều sự thật rồi đây sẽ mai một không bao giờ được biết tới, một số sĩ phu Bắc Hà tự làm công việc sưu tầm, ghi chép những gì đã xảy ra vài chục năm trước, trong đó có 2 tác phẩm với nhiều tài liệu giá trị còn tồn tại được đến ngày nay là Lịch Triều Tạp Kỷ ( Ngô Cao Lãng ) và Quốc Sử Di Biên ( Phan Thúc Trực ). Tuy nhiên, những tác phẩm đó cũng chỉ được giới nghiên cứu coi như tài liệu bổ di, không được dùng để thay thế các bộ sử do sử quán triều đình biên soạn. Ðể trả lại công bằng, thiết tưởng chúng ta cũng cần phải cải chính một số chi tiết và đánh giá lại một số nhân vật mà tiểu sử, hành vi vốn đã trở thành kinh điển vì rập theo 2 bộ sử cơ bản do triều đình [ thời Nguyễn ] soạn ra là Ðại Nam Chính Biên Liệt Truyện và Khâm Ðịnh Việt Sử Thông Giám Cương Mục [ chi tiết trong 2 bộ sử này khi được soạn thảo vào hậu bán thế kỷ XIX có lẽ cũng chỉ rút ra từ một số ký sự lưu truyền thời bấy giờ như Hoàng Lê Nhất Thống Chí ( Ngô Gia Văn Phái ), Lê Quí Kỷ Sự ( Nguyễn Thu ), Lê Quý Dật Sử ( khuyết danh ) ..... ]

Tại sao cần đánh giá lại vua Chiêu Thống ?

Tháng 12 năm 1924 , trên tạp chí Nam Phong số 90 phần Hán Văn có khởi đầu một biên khảo đăng 5 kỳ nhan đề Tang Thương Lệ Sử do Hàm Giang Ðinh Lệnh Uy biên soạn, Sở Cuồng Lê Dư viết tựa. Ðây là một tập tài liệu khá đầy đủ viết về cuộc đời và thân phận lưu vong của vua Chiêu Thống mặc dầu chủ yếu vẫn dựa theo tài liệu triều Nguyễn và Hoàng Lê Nhất Thống Chí. Hai mươi năm sau, một tác phẩm khác bằng quốc ngữ nhan đề Bánh Xe Khứ Quốc do Phan Trần Chúc soạn, được nhà xuất bản Ðời Mới ấn hành ở Hà Nội. Tuy chưa phải là những tài liệu biên khảo qui mô, 2 tác phẩm này cũng nói lên phần nào cảnh ngộ bi phẫn của 1 ông vua vong quốc mà hoàn cảnh trớ trêu đã trở thành miệng tiếng của người sau.

Lê Duy Kỳ sinh ra và lớn lên phải chịu những lưỡi gươm treo lơ lửng trên đầu trong nhiều năm. Ông không phải là một hoàng tôn sống trong nhung lụa mà là một trẻ mồ côi đầy bất hạnh, sống chết trong tay người, có thể táng mạng vì một lý do thật nhỏ nhặt. Ông chìm vào quên lãng và chỉ được lôi ra từ nhà ngục vì một duyên may khi kẻ thù của gia đình ông [ họ Trịnh ] đang tan rã nên các phe phái tranh giành cần một biểu tượng cho hoàng gia, thành thử khi nắm quyền nếu quả ông có một chút khắc bạc hơn bình thường thì cũng không phải là 1 điều đáng ngạc nhiên. Ðó là lý do sâu xa khi ông ra lệnh đốt và phá huỷ một số cung điện của chúa Trịnh mà Hoa Bằng cho rằng “ nhỏ nhen hẹp hòi ” hay mối căm tức ngấm ngầm khi thấy anh em Tây Sơn cũng lại đi vào con đường lấn lướt của một thứ chúa mới.

Trong suốt cuộc đời 28 năm, Lê Duy Kỳ hầu như chỉ được làm vua trên danh nghĩa, luôn luôn bị những thế lực khác cầm quyền thay. Mà thời gian ông còn được gọi là vua ấy cũng rất ngắn bao gồm ba giai đoạn :

Giai đoạn I : ( 21 tuổi ) Từ khi lên ngôi tháng Bảy năm Bính Ngọ ( 1786 ) đến lúc xuất bôn tháng Chạp năm Ðinh Mùi ( 1787 ) , tính ra khoảng 16 tháng trong một thời kỳ rối mù, loạn lạc khắp nơi.

Giai đoạn II : ( 22 tuổi ) Từ tháng Chạp năm Ðinh Mùi ( 1787 ) đến tháng Một năm Mậu Thân ( 1788 ), trong khoảng một năm ông bôn ba chạy từ nơi này sang nơi khác qua lại không dưới mười chỗ ở khác nhau, nhiều lần thoát chết trong đường tơ kẽ tóc. Tuy danh nghĩa là vua nhưng nhiều kẻ lại coi ông là một món hàng để lợi dụng cũng như để buôn bán.

Giai đoạn III : ( 23 tuổi ) Từ cuối tháng Một năm Mậu Thân ( 1788 ) đến đầu tháng Giêng năm Kỷ Dậu ( 1789 ) , khoảng chừng 1 tháng trong vai bù nhìn dưới quyền bảo hộ của quân Thanh.

Khi Tôn Sĩ Nghị bại trận, ông chạy theo sang Trung Hoa, chấm dứt sự nghiệp làm vua để sống nhờ nơi đất khách từ tháng Giêng năm Kỷ Dậu ( 1789 ) đến tháng Mười năm Quí Sửu ( 1793 ) khi ông qua đời ( 23 - 27 tuổi ) . Những năm làm vua đã khốn khổ, đến lúc xuất bôn – dù ở trong nước hay ở ngoài nước – thì cũng chỉ toàn những cảnh ngộ éo le, đầy nước mắt.

Ðánh giá kỹ, cuộc đời ông chỉ được hơn hai năm gọi là yên ổn – từ tháng Giêng năm Cảnh Hưng 44 ( Quí Mão, 1783 ) khi được thả ra khỏi ngục sống bên cạnh ông nội là vua Hiển Tông trong vai hoàng thái tôn để chuẩn bị nối ngôi thay người cha bất hạnh là thái tử Duy Vĩ. Dù ngôi vua của nhà Lê chỉ là hư vị và luôn luôn bị đe dọa bởi phủ Chúa, ông sống tương đối yên lành đến khi quân Tây Sơn ra Bắc diệt họ Trịnh năm Bính Ngọ ( 1786 ) , tất cả chừng 2 năm rưỡi. Có lẽ đây là thời gian duy nhất ông được học hành, dạy bảo lễ nghi để chuẩn bị đóng giữ vai quốc trưởng. Số thơ văn ít ỏi ông để lại và hành trạng làm vua cho thấy tư chất ông không đến nỗi tầm thường.

Cũng trong thời gian này, ông lập gia thất với bà Nguyễn Thị Kim, hơn ông một tuổi, dường như là cháu họ của mẹ ông, người vẫn bị sử sách gọi là thái hậu với nhiều ác ý. Hai người vừa có được con trai đầu lòng [ đặt tên Lê Duy Thuyên ] thì một lần nữa kinh đô bị xâm phạm nên tan tác chồng một nơi, vợ một nẻo.

Những đề cập về Lê Duy Kỳ trong sách vở đều cho rằng ông hèn yếu, kém khả năng, tưởng như khi làm vua ông vẫn được hành động hoàn toàn tự do theo chủ kiến và ý thích riêng của mình. Thực tế cho thấy mỗi quyết định, mỗi biến chuyển đều có những nguyên nhân rất sâu xa không dễ dàng phát hiện. Cuộc đời vua Chiêu Thống – cũng như chiếc ngai vàng của nhà Lê những năm sau cùng – chỉ là một chiếc lá giữa dòng mặc cho nước cuốn tới đâu thì cuốn không thể nào cưỡng lại được.

Ðể nhận định về vua Chiêu Thống cho được công bằng, chúng ta cần nhìn lại con người trong thời buổi mà ông sống, không thể chỉ dựa vào yêu ghét qua “ tin đồn ” . Ông chỉ là một con chim trong lồng, một bóng mờ chính trị, một con người bị rơi vào đám đông xô đẩy, mọi vấn đề đều do những sắp xếp ngoài tầm tay. Ngay cả những chi tiết mà người tôn phù nhà Lê thuật lại lắm khi cũng chỉ là “ ảo giác chính trị ” khi thất thế .



PHẦN I

ÐÀNG NGOÀI CUỐI THẾ KỶ XVIII

Từ khi nước ta chia ra thành hai phần – Ðàng Ngoài và Ðàng Trong – tuy trên danh nghĩa cùng thần phục nhà Lê nhưng miền bắc thì chúa Trịnh nắm giữ quyền hành, còn miền nam chúa Nguyễn làm chủ. Vì vị trí khuất nẻo nên miền bắc khó thông thương với bên ngoài, thuyền buôn ngoại quốc phần lớn chỉ ghé các bến đỗ ở Ðàng Trong tuy các nhà truyền giáo vẫn tiếp tục ra vào Ðàng Ngoài để thi hành các sứ mạng của họ. Hoàn cảnh địa lý đã ảnh hưởng rất lớn đến tình hình nước ta và nhiều biến cố trọng đại ít nhiều bị ảnh hưởng.

Việc thiếu thông thương đó đưa đến hậu quả là tin tức về miền bắc cũng trở nên hiếm hoi hơn, ít được người ngoại quốc đề cập đến so với Ðàng Trong. Từ thế kỷ XVI đến thế kỷ XVIII, các cuộc nội chiến giữa Lê – Trịnh và Mạc, hay Trịnh và Nguyễn xảy ra liên tục nên các thương gia cũng không mấy ai muốn mạo hiểm vào để buôn bán. Người Anh và Hoà Lan thiết lập cơ xưởng sản xuất cũng chỉ tồn tại được một thời gian rồi phải đóng cửa. Chính sách về ngoại thương là độc quyền của triều đình, mua hay bán sản phẩm đều bị kiểm soát nghiêm nhặt. Người Hoà Lan từ Macao sang miền bắc chỉ đặc biệt chú trọng đến tơ lụa cốt để đem sang Nhật Bản bán lấy lời và thương vụ chủ yếu của người Nhật đến Ðông Nam Á cũng chỉ là tơ lụa chưa chế biến.

Tuy ít được người nước ngoài biết đến, Thăng Long – thường được gọi dưới tên Ðông Kinh hay Kẻ Chợ – ở thế kỷ XVII là một thị trấn lớn so với những thành phố khác ở Á Châu. Nhiều giáo sĩ đến nước ta thời đó cho biết kinh đô Thăng Long có đến hơn 20,000 nóc gia, tính ra dân số khoảng 100,000 người. Con số này có lẽ được phóng đại vì nhu cầu truyền giáo hơn là thực tế. Theo Baron trong A Description of the Kingdom of Tonqueenviết cuối thế kỷ XVII thì cung điện vua Lê có tường gạch bao quanh còn dinh chúa Trịnh thì làm bằng gỗ. Về sau ngôi vua của nhà Lê chỉ còn là hư vị cho nên cung điện hư nát nhiều mà không có tiền tu sửa. Sau những năm chiến tranh, đến cuối thế kỷ XVIII thì Thăng Long gần như hoang phế, mùa màng thất bát, đói kém xảy ra khắp nơi, không còn là nơi đô hội như trước nữa. Năm Mậu Tuất ( 1778 ) thóc lúa dân tích trữ không còn gì, giá gạo cao vọt, chỗ nào cũng có người chết đói.

Khi quân tam phủ nổi loạn, nhiều dinh thự đền đài bị đốt phá cho nên kinh thành lại càng xơ xác. Nguyễn Huệ cũng ra lệnh phá hủy nhiều công trình kiến trúc để lấy vật liệu về xây kinh đô mới ở Nghệ An. Khi quân Tây Sơn rút ra khỏi kinh thành, các thổ hào từ mạn ngược vào chiếm Thăng Long cũng đốt phá sạch trước khi bỏ đi.


1.1. GIA VONG

1.1.1. SỰ LỘNG QUYỀN CỦA HỌ TRỊNH

Năm Giáp Thìn ( 1664 ) , Tây Vương Trịnh Tạc yêu cầu vua Lê Huyền Tông ( mới có 10 tuổi ) ban cho mình điển lễ đặc biệt “ vào chầu vua không phải lạy, tờ chương tấu không phải xưng tên, khi lâm triều ngồi bên tả chỗ ngồi của vua ” mà sử thần đã phê là đến như “ Ðổng Trác, Tào Tháo nhà Hán, Lưu Dụ nhà Tấn chưa từng làm mà Tạc dám làm ”. Năm Mậu Thân ( 1668 ) , Trịnh Tạc lại nhân chiến công đánh họ Mạc, tự gia phong là Ðại Nguyên Soái Thượng Sư Thái Phụ Tây Vương, dân gian vì thế gọi các chúa là Thượng Sư [ kể cả chúa Nguyễn ở Nam Hà cũng bắt chước ] nên người ngoại quốc thường nhắc đến dưới cái tên “ Ong Chiang Su ” [ Ông Thượng Sư ].

Vua Lê được hưởng thực ấp một nghìn xã, còn chúa Trịnh chủ động mọi việc hành chánh quân sự, kể cả phế vua nọ lập vua kia để dễ bề thao túng. Trịnh Tạc lại phong cho con là Trịnh Căn làm nguyên soái, văn thư phủ chúa ban ra tiếm xưng “ lệnh dụ ”. Ðến đời các chúa Trịnh Cương ( Nhân Vương ) , Trịnh Giang ( Thuận Vương ) lại càng quá quắt. Trịnh Giang là người “ ngu tối, ươn hèn ”, tự phong làm Nguyên Soái, Thống Quốc Chính, Uy Nam Vương, vu cho vua Vĩnh Khánh ( Lê Duy Phường ) tội thông gian với vợ Trịnh Cương để phế đi, lập Lê Duy Tường lên ngôi, niên hiệu Long Ðức.

Năm Kỷ Mùi ( 1739 ), Trịnh Giang giả thác là sứ thần nhà Thanh phong cho làm An Nam Thượng Vương, có ý muốn cướp ngôi nhà Lê. Năm sau, Trịnh Doanh ( Ân Vương ) lên ngôi vương, tôn Trịnh Giang làm Thái Thượng Vương. Từ đó trở về sau vua Lê hầu như không còn quyền hành gì nữa. Ðể che đậy cảm xúc, vua Hiển Tông phải tiêu khiển hưởng nhàn nên ông làm vua rất bền ( 47 năm ) qua mấy đời chúa Trịnh. Lê Hiển Tông chính là ông nội của Lê Duy Kỳ, người sau này lên ngôi với niên hiệu Chiêu Thống. Phạm Ðình Hổ thuật lại trong Vũ Trung Tùy Bút như sau : 

Bùi công Huy Bích 裴輝璧 có nói rằng : Họ Trịnh từ đời Nhân-vương ( Trịnh Cương ) trở về trước còn giữ thần lễ [ lễ bầy tôi với vua ]. Các quan liêu-thuộc trong phủ chúa Trịnh mới đặt có Hộ-phiên, Binh-phiên, Thủy-sư-phiên và Lịnh-sử-phiên mà thôi, trong triều vua Lê lục-bộ còn chưa đến nỗi thất-chức. Trăm quan vào tâu việc đối với chúa Trịnh thì xưng mình là “ ngu ”. Chúa Trịnh có ra phủ-đường coi chính sự thì bách quan đội mũ bình-đính, mặc áo thanh-cát vào tham bái đứng hầu. Quan đại-thần ở phủ bộ vào bái-yết xong thì lên chỗ ngồi, đó là theo cái lễ vào tham-yết ở chốn tướng phủ. Khi nào nhà chúa khai-các ra tiếp-kiến tân-khách thì bách quan đội khăn lương, khăn yến-vĩ, mặc áo thanh-cát, vào bái yết xong rồi thì cứ theo thứ tự mà ngồi, khoản tiếp phù-trà tử tế, đó là theo cái lễ tướng phủ ra tiếp khách.

Khi ấy nhà chúa có vào chầu vua Lê, theo lệ tuy đã miễn-bái nhưng chúa Trịnh nào mới được thụ sắc-phong ra thân chính thì cũng phải thân-hành vào triều-bái vua Lê. Ðời vua Lê Hi-tôn lên thượng-thọ tám mươi, chúa Trịnh Nhân-vương cũng mặc áo triều-phục vào đứng ở bên hữu long-trì, thân ra dóng-dả trăm quan vào lạy mừng. Vua Lê sai giải chiếu thất-trùng ở nơi bái-vị của chúa Trịnh để tiêu-biểu ra cho khác. Ðến khi Trịnh Thuận-vương [ Trịnh Giang ] nối ngôi thì mới đặt ra Lại, Hộ, Lễ, Binh, Hình, Công sáu phiên, cướp mất cả quyền quan Lục-bộ, lấy chức chưởng-thự tham-bồi làm quan chính-phủ đại-thần, từ bấy giờ chốn triều-đường vua Lê chỉ là hư-thiết mà thôi. Các quan vào tâu chúa Trịnh thì đổi chữ “ ngu ” xưng là “ thần ”. Chúa Trịnh ra thân-chính ở phủ-đường gọi là “ thị triều 視朝 ” , khi nào ra tiếp khách ở ngoài các thì gọi là “ khách triều 客朝 ”. Quan đại thần ở chốn phủ-bộ phải đợi chỉ nhà chúa cho ngồi mới được ngồi, gọi là “ tọa đường 坐堂 ” . Còn cái lễ nhà chúa vào triều-bái trong nội điện vua Lê thì bỏ đi không hỏi đến nữa.

Nhà chúa có truyền chỉ ra thì trước kia vẫn gọi là lịnh-chỉ, sau này quyền-chính đều về nhà chúa, đệ-niên cứ đầu xuân ngày khai tỉ-ấn thời yết tờ lịnh-chỉ mới ra ngoài phủ-đường hoặc ngoài cửa các. Các quan võ-giai xuất thân và chức câu-kê trong sáu cung đều phải có lịnh-chỉ ban cho cả, còn các việc khác mà do nhà chúa truyền ra thì xưng là chỉ-truyền hay là chỉ-dụ, hoặc xưng là ngự là thánh cũng không khác gì như trong nội-điện vua Lê vậy.


1. 1. 2. THÁI TỬ BỊ HẠI

Khâm Ðịnh Việt Sử chép :

Tháng 3 ( năm Kỷ Sửu, 1769 ) , Sâm ( chúa Tĩnh Ðô Vương Trịnh Sâm ) truất ngôi hoàng thái tử Duy Vĩ rồi bắt giam vào ngục. Thái tử lúc còn nhỏ thông minh, nhanh nhẹn, xem rộng sách Kinh, sách Sử, đối với sĩ phu rất có lễ độ ; thần dân không ai là không mến yêu thái độ, dung nghi. Trịnh Doanh rất trọng tài của thái tử nên đem con gái trưởng là Tiên Dung quận chúa gả cho. Thái tử vẫn bực tức về nỗi nhà Lê mất quyền bính, khảng khái có chí thu nắm lấy quyền cương. Trịnh Sâm lúc lớn lên làm thế tử, đối với thái tử hắn vẫn ghen ghét về địa vị, tài năng. Một hôm, thái tử và Sâm cùng ở phủ đường được chúa Trịnh ban cho ăn cơm và bảo cùng ngồi một mâm, lúc ấy vợ Trịnh Doanh ngăn đi và nói : “ Thế tử và thái tử có danh phận vua tôi, lẽ nào được ngồi cùng mâm ? Nên phân biệt ngồi làm hai chiếu ”. Sâm đổi nét mặt, bước ra về nói với người ngoài rằng : “ Ta với Duy Vĩ hai người phải một chết một sống, quyết không song song cùng đứng với nhau được ”. Kịp khi Sâm nối ngôi, bàn vụng với hoạn quan Hoàng Ngũ Phúc và Phạm Huy Ðĩnh định mưu truất thái tử nhưng không có lẽ gì buộc tội bèn vu cho thái tử tư thông với người phủ thiếp của Trịnh Doanh rồi đem tội trạng ấy tâu bày với nhà vua bắt thái tử giam vào ngục.

Trước đấy trong giếng Tam Sơn ở sau cung điện bỗng nhiên có tiếng như sấm, thái tử e rằng tất xảy ra tai nạn cho nên nói để nhà vua biết, nhà vua cầu đảo cho thái tử được thoát nạn. Ðến nay thái tử biết tin tai nạn phát sinh nên vào ở tẩm điện của nhà vua. Huy Ðĩnh trước hết vào tìm khắp trong đông cung nhưng không thấy bèn vào thẳng điện đình kể tội trạng thái tử và nói với nhà vua rằng : “ Tôi nghe biết thái tử ẩn nấp trong tẩm điện của bệ hạ, xin bắt giao cho tôi ”. Nhà vua ôm mãi lấy thái tử không nỡ ly biệt, Huy Ðĩnh cứ quỳ mãi ở dưới sân. Thái tử tự nghĩ không thể nào thoát nạn được, vừa khóc vừa lạy trước mặt nhà vua rồi rảo chân bước ra chịu trói. Khi đưa về phủ chúa Trịnh, Huy Ðĩnh bắt thái tử trút mũ ra để nhận tội, thái tử không chịu, nói : “ Bỏ vua này lập vua khác, bạo nghịch giết vua là việc làm đã quen của nhà bay chứ ta có tội gì đâu ? Việc này đã có sử xanh chép để ngàn đời ! ” , Trịnh Sâm giả thác mệnh lệnh của nhà vua, truất thái tử làm thứ nhân rồi giam vào ngục.

Thái tử Lê Duy Vĩ là con trưởng vua Hiển Tông, có ba người con trai. Người lớn nhất là Lê Duy Kỳ ( sau lên ngôi lấy niên hiệu Chiêu Thống ) , người kế tiếp là Lê Duy Lứu [ hay Trứu ] ( Ðiền Quận Công ) , sau nữa là Lê Duy Chỉ ( Lạn Quận Công ) . Khi Duy Vĩ bị tội oan, các con đều còn nhỏ. Theo Hoàng Lê Nhất Thống Chí thì vợ thái tử đem con chạy trốn nhưng bị chúa Trịnh bắt lại đem giam vào ngục. Vụ án không ngừng lại ở việc truất ngôi thái tử của Lê Duy Vĩ , Khâm Ðịnh Việt Sử quyển XLIII , chép : ..... Tháng 12 ( năm Canh Dần 1770 ) , Sâm giết thái tử cũ là Duy Vĩ và điện tiền hiệu điểm Nguyễn Lệ.

Sau khi thái tử đã bị giam, Sâm muốn giết đi nhưng chưa tìm được chỗ sơ hở. Ðến lúc này Hoàng Ngũ Phúc và Phạm Huy Ðĩnh nhờ người khác tố cáo vu ra rằng “ bọn Trần Trọng Lâm và Nguyễn Hữu Kỳ cùng với bọn gia khách của thái tử là cống sĩ Vũ Bá Xưởng và tự thừa Lương Giản định mưu dấy quân để cướp lấy thái tử ra khỏi ngục ”. Rồi Huy Ðĩnh đem việc ấy nói cho Sâm biết. Sâm hạ lệnh bắt đem trị tội. Lương Giản trốn, Bá Xưởng bị bắt và tra tấn nghiêm ngặt, lời cung của Bá Xưởng liên can cả đến Nguyễn Lệ. Lệ nói : “ Thái tử là người sẽ nối ngôi vua sau này của một nước, nay không có tội gì mà bị giam cầm nhục nhã thì định mưu cướp lấy thái tử đem ra là một việc nghĩa, nhưng thực tình tôi không được dự biết việc ấy. Nay nếu bức bách về sự khảo đả mà thú phục xằng thì không phải là người có dũng khí, việc không mà nói có thì không phải là người có nghĩa. Vả lại việc này bảo Lệ tự định mưu hoạ chăng còn có lý, chứ thái tử ở trong nhà giam đến vợ con cũng không được ra vào thì Lệ này từ đâu để yết kiến thái tử mà cùng nhau mưu tính được ? Bây giờ chỉ có việc chết mà thôi chứ Lệ này chả biết nói gì cả ! ” , Nguyễn Lệ bị khảo đả, nát hết da thịt mà vẫn không thay đổi lời khai. Huy Ðĩnh tự dựng thành bản án dâng lên. Sâm sai Huy Ðĩnh thắt cổ giết thái tử, lại giết cả bọn Nguyễn Lệ và Bá Xưởng. Sau hạ lệnh thu lấy sắc mệnh của Trần thị là hoàng hậu đã mất và là mẹ đẻ của thái tử ; các con thái tử là Khiêm, Trù và Chi đều bắt đem giam cấm ở ngục Ðề Lãnh.

Ba đứa trẻ và mẹ bị giam trong ngục tới năm Nhâm Dần ( 1782 ) , khi quân Tam Phủ đứng lên truất phế Trịnh Cán để lập Trịnh Khải, đầu năm Quý Mão ( 1783 ) mới được thả ra. Theo tuổi lúc bị giam thì Lê Duy Kỳ mới lên 5, hai người em chắc phải nhỏ hơn. Khi ra khỏi nhà lao ông đã 16 tuổi, tính ra mẹ con ông bị cầm tù 11 năm. Tuy nhiên theo lẽ thường thì ngay từ khi cha bị bắt, cuộc đời của những đứa trẻ này đã đi vào ngõ cụt và chắc chắn cũng không vui sướng gì, tiếng là 11 năm nhưng đại hạn đã đến từ năm Kỷ Sửu ( 1769 ) tính ra hơn một giáp ( 1769 - 1783 ) . Ba anh em tuy là con của thái tử, cháu nội vua Lê nhưng những ngày thơ ấu thật không bằng trẻ con nhà dân dã. Sử không chép rõ gia đình ông được ở chung với nhau trong ngục hay bị nhốt riêng nhưng suốt thời gian đó ắt hẳn không được học hành gì cả.

Theo Càn Long Triều Thượng Dụ Đáng, quyển XVI thì ngoài hai người em trai, Lê Duy Kỳ còn ba cô em gái mà khi ông lưu lạc sang Tàu thì họ còn lẩn trốn ở trong nước. Theo chỉ thị của vua Càn Long, Nguyễn Quang Bình đã tìm được một trong những người em gái đó đưa sang Bắc Kinh để đoàn tụ với mẹ và anh. Việc tìm và đưa sang Trung Hoa thân quyến của vua Chiêu Thống được ghi chép khá đầy đủ trong Dụ Am Văn Tập của Phan Huy Ích.

Trong khi anh em Lê Duy Kỳ bị giam trong ngục thì chúa Trịnh không chỉ lấn lướt vua Lê mà còn có ý định cướp ngôi. Theo Khâm Ðịnh Việt Sử, quyển XLV trang 7, tháng Chạp năm Ðinh Dậu, Cảnh Hưng 38 ( 1777 ) , nhân kỳ tuế cống, Trịnh Sâm sai tả thị lang Vũ Trần Thiệu cầm đầu sứ bộ sang nhà Thanh. Sâm làm tờ mật biểu dặn họ Vũ tâu lên vua Càn Long rằng “ nhà Lê không có người con cháu nào hiền tài ” đồng thời cho người đút lót để xin phong tước cho mình. Khi đi đến hồ Ðộng Ðình, Trần Thiệu giả vờ có bệnh, đang đêm đem tờ biểu đốt đi rồi uống thuốc độc tự tử. Chúa Trịnh cũng âm mưu sang đoạt, đem chiếc ấn An Nam Quốc Vương của nhà Thanh ban cho họ Lê giấu đi nên khi lên ngôi, Lê Duy Kỳ phải dâng biểu gửi tổng đốc Lưỡng Quảng để nhờ xin lại chiếc ấn khác [ để gửi văn thư cầu phong ] nhưng việc chưa xong thì hoàng tộc đã phải xuất bôn. Trong một hoàn cảnh mà chúa Trịnh chỉ muốn tông tộc nhà Lê bớt người nào hay người ấy, không nói gì đến con cháu vua Hiển Tông đang bị giam cầm thì ngay cả tôn thất đang ở kinh thành cũng cảm thấy tính mạng mình như treo trên sợi tóc.

Cuộc đời ba anh em Lê Duy Kỳ chỉ được tạm yên trong ba năm ( 1783 - 1786 ) khi phủ chúa bận tranh chấp quyền hành và đối phó với quân Tam Phủ tạm quên gia đình vua Lê. Từ đầu năm 1783 đến giữa năm 1786 có lẽ là quãng thời gian thoải mái nhất trong suốt 27 năm tại thế, tuy nhiên không phải là không có những lúc sống chết trong đường tơ kẽ tóc, nguy hiểm không phải đâu xa mà chính ngay từ người trong nhà. Khi Lê Duy Kỳ được thả ra, miền Bắc vẫn còn có cả vua lẫn chúa. Ðương kim hoàng đế Lê Hiển Tông là ông nội của ông còn chúa Trịnh khi đó là Ðoan Nam Vương Trịnh Khải. Khâm Ðịnh Việt Sử, quyển XLVI trang 1 chép :

 ..... Trước đây, Duy Cận ( con thứ tư vua Hiển Tông ) được lập làm hoàng thái tử chính là do Trịnh thái phi Nguyễn thị tán thành. Ðến nay thấy thái tôn ( tức Lê Duy Kỳ ) trở về, Nguyễn thị sợ Duy Cận mất ngôi thái tử bèn sai hoạn quan là Liêm Tăng ( sót họ ) bắt ép thái tôn sang chầu để toan bí mật giết đi. Thái tôn từ chối không được, sa nước mắt khóc mà ra đi ; khi đi đường bị quân tuần sát ngăn lại, quân lính dức lác ầm ĩ, yêu cầu tra cứu cho ra người lập mưu làm hại Thái tôn, họ lùng kiếm Liêm Tăng không được, ngờ là Duy Cận chủ mưu. Lúc ấy Duy Cận đương chầu Trịnh thái phi, nghi trượng để ngoài cửa phủ đường, quân sĩ liền đập phá tan nát. Duy Cận sợ, phải thay đổi quần áo đi lẻn về cung.

Trịnh Khải biết việc này là do thái phi gây ra, nhân dụ dỗ quân sĩ chớ làm huyên náo ngay lập tức hạ lệnh cho bầy tôi trong triều xin nhà vua lập Duy Khiêm ( tức Lê Duy Kỳ ) làm hoàng thái tôn, lúc ấy Duy Khiêm 18 tuổi. Lại bắt Duy Cận làm tờ biểu nhường ngôi thái tử, Duy Cận bị truất làm Sùng Nhượng công. Nếu quả thực Lê Duy Cận có âm mưu hại cháu như thế thì phải nói rằng vua Chiêu Thống cũng còn nhiều nhân tình vì sau này khi Tôn Sĩ Nghị đòi đưa Duy Cận sang an tháp ở Trung Hoa, Lê Duy Kỳ đã xin cho Duy Cận được ở lại để mình lo liệu với lý do Duy Cận là người “ si ngốc ” không đáng lo vì biết rằng một khi bị đày sang Trung Hoa sẽ không còn bao giờ trở lại quê hương được nữa.



1.1.3. LÊ DUY KỲ ÐƯỢC PHONG HOÀNG THÁI TÔN

Việc Trịnh Sâm bỏ trưởng lập ấu đã đưa đến loạn kiêu binh, nay Trịnh Khải trở lại làm chúa lại nảy sinh mâu thuẫn giữa chúa Trịnh và binh lính. Chúa Trịnh sợ binh sĩ tôn phò hoàng thái tôn, một mai khi Lê Duy Kỳ làm vua thì cơ nghiệp nhà Lê có cơ khôi phục, quyền hành nhà chúa sẽ bớt đi nên có ý muốn trấn áp quân tam phủ. Trịnh Khải lại tin dùng bọn Mai Doãn Khuê, Nguyễn Lệ, Nguyễn Triêm ..... sai họ dẹp kiêu binh đồng thời giám sát hoàng tự tôn Lê Duy Kỳ. Bọn Nguyễn Lệ, Nguyễn Triêm trừ được một số lính tam phủ nhưng sau đó quân sĩ nổi lên, Nguyễn Triêm bị giết, chúa Trịnh phải cách chức Nguyễn Lệ. Khâm Ðịnh Việt Sử, quyển XLVI, trang 7 chép :

 ..... Từ đấy quân sĩ mỗi khi ra ngoài kéo từng đàn hàng trăm hàng ngàn người tung hoành nơi thôn xóm, tự ý cướp bóc thả cửa. Quân sĩ nào đi đường một mình thường bị dân quê đón đường giết chết. Quân và dân coi nhau không khác gì giặc cướp thù hằn.

Lịch Triều Tạp Kỷ viết :

 ..... Bởi vậy hễ lính Thanh Nghệ nào lệ thuộc ở các trấn mà trốn đi, khi đi qua các xóm làng không dám cất tiếng nói, có kẻ nào lỡ mồm nói tiếng Thanh Nghệ mọi người nghe biết thì giết liền. Chúng thường phải giả câm, ăn xin ở dọc đường để lén vào kinh đô, đồn đại lên rằng chẳng mấy ngày nữa bốn phương [ sẽ kéo quân ] đến tập hợp ở dưới chân thành. Các quân Thanh Nghệ đóng ở kinh đô bèn họp nhau lại bàn mưu chống cự, chia đường kéo ra các mặt Ðại Phùng và Vĩnh Kiều đều bị thổ hào đánh bại, chúng phải quăng bỏ áo giáp đeo vết thương mà về. Kinh đô rung động. Những người ở phố phường chợ búa đều dắt díu nhau chạy ra khỏi thành. Chư quân vừa sợ vừa giận, gọi Tông là “ chúa giặc ”.

Những xung đột nội bộ của miền Bắc đã khiến cho hệ thống chính trị và quân sự Ðàng Ngoài suy yếu dẫn tới việc Nguyễn Huệ đem quân ra mà không gặp một lực lượng kháng cự nào đáng kể. Năm ấy là năm Bính Ngọ ( 1786 ) , Lê Duy Kỳ được 19 tuổi.


1. 2. QUỐC PHÁ

1.2.1. TÂY SƠN RA BẮC

1.2.1.1. CHIÊU BÀI PHÙ LÊ DIỆT TRỊNH

Khi Nguyễn Huệ ra bắc, ông nghe theo lời khuyên của Nguyễn Hữu Chỉnh nêu cao danh nghĩa “ Phù Lê Diệt Trịnh ” để thu phục lòng người. Chính chiêu bài này đã khiến cho quân chúa Trịnh buông giáo đầu hàng rất nhanh, thành Thăng Long hỗn loạn :

..... Những người tránh “ giặc ” chạy ra ngoài thành đều bị dân phụ cận cướp bóc. Quân sĩ bại trận kết bầy hàng trăm hàng ngàn tay cầm gươm giáo, nhưng chỉ mới trông thấy vài ba trẻ chăn trâu đi qua là đã hoảng hốt bó tay, vứt hết mọi thứ trong người mà chạy. Các làng xã gần nhau thì cướp bóc lẫn nhau, đón đường chặn khách bộ hành lột quần áo nên đường sá vắng tanh .......

Trịnh Khải bỏ chạy, chung quanh chỉ còn vài người nên đã bị “ phản ” trong một tình thế rất hi hữu :

..... Ðoan vương chạy đến [ làng ] Hạ Lôi thuộc Văn Lãng, Trần Quán [ Lý ] sai học trò của mình đến đón. Quân Tây Sơn đuổi kịp. Dân có kẻ tên là Tuần Trang phản chúa, người Vân Ðiềm biết sự tình không thể làm gì được, tranh nhau với Tuần Trang bức chúa dâng cho Tây Sơn để lấy công. Thấy thế cùng, Ðoan Nam Vương tự tử. Quân Tây Sơn vào thành, dùng phủ chúa làm quân doanh nhưng đốt hết nhà cửa chung quanh. Nguyễn Huệ cho đem xác Trịnh Khải về kinh. Bọn tên Trang và Ba [ người Vân Ðiềm ] đều tự cho mình là người có công bắt được Trịnh Khải nên tranh nhau vào lãnh thưởng, Huệ hỏi Ba rằng : “ Có đúng là chúa Trịnh không ? ” , Ba thưa : “ Chính phải ” , Huệ lại hỏi : “ Nhà ngươi làm sao biết ? ” , Ba thưa : “ Tôi đã từng là gia thần [ của chúa ] , Huệ nói : “ Là kẻ bầy tôi mà bắt vua thì tội đáng xử chém ” bèn sai kéo Ba ra chém ......

Theo những nhân chứng sống còn ở kinh thành thì lính Tây Sơn chia nhau đóng ở mọi nơi công thự, quần áo hỗn tạp không thống nhất. Người miền Bắc coi họ là “ man binh ” [ 蠻兵 ] ý nói họ là những kẻ mọi rợ từ phương nam tiến lên. Trong văn chương ta thấy các nhà nho gọi Nguyễn Huệ là “ cuồng Chiêm ” [ 狂占 ] , “ hắc tử ” [ 黑子 ] với hàm ý khinh miệt. Tuy nhiên người ta vẫn phải công nhận rằng “ quân lệnh của Tây Sơn rất nghiêm, không ai dám lấy một mảy của dân ”. Ngay lúc đầu Nguyễn Huệ đã thấy không vừa ý khi ông được phong tước công :

 ..... Ngày mồng 8 [ tháng Bảy năm Bính Ngọ, 1786 ] , vua Lê đặc cách sai triều thần bưng tờ chiếu sắc sang bên phủ [ phủ chúa Trịnh, nơi Nguyễn Huệ đóng quân ] tuyên phong Nguyễn Văn Huệ nguyên súy Phù chính dực vũ Uy quốc công. Huệ chịu phong xong, sai người kính dâng lễ tạ cực kỳ chu tất rồi bảo riêng Nguyễn Hữu Chỉnh rằng : “ Ta đem vài vạn quân ra đây chỉ một trận là dẹp yên Bắc Hà, một tấc đất, một người dân cái gì mà chẳng phải của ta. Ví bằng ta muốn xưng đế xưng vương có gì là chẳng được, sở dĩ nhường nhịn mà không làm chỉ là hậu đãi nhà Lê đó thôi ......

Ðể lấy lòng, Nguyễn Hữu Chỉnh phải giả thác là vua Lê muốn kết thân và làm mai để vua Hiển Tông gả công chúa Ngọc Hân cho Nguyễn Huệ. Tổng kết nhiều tài liệu khác nhau ta thấy quả thực triều đình vua Lê hết sức cùng kiệt, trong nhiều năm vua Lê và tông tộc chỉ lo việc lễ nghi, ăn thực ấp, còn tài sản và tiền bạc ở miền Bắc đều ở trong tay chúa Trịnh và giới quí tộc quan lại dưới quyền phủ chúa. Khi Nguyễn Huệ ra Bắc có lẽ cũng chỉ tính ở đây một giai đoạn nên vàng bạc châu báu đều thu vét hết cả. 


1.2.1.2. CHIÊU THỐNG LÊN NGÔI

Sau khi công chúa thành hôn được vài ngày thì vua Hiển Tông mất, thọ 70 tuổi. Lê Duy Kỳ lên nối ngôi niên hiệu Chiêu Thống. Khi vua Hiển Tông mất, ông dặn cháu rằng :

– Sớm hôm ta sẽ cất được gánh nặng, nỗi lo âu sẽ trút vào thân cháu. Cháu phải nhớ lấy, sau khi ta nhắm mắt rồi thì truyền nối là việc trọng đại, cháu nên nhất nhất bẩm báo để Nguyễn Văn Huệ biết. Phải thận trọng đừng có khinh suất.

Tuy nhiên Lê Duy Kỳ cũng muốn dần dần tự lập, thoát khỏi cái cảnh đã có vua lại có chúa mà nhà vua chỉ ngồi làm vì như ông nội mình đã chịu đựng mấy mươi năm qua, con bị giết cũng đành chịu không dám than thở. Vì thế ông tự mình lo việc tang ma và lên ngôi, không muốn Nguyễn Huệ tham dự vào việc triều đình một cách thái quá. Chính việc dửng dưng đó đã đưa tới sự bất mãn khiến Nguyễn Huệ sau này có bụng muốn cướp ngôi nhà Lê và khi bất đắc dĩ thì cũng chỉ lập Lê Duy Cận là người đối lập với vua Chiêu Thống. Những người có đôi chút thế lực – dù là tướng lãnh Tây Sơn, thổ hào hay cả những người được hưởng tước vị triều đình – cũng chẳng có ai thực tâm phù Lê, không làm được điều gì tích cực để ổn định Bắc Hà. Tình hình rối ren của miền Bắc đã tạo nên một khoảng trống trong hệ thống quyền lực lúc này.


1.2.2. TỔ CHỨC HÀNH CHÁNH

Hãy thử kiểm điểm lại 3 lãnh vực chính yếu : quân đội, nhân sự, tài chánh, để đánh giá di sản mà Lê Duy Kỳ có được cũng như những nỗ lực của ông và bầy tôi trong vài tháng ngắn ngủi của triều đình miền Bắc.


1.2.2.1. QUÂN ÐỘI

Ðến đời Lê, tổ chức hành chánh và quân sự của Ðàng Ngoài đã đến mức khá hoàn chỉnh. Năm 1724, chúa Trịnh Cương mở khoa thi võ đầu tiên để tuyển mộ võ quan gọi là bác cử ( 博舉 ) và sở cử ( 所舉 ) . Trước đó từ năm 1721, triều đình đã mở trường võ học để huấn luyện quân sự cho con cháu các nhà quyền quí ở kinh đô. Khoa thi bác cử mở vào những năm thìn, tuất, sửu, mùi còn sở cử vào những năm tí, ngọ, mão, dậu. Thi võ gồm 3 kỳ, kỳ thứ nhất hỏi về binh thư Tôn Tử, kỳ thứ hai thi tài cưỡi ngựa, đấu côn, kiếm và múa đao. Những ai qua được 2 kỳ này được gọi là sinh viên ( 生員 ). Kỳ thứ ba là kỳ sát hạch về chiến lược, nếu thi đỗ thì gọi là học sinh ( 學生 ) hay biền sinh hợp thức và có thể thi tiếp kỳ thi bác cử. Những ai đỗ kỳ thi bác cử được gọi là tạo sĩ ( 造士 ) tức là tiến sĩ võ. Qua năm 1731, chúa Trịnh Giang cải tổ lại các kỳ thi võ giống như của Trung Hoa, hai kỳ đầu chỉ thi kỹ thuật và thể lực, kỳ thứ ba mới thi binh thư. Chúa Trịnh Giang cũng mở thêm những kỳ thi đặc biệt cho những người đang ở trong quân ngũ muốn thăng tiến trong binh nghiệp gọi là hoành tuyển ( 宏選 ).

Ở miền bắc, quân đội hiện dịch vào khoảng từ 6 đến 7 vạn người chia ra làm 12 doanh ( 營 ), 58 cơ ( 奇 ), 285 đội ( 隊 ) và 62 thuyền ( 船 ) . Mỗi doanh có từ 160 đến 800 người, mỗi cơ từ 200 đến 500, mỗi đội từ 15 đến 275 và mỗi thuyền từ 20 đến 86 người. Xem như vậy thì thấy quân số nhiều hay ít không nhất định và tuỳ theo từng đơn vị, từng địa phương. Các doanh, cơ, đội cũng thường đi theo các chữ tả, hữu, tiền, hậu, trung là cơ chế ngũ quân ảnh hưởng của Trung Hoa.

Tổ chức quân sự của miền Bắc cũng theo phương hướng đông tây nam bắc để chia thành năm vùng gọi là Ngũ Phủ ( 五府 ) bao gồm :

– Trung quân phủ lấy binh lính từ Thanh Hoá, Nghệ An vốn dĩ là nơi xuất phát của Lê triều và chúa Trịnh, còn được gọi là ưu binh ( 優兵 ).

– Ðông quân phủ bao gồm binh lính từ Hải Dương, An Quảng

– Nam quân phủ là lính ở Sơn Nam

– Tây quân phủ là lính thuộc Hưng Hoá

– Bắc quân phủ là lính của Kinh Bắc


Mỗi phủ dưới quyền chỉ huy của hai đô đốc ( 都督 ), một tả một hữu, một đồng tri ( 同知 ) và một thiêm sự ( 添事 ). Thời bình, quân trực thuộc phủ Chúa là trung quân tức ưu binh Tam Phủ , nên khi đạo quân này tan rã rồi thì dưới tay vua Lê hầu như không còn quân đội nào cả. Cứ như sách vở thuật lại, khi Tây Sơn rút đi thì triều đình nhìn quanh cũng chỉ có vài viên quan văn, quân sĩ hầu như không có ai nên vua Chiêu Thống đành phải truyền hịch cho các gia đình có thế lực các nơi về bảo vệ hoàng gia. Một số hào kiệt các nơi như Lê Quýnh, Vũ Trinh hưởng ứng. Hai vị hoàng đệ, các hoàng thân cũng gây được vài nghìn quân túc vệ.


1.2.2.2. NHÂN SỰ

Tuy trên danh nghĩa Ðàng Ngoài là đất thuộc nhà Lê nhưng thực tế mọi quyền hành trong hơn hai trăm năm qua đều ở trong tay họ Trịnh. Khi Nguyễn Huệ “ giao trả nước ” cho nhà Lê, thực lực vẫn ở trong tay các sứ quân, mỗi người chiếm cứ một vùng. Tuy những lãnh chúa đó mang tước hiệu công hầu nhưng họ đều là những thế lực riêng rẽ không dưới quyền điều động của ai, nếu vua Lê muốn nhờ họ làm một việc gì thì chỉ là một sự trao đổi, gần như là thuê. Tình hình đó khiến họ thay đổi lập trường như chong chóng và không một khu vực nào còn trung thành với triều đình để có thể sử dụng làm bàn đạp giúp vua Lê quật khởi, nếu có cần vương thì chưa được việc đã đòi hỏi còn quá thời chúa Trịnh khi trước.

Cái chết thảm khốc của thái tử Duy Vĩ và kinh nghiệm 11 năm tù đày của 3 đứa trẻ đã cho họ một kinh nghiệm sâu sắc, đó là bằng mọi giá phải cố gắng tự lập để thâu lại quyền hành, không để cho một “ chúa ” khác nắm quyền sinh sát. Vậy thì trung thành với nhà Lê còn lại những ai ? Chung quanh vua Lê khi đó chỉ còn một số các bậc khoa bảng được đào tạo trong cửa Khổng sân Trình nêu cao tấm lòng trung nghĩa một cách sách vở. Những nho sĩ đó không có thực lực cũng như uy tín và luôn luôn phải đi tìm một sứ quân để theo phò. Những sứ quân đó dễ thay lòng đổi dạ một khi yếu thế nên thường tạo ra những tai hoạ bất ngờ. Ngay cả những thổ hào hay viên chức nhỏ ở hương thôn cũng mua vua bán chúa nếu có cơ hội.

Ở thời kỳ đó, chính tà chân nguỵ không có ranh giới rõ rệt, nhiều người hết làm quan cho nhà Lê lại làm quan cho Tây Sơn, sau đến Nguyễn Ánh thống nhất sơn hà thì lại làm quan cho triều Nguyễn. Trong khi vua Lê cố gắng củng cố quyền hành thì giới quan lại vẫn theo thói cũ, kẻ thì đi tìm dòng dõi họ Trịnh để phò tá lấn lướt triều đình, người thì thấy gió đã xoay chiều, mắt trước mắt sau liên lạc để ngả theo Tây Sơn mưu cầu công danh. Có người trên danh nghĩa làm quan với nhà Lê nhưng lại ngấm ngầm phản bội, sẵn sàng truất phế chúa cũ để suy tôn chúa mới, chính vì thế Lê Duy Kỳ đã cố gắng cải thiện tình hình nhưng vì thiếu tiền bạc và nhân sự nên không mấy sáng sủa.


1.2.2.3. TÀI CHÁNH

Khi quyền hành còn trong tay chúa Trịnh, tuy mang tiếng là vua nhưng chỉ được hưởng thực ấp một nghìn xã, một thứ quan lại ăn lương để trông coi các việc lễ nghi tế tự. Vua Lê không có ngân sách, cũng không có những nguồn lợi nào cụ thể để chi phí khi cần. Khi Nguyễn Huệ ra Bắc, ông thu thập tất cả các kho tàng của chúa Trịnh đem về nam, để lại một đất nước rỗng không như vua Lê phải thú nhận. Chỉ trong 2 năm, hết quân Tây Sơn đến các thổ hào, kinh thành Thăng Long bị cướp phá không biết bao nhiêu lần nên về sau chỉ là một nơi hoang tàn đổ nát không còn gì nữa. Khâm Ðịnh Việt Sử, quyển XLVI, tr. 29 chép :

Sau khi quân giặc [ Tây Sơn ] đã rút đi, nhà vua lập tức triệu bầy tôi trong triều bàn luận rằng : “ Giặc để lại cho ta một nước trống rỗng, nếu có sự nguy cấp thì chống đỡ bằng cách nào ? ” Bèn viết thư triệu hết những người thế gia và bầy tôi cũ dấy quân vào bảo vệ hoàng thành, vì thế hào mục các nơi chiếm giữ châu quận chiêu tập binh mã đều mượn danh nghĩa “ bảo vệ ”. Những hạng vô lại đánh giết lẫn nhau, trong nước thành ra rối loạn.

Khi Nguyễn Hữu Chỉnh ra bắc, kho tàng rỗng tuếch, không thu được đồng ở các mỏ thượng du nên phải thu vét đồ đồng ở đền chùa để đúc tiền Chiêu Thống thông bảo.


1.2.2.4. VĂN HỌC

Vua Lê tuy còn trẻ, khi lên ngôi mới 20 tuổi nhưng đã chuộng văn học. Ngay tháng ba năm Chiêu Thống nguyên niên ( Ðinh Mùi, 1787 ) đã mở thi chế khoa. Lối thi này là lối thi mới gồm 10 khoa phỏng theo cách thức của Tư Mã Quang nhà Tống kén chọn nhân tài dựa trên đức độ, tiết tháo, mưu trí và sức khỏe, thông minh, công bằng, tinh thông kinh sử, bác học, văn tài, khéo xét xử, giỏi tài chính, thuế khóa, hiểu biết pháp luật. Khoa này lấy Bùi Dương Lịch và Trần Bá Lãm ngang với tiến sĩ. Ngoài ra còn có Nguyễn Huy Túc và Nhữ Công Vũ được cất nhắc lên bậc tiến triều, những người khác có tài thì cho làm viên ngoại lang, tri châu, tri huyện. Những người có thực tài, thực dụng đều được bổ dụng.

Ðến tháng 10 cùng năm lại mở khoa thi hội cho các cống sĩ, tổng cộng có đến 1212 người dự thi, lấy 14 tiến sĩ, Bùi Dương Lịch đỗ đầu ( thám hoa ) . Theo Nghệ An Ký thì :

Tháng 3 năm Chiêu Thống thứ 1 ( 1787 ) , Vua xuống chiếu tiến cử các kẻ sĩ hiền lương phương chính. Vua cho Lịch tôi [ Bùi Dương Lịch ] sung chức cung phụng sứ ở Viện Nội hàn. Vua ham học kinh sách, quan kinh diên cứ 6 ngày đến giảng một lần, còn trong Viện Nội hàn mỗi ngày giảng một lần. Lịch tôi còn được ân sủng vào thẳng điện Tập Hiền để sẵn sàng khi vua hỏi. Mỗi khi được vào hầu vua thì vua thường khăn áo chỉnh tề, cho ngồi bàn trà, quyền chúc hợp ca [  ? ]. Em thứ hai vua Hoàng Nhị Ðệ là Hiền [ Ðiền ] quận công [ Lê Duy Trù ] cũng rất yêu kính, mỗi khi tôi vào hầu vua trở ra, đều mời về nhà riêng để giảng nghĩa kinh.



PHẦN II

TÂY SƠN CHIẾM MIỀN BẮC, VUA LÊ XUẤT BÔN

2.1. TÂY SƠN CHIẾM ÐẤT BẮC

2.1.1. TRỊNH BỒNG

Tuy tài liệu về thời kỳ vua Chiêu Thống cầm quyền ở miền Bắc chỉ có rất ít, xen lẫn trong những biến cố dồn dập của một triều đại đã suy tàn, chúng ta cũng tìm được một số điểm đáng ghi nhận. Nguyên khi vua Chiêu Thống lên nối ngôi, họ Trịnh tuy không còn làm chúa nữa nhưng thực tế dư đảng vẫn còn nhiều. Trong khi Nguyễn Nhạc dứt khoát không can thiệp vào việc của miền Bắc, chỉ “ ước hẹn đời đời làm láng giềng giao hiếu với nhau ” thì Nguyễn Huệ vẫn có tham vọng nắm giữ quyền hành ở miền Bắc. Khi Tây Sơn bỏ đi, các hoàng thân quốc thích chỉ chiêu mộ được vài nghìn binh sĩ chia ra giữ bốn phía hoàng thành nên vua Lê phải viết thư triệu các thế gia và bầy tôi cũ dấy binh bảo vệ kinh đô. Nhân cơ hội đó, thổ hào mỗi người chiếm cứ một phương đánh giết lẫn nhau.

Nhân dịp này, Trịnh Lệ [ em Trịnh Sâm ] ở Văn Giang cùng hai cựu thần là Trương Tuân ( 張詢 ) , Dương Trọng Tế ( 楊仲濟 ) trở về chiếm lại phủ chúa định lên ngôi. Một người họ Trịnh khác là Trịnh Bồng ( 鄭逢 ) cũng quay lại tranh quyền với Trịnh Lệ khiến vua Lê bất đắc dĩ phải phong cho Bồng làm Tiết Chế Thuỷ Bộ Chư Quân, Bình Chương Quân Quốc Trọng Sự, Thái Uý Côn Quốc Công. Vua Lê vốn không muốn họ Trịnh trở lại nên cấp cho Bồng 3000 lính, 5000 mẫu ruộng và 200 xã giữ việc thờ cúng họ Trịnh, lại làm sắc dụ nói rõ đây chỉ là tước Công thế tập. Dư đảng họ Trịnh là Ðinh Tích Nhưỡng và một số cựu thần xu thời lại nài ép vua Lê phong vương cho Trịnh Bồng. Vua Lê nói :

- Ngày trước nhà ta suy vi, nhờ được họ Trịnh khuông phù rồi quyền bính về họ Trịnh, việc tế lễ vì [ về ] ta. Ðó là một thời. Nay mệnh trời đã đổi, tổ tông thiên hạ ở cả một mình ta, một nước hai vua hà nên lấy đó làm lệ. Vả lại họ Trịnh đã được rồi, họ Trịnh lại tự để mất đi, chứ nào ta có phụ gì họ Trịnh ?

Ðược mấy ngày, Ðinh Tích Nhưỡng đem quân vây điện cầm súng tuốt gươm. Các tôn thất và quan đại thần sợ sinh biến, khóc lóc, khuyên van mãi vua mới bất đắc dĩ phong Bồng làm Yến Ðô Vương [ tức trở lại thời vua Lê chúa Trịnh ] . Họ Trịnh lấy lại ngôi chúa rồi, thủ hạ cậy công cướp bóc nhân dân.


2.1.2. NGUYỄN HỮU CHỈNH

Thấy ngôi vua lại có cơ trở thành hư vị như các đời trước, Chiêu Thống đành bí mật vời Nguyễn Hữu Chỉnh từ Nghệ An ra giúp. Việc nhờ vả Chỉnh hẳn là rất miễn cưỡng vì Chỉnh hiện đang đóng một vai trò mập mờ. Tuy Bằng Quận Công vốn là bầy tôi nhà Lê nhưng đã chạy theo anh em Nguyễn Nhạc, nay đang trấn thủ một khu vực vốn đã bị nhường cho Tây Sơn [ để trả công phù Lê cho Nguyễn Huệ ] và triều đình đang tìm cách chuộc lại nên việc nhờ cậy Nguyễn Hữu Chỉnh đã tạo nên một mối lo tâm phúc cho Nguyễn Huệ [ khi đó đang vướng mắc vào tranh chấp với vua Thái Ðức Nguyễn Nhạc ] vốn e ngại một sự ly khai của Bắc Hà.

Chỉnh kéo quân ra, đánh bại Trịnh Bồng ở sông Thanh Quyết khiến tất cả kinh thành kinh hoàng. Yến Ðô Vương chạy sang Dương Xá rồi lại chạy sang Quế Ổ [ 桂塢 ]. Vua Chiêu Thống sợ họ Trịnh quay trở lại, quần thần bàn nên đốt vương phủ để triệt đường về. Vua Lê nghe theo. Khi Chỉnh đem quân tới, vua Lê cho bách quan nghinh tiếp vào ở cung Tây Long và phong cho tước Bình Chương Quân Quốc Trọng Sự, Ðại Tư Ðồ, Bằng Quốc Công, binh lính thì cho đóng ở bờ sông bên ngoài kinh thành.

Dư đảng họ Trịnh lại nổi lên, Nguyễn Hữu Chỉnh sai Nguyễn Như Thái và Hoàng Viết Tuyển đem quân đánh dẹp bắt được Dương Trọng Tế đem về kinh đô xử tử. Hoàng Phùng Cơ từ Sơn Tây tiến đánh kinh đô bị bộ tướng của Chỉnh là Lê Duật đánh tan, phải uống thuốc độc chết. Nguyễn Hữu Chỉnh cũng bí mật liên lạc với trấn thủ Nghệ An [ người của Tây Sơn ] là Nguyễn Văn Duệ mưu phản Nguyễn Huệ , cốt biến vùng Thanh Nghệ thành một trái độn để chia bớt thế lực. Cùng lúc đó, vua Lê lại sai Trần Công Xán làm chánh sứ vào tận Phú Xuân để thương lượng đòi đất Nghệ An nhưng Bình Vương Nguyễn Huệ không bằng lòng, sai người tìm cách đục thuyền giết toàn bộ phái đoàn ở cửa Ðơn Nhai. Thấy Bắc Hà có nguy cơ đối đầu với mình, Nguyễn Huệ vội vàng sai Vũ Văn Nhậm đem quân ra đánh Nguyễn Hữu Chỉnh. Một trong những lý do Chỉnh không hết lòng cũng vì vợ con Chỉnh còn đang ở Phú Xuân nên không dám vọng động tấn công trước.

Khi Vũ Văn Nhậm ra Bắc Hà, 2 tướng của Chỉnh là Nguyễn Như Thái và Hoàng Viết Tuyển chia binh chống cự nhưng vì bố của Tuyển đang bị Vũ Văn Nhậm bắt nên Tuyển có ý muốn hàng, dừng quân không chịu tiến lên. Khi quân của Nhậm tới, Tuyển trở tay không kịp. Ngày 25 tháng Một, Nguyễn Hữu Chỉnh đem đại quân chặn địch ở Sinh Quyết [ Thanh Quyết ]. Ngày 30, Nhậm sai người lặn xuống sông dùng thừng buộc vào thuyền của Chỉnh kéo về bờ phía nam, quân Chỉnh tan vỡ, quân Tây Sơn tiến đến sát kinh thành. Ðêm hôm đó Chỉnh trở về, vua Chiêu Thống cho vời mấy lần nhưng Chỉnh không vào, chỉ cho Tham tri chính sự Nguyễn Như Khuê tâu vua xin chạy về phía bắc nương nhờ Nguyễn Cảnh Thước. Theo Lê Quý Dật Sử thì :

Vua nghe theo, đợi trời sáng vua ngự ra điện Vạn Thọ, bọn thị vệ dần dần bỏ trốn, vua triệu các quan sảnh đường để xét hỏi thì họ đã ngầm trốn đi từ trước, không còn một người nào trực cả. Bọn nội thị ai về nhà nấy thu xếp hành lý, trong điện chỉ còn Hoàng thân thứ hai cai quản vệ Hổ bôn Ðạt quận hầu [ Lê Duy Ðạt ] người vừa mới được tiến triều là Nguyễn Khải người Hương Cần, huyện Kỳ Hoa, người họ ngoại là Tích Xuyên hầu cùng hoàng giáp Bùi Dương Lịch bưng khăn đứng hầu mà thôi.

Khi sắp đi, vua trước hết đến nhà tẩm miếu tiên đế bái khóc. Bọn thị vệ lại lén bỏ đi. Vua tôi chỉ đưa mắt nhìn nhau không biết làm thế nào. Bùi Dương Lịch đến trước vua tâu rằng : “ Nay Chỉnh dẫu thua trận rút lui nhưng thủ hạ của Chỉnh còn nhiều, lòng người còn biết sợ Chỉnh, xin nhà vua truyền dụ đi đến nhà Chỉnh, sai Chỉnh đi theo hộ giá chắc được, như thế có sự ràng buộc ”.

Vua Chiêu Thống cưỡi voi đến nhà Chỉnh bàn tính chuyện chạy lên Kinh Bắc. Tuy nhiên trấn thủ Nguyễn Cảnh Thước làm phản, mật sai người xin đầu hàng Vũ Văn Nhậm, cướp hết voi, ngựa, hành lý của nhà vua. Chỉnh vội vàng đưa vua Lê lên Yên Thế nương nhờ thổ hào ở đó là Dương [ Ðình ] Tuấn.


2.2. NHÀ LÊ THẤT QUỐC

Ngày mồng 4 [ tháng Chạp ] quân Tây Sơn kéo đến, vua Lê sai hoàng đệ đem hoàng thái hậu, vương phi và nguyên tử theo đường phía bắc chạy lên Lạng Sơn, còn nhà vua mặc áo giáp cưỡi ngựa đi đầu có ý đích thân chống giặc. Các bề tôi nội thị can ngăn, vua mắng là hèn nhát. Bùi Dương Lịch nắm cương ngựa can rằng :

– Việc binh chiến không thể lường được, xin bệ hạ hãy lấy xã tắc làm trọng, chớ có khinh địch.

Vua miễn cưỡng nghe theo, cho ngựa đứng sau trận khoảng 3 dặm. Dương Tuấn đem quân giữ bên phải, Nguyễn Hữu Chỉnh đem quân giữ núi bên trái. Quân Tây Sơn dàn hàng ngang tiến lên, Nguyễn Hữu Du [ con Chỉnh, Nghệ An Ký viết là Hoằng ] bị giết, hai con và cháu của Dương Tuấn cũng tử trận. Nguyễn Hữu Chỉnh bị bắt giải về Thăng Long xé xác, bêu ở cửa thành. Vua Lê chạy sang Bảo Lộc, các bề tôi mỗi người một ngả. Ðầu năm sau, thổ hào ở Hải Dương đón Lê Duy Kỳ về Giáp Sơn.


2.2.1. VUA LÊ CHẠY TRỐN

Sau khi Vũ Văn Nhậm chiếm được kinh thành, vua Lê chạy trốn, tình cảnh hết sức long đong vất vả. Lê Quý Kỷ Sự chép : Tự hoàng từ sau trận thua ở Mục-thị, lật đật long đong, nay đông mai bắc, đến đâu cũng được nghĩa binh hào mục ở đó theo về như chợ nhưng quân lính không quen trận chiến, gặp “ giặc ” liền thua.

Về phần Vũ Văn Nhậm, từ khi chiếm được Thăng Long làm nhiều điều đắc chí khiến Nguyễn Huệ sinh nghi, sai Ngô Văn Sở ra Bắc để kiềm chế Nhậm. Nhậm không ưa Ngô Văn Sở nên cho đóng ở Phú Xuyên nhưng bắt phải tự túc về lương thực, tiền bạc. Ngô Văn Sở hết sức căm tức chờ dịp báo thù. Theo Lê Quý Kỷ Sự thì “ khi đi, Nhậm che sáu lọng, khi ngồi Nhậm dùng sập thếp vàng. Lại tự tiện đúc ấn chương và cho tướng dưới quyền dùng tiếng tâu nói với Nhậm trong những dịp trình bày việc công ”. Ngô Văn Sở báo cho Nguyễn Huệ biết, tố cáo Nhậm làm phản. Nguyễn Huệ liền kéo quân ra thẳng Thăng Long, bắt Nhậm giết đi.

Khi Nguyễn Huệ giết được Vũ Văn Nhậm rồi, lại một lần nữa bách quan văn võ lục tục “ ra hàng ” , nghĩa là chịu làm việc với triều đình mới. Khi Lê Duy Ðản sang Quảng Tây có đọc được tờ biểu mà đình thần gửi sang để xin Thanh triều chấp nhận cho Nguyễn Quang Bình [ Nguyễn Huệ ] lên làm vua thay Lê Duy Kỳ. Theo một bài thơ của Lê Duy Ðản thì tờ biểu này có 75 chữ ký, bao gồm 3 quan văn.


2.2.2. HOÀNG TỘC CHẠY SANG ÐẤT THANH

Về nguyên nhân nhà Thanh đem quân sang nước ta, Ðại Nam Chính Biên Liệt Truyện chép :

" Khi kinh thành Thăng Long vừa mất, vua Chiêu Thống sai thị thần là Lê Quýnh cùng mấy chục người tôn thất bảo hộ quốc mẫu họ Nguyễn chạy lên Cao Bình ( Bằng ) dựa vào đốc trấn Nguyễn Công Túc, gửi thư sang Long Bằng cầu xin tổng đốc Lưỡng Quảng Tôn Sĩ Nghị đem binh cứu viện ..... "

Cũng việc đó, Khâm Ðịnh Việt Sử quyển 47, tr. 32 chép dài hơn :

" Trước kia thái hậu đến Cao Bằng, các phiên tù đều đem quân đi phòng thủ, chẹn đánh. Phiên mục Bế Nguyễn Trù dẫn tướng giặc là bọn Cúc, Hoán đến đánh úp trấn doanh. Bọn đốc đồng Nguyễn Huy Túc, phiên thần Ðịch quận công Hoàng Ích Hiểu, tụng thần Lê Quýnh và Nguyễn Quốc Ðống bảo vệ thái hậu và nguyên tử do cửa ải Thuỷ khẩu chạy sang Long Châu nhà Thanh. Quan châu là Trần Tốt đem việc này đề đạt lên tổng đốc và tuần phủ.

Lưỡng Quảng tổng đốc Tôn Sĩ Nghị và Quảng Tây tuần phủ Tôn Vĩnh Thanh hội họp ở Nam Ninh. Thái hậu đưa nguyên tử đến yết kiến ở trong sân, gào khóc xin cứu viện. Bọn Sĩ Nghị tâu với vua Thanh rằng Tự hoàng nhà Lê đương phải bôn ba, đối với đại nghĩa, ta nên cứu viện. Vả lại An Nam là đất cũ của Trung Quốc, sau khi khôi phục nhà Lê, ta nhân đó đặt lính thú để đóng giữ. Thế là vừa làm cho nhà Lê được tồn tại vừa chiếm lấy được An Nam : thật là làm một chuyến mà được hai lợi. "

Từ 2 nguồn này, các sử gia đều dựa vào đây để khẳng định là gia quyến và bầy tôi nhà Lê chủ động trong việc sang Trung Hoa cầu viện, thái hậu họ Nguyễn – mẹ Lê Duy Kỳ – van xin thống thiết và dựa vào đó Tôn Sĩ Nghị trình bày lên vua Càn Long xin cử binh sang đánh nước Nam. Với lối trình bày đơn giản có dụng ý, chúng ta tưởng như đây là một phái đoàn chính thức tiền hô hậu ủng đi qua cửa ải đến tận dinh tổng đốc nhà Thanh xin đem quân cứu viện. Sai lầm này khiến người đọc sử có ác cảm với mẹ con vua Lê và đám bồi thần chỉ vì quyền lợi bản thân nên manh tâm nhờ cậy người ngoài bất kể đến quyền lợi quốc gia dân tộc.

Thế nhưng tài liệu của nhà Thanh không những khác hẳn mà nội dung lại mang dụng ý rõ rệt, một mặt che giấu việc tuần phòng biên giới chểnh mảng, mặt khác nhấn mạnh vào nghĩa vụ nước lớn để chính danh hoá việc đem quân sang nước ta. Bên cạnh đó, động cơ ngầm của vấn đề chính là mục tiêu cá nhân của Tôn Sĩ Nghị với tham vọng nếu không chiếm nước ta thành quận huyện thì cũng là một cơ hội tốt để ông ta thăng quan tiến chức.



PHẦN III

NHÀ THANH CỨU VIỆN

3.1. PHẢN ỨNG CỦA THANH TRIỀU

3.1.1. NHÀ LÊ CẦU CỨU

Sự việc đến đây cũng chưa phải là hết. Những người trốn qua biên giới đều phải đối diện với một vấn đề luật pháp rất phức tạp, đó là làm sao để được nhà Thanh chấp thuận cho hưởng qui chế “ tị nạn ” mà không bị trả về cho quan quân Tây Sơn. Việc kiểm soát qua lại biên giới của nhà Thanh rất chặt chẽ, muốn ra ngoài buôn bán phải có phép của triều đình. Những ai bỏ nước ra đi, nếu không có lý do chính đáng khi trở về nội địa đều bị trọng hình nên đã đi rồi bắt buộc phải tha hương lập nghiệp.

Khi nhà Thanh mới chiếm được trung nguyên, một số đông người Trung Hoa không tuân lệnh gióc tóc đuôi sam [ theo kiểu người Mãn ] nên bỏ quê hương, trốn xuống vùng Ðông Nam Á tạo thành một tầng lớp Hoa kiều gọi là Minh hương [ người gốc nhà Minh ]. Họ cũng tập họp thành những tổ chức, bang hội để chống lại nhà Thanh ( phản Thanh phục Minh ) nên việc người trong nước giao dịch với bên ngoài càng bị giám sát kỹ lưỡng để đề phòng thông đồng nổi loạn.

Tại những quốc gia lân cận, không hiếm những biến động chính trị mà Hoa kiều bị tàn sát nhưng nhà Thanh không những không can thiệp mà còn thống mạ coi như đáng đời cho những kẻ phản quốc. Riêng tại nước ta, vào cuối đời Lê, ở những khu vực tiếp giáp với Vân Nam, Quảng Tây của Trung Quốc, nhiều người Hoa trốn sang làm phu mỏ ở vùng Tuyên Quang, Thái Nguyên [ sử nhà Thanh gọi là xưởng dân ]. Nhân dịp quân Thanh tiến sang, những thợ thuyền này đã tập hợp thành hàng ngũ để theo vào Thăng Long gây ra lắm cảnh nhũng nhiễu. Sau khi thua trận và bị truy sát, một số phải liều mạng chạy qua các cửa ải và nhờ lời tâu của Tôn Sĩ Nghị mà họ mới được vua Càn Long ân xá.

Người đi ra đã vậy, người nước ngoài vượt biên vào Trung Hoa còn gay go hơn và đây chính là một vấn đề sinh tử của thân quyến và tòng vong nhà Lê. Ðể tránh bị xử theo luật nhập cư bất hợp pháp, các quan nhà Lê đã cố chứng minh hoàn cảnh của mình để xin được hưởng một đặc ân. 

Tờ biểu này cho chúng ta biết thêm một số chi tiết : đoàn người bị lạc và tạm trú trong hang động khoảng 3 ngày ( mồng 9 đến 12 ) thì gặp quan quân nhà Thanh. Ðây cũng chỉ là một tờ trình cho quan lại địa phương ( thông phán Trần Tùng ) cấp bậc tương đối thấp [ phủ huyện ] với mục đích xin tị nạn tạm một thời gian. Ðối chiếu với lời tâu của Tôn Sĩ Nghị ở trên, rõ ràng họ Tôn đã giấu đi chuyện nhóm nhà Lê sang Trung Hoa từ mồng 9 đến 12 ( khi quan nhà Thanh hay biết ) mà nói rằng ngày 12 mới bị đuổi tới bờ sông, có quân Thanh đến cứu.

Những văn quan nhà Lê cũng hiểu rằng tuy nói thế nhưng thực tế không đơn giản, việc sống chết chưa biết ra sao nói gì đến việc lấy lại nước. Tình hình trong 2 năm qua cho thấy những nhóm thổ hào Bắc Hà sau khi chúa Trịnh đổ không ai có thể là đối thủ của Tây Sơn về lực lượng cũng như về tài trí. Các viên chức địa phương của nhà Thanh cũng không biết nội vụ thực hư thế nào nên chỉ tạm thời cho 62 người “ tị nạn An Nam ” một chỗ ăn ở và lập tức báo cáo lên tuần phủ Quảng Tây Tôn Vĩnh Thanh để ở đây lại báo lên tổng đốc Lưỡng Quảng Tôn Sĩ Nghị.

Chỉ đến khi việc tạm trú được chấp thuận rồi và cũng đã hoàn hồn, một kế hoạch mới nảy sinh, đó là : xin được can thiệp để có một mảnh đất dung thân tương tự như trước đây nhà Minh ép nhà Lê cắt đất Cao Bằng cho họ Mạc. Hoàng Xuân Hãn khi dịch Bắc Hành Tùng Ký cũng có phụ chú như sau :

Nguyễn Huy-Túc chủ động trong việc đón đưa Thái-hậu, có để lại một số thơ làm ta biết thêm một vài điều. Quê xã Kim-lũ, huyện Thanh-trì, Huy-Túc là con tiến sĩ Công Án. Năm Ðinh-mùi ( 1787 ) được cử làm đốc-đồng Cao-bằng. Mấy tháng sau khi đốc-trấn Nguyễn Ðình-Tố mất, Huy-Túc nối chức. Tháng Chạp được tin Lạng-sơn báo việc Tây-sơn chiếm Thăng-long và Chiêu-thống chạy lên Bắc, Huy-Túc định đón vua Lê lên giữ Cao-bằng làm căn cứ để phục hưng. Tháng Giêng năm sau ( 1788 ) đem quân tới Thái-Nguyên tìm vua và định tựa vào Thanh mà giữ vùng Bắc. Tháng Tư mới rõ chỉ có cung quyến chạy lên Thái-nguyên và còn trú ở Vũ-nhai tại Vung-mõ. Huy-Túc tới đem cung-quyến lên Cao-bằng. Trong tập thơ ký sự có ba bài nói rõ những ý ấy : “ Nghe tin vua bỏ Kinh mà sợ, Xin theo người xưa giữ đất Bắc. Bốn châu liền nhau đều đất hiểm. Ai bảo rằng từ xưa nay không thể dấy nền vua ở đó. Trung quốc đồng lòng với ta thì ắt ta còn. Ðánh từ phía bắc đó là bổn-phận tôi để báo ơn vua một phần nào ..... Trộm nghĩ rằng Vũ-nhai gần nơi khói lửa, chẳng bằng trấn Cao-bằng địa-hình xa sâu ..... ”

Bốn châu liền nhau có lẽ để chỉ bốn châu ở Cao Bằng xưa kia nhà Thanh ép nhà Lê giao cho Mạc Kính Vũ.

Thế nhưng ý này có lẽ cũng không phải là nguyên uỷ của sự việc. Như chúng tôi đã nhấn mạnh, khi chạy sang Trung Hoa, đoàn người chỉ nhằm mục tiêu trước mắt là sao cho khỏi chết. Ðêm dài lắm mộng, thơ văn thời xưa thường thi vị hoá một số sự kiện và sử dụng những sáo ngữ như xe loan, xe hương, quốc mẫu ..... khiến người đọc khó hình dung ra được sự thực như thế nào ? Tuy nhiên chúng ta có thể đoán chừng ước vọng “ nhất khoảnh giang sơn ” chỉ có về sau khi được quan lại nhà Thanh mớm lời, hứa hẹn, còn thực tế lúc đó chỉ là một đoàn người lôi thôi lếch thếch, hồn bất phụ thể, vừa đói vừa rét xin được dung thân, nhất là đừng bị giao trả qua biên giới.


3.1.2. THANH TRIỀU ÐÁP ỨNG

Một điều di thần nhà Lê không ngờ được là tình hình nước ta đều được tuần phủ Quảng Tây Tôn Vĩnh Thanh và Lưỡng Quảng tổng đốc Tôn Sĩ Nghị dò xét tương đối đầy đủ và họ cũng có dự trù một kế hoạch để hợp thức hoá việc can thiệp vào nước ta. Chính vì thế khi được báo cáo là có một nhóm hoàng tộc nhà Lê chạy sang Long Bằng, Tôn Sĩ Nghị lập tức tâu lên vua Càn Long với nhiều chi tiết thuận theo chiều hướng ông ta đang theo đuổi :

- Thần tra xét quốc chính nước An Nam lâu nay vẫn do hai họ Nguyễn Trịnh nắm quyền, mấy chục năm qua vua Lê chỉ giữ nước mà không phải làm gì cả, một mực cung thuận thiên triều. Hai họ Trịnh Nguyễn có điều e ngại nên không dám làm chuyện soán đoạt. Nay Nguyễn Nhạc chiếm luôn quyền của họ Trịnh, đoạt lấy quốc đô, tàn sát quyến thuộc họ Lê, lại dụ dỗ những vùng phụ cận như Cao Bình, Lạng Sơn theo giặc, phòng bị thiên triều hưng binh vấn tội, tình hình đã rõ ràng. Nếu như nội địa chúng ta ở bên cạnh chỉ lặng thinh không động tĩnh gì thì họ sẽ nghĩ rằng thiên triều không lý gì đến chuyện của ngoại di, càng thêm càn rỡ giết hại tự tôn để cho quần chúng không còn tưởng vọng gì nữa, mà các trấn mục vốn có lòng với họ Lê thấy tự tôn bị diệt rồi thì không còn chỗ nào để quay về.

Ngoài ra con cháu họ Lê những ai chưa nổi dậy thì thế cũng không phấn chấn lên được, ắt cũng không hết sức mà cam tâm theo giặc. Khi đó đảng tập đã vững chắc, thế giặc lên cao, có muốn làm gì cũng khó. Vậy lúc này nhân thuộc quốc có loạn, nội địa nên hao phí binh mã tiền lương ngay, nhưng thần hiểu biết nông cạn không dám đảm trách biện lý chuyện này.

Tra xét phủ Thái Bình tỉnh Quảng Tây và phủ Liêm Châu tỉnh Quảng Ðông, hai phủ Khai Hoá, Lâm An tỉnh Vân Nam đều tiếp giáp với đất An Nam, vậy nên trước lên tiếng sau làm thực, xin thỉnh hoàng thượng ban sắc chỉ ra lệnh cho Tả Giang trấn, Cao Liêm trấn cùng Khai Hoá, Lâm An hai trấn nơi nơi chuẩn bị binh mã thuyền bè, thao luyện dương oai, đánh tiếng sắp sửa chia ra tiến đánh. Lại cho các nơi truyền hịch dụ cho trấn mục đến đầu thuận, hiệp lực giết giặc, hộ tống tự tôn trở về, lại ra lệnh cho trói Nguyễn Nhạc lại giải giao cho thiên triều, như thế thanh uy rất lớn làm cho thế giặc suy giảm.

Nếu tính theo toàn lực đất An Nam mà luận, thật không thể nào đương cự nổi bốn lộ quân của ba tỉnh chúng ta, thần ngu si cho rằng những tin tức như vậy truyền đến An Nam, những kẻ chưa theo giặc kiên định tâm chí ắt sẽ ra sức đi trước, còn kẻ đã theo giặc rồi nghe tiếng chấn động ắt sẽ trở giáo mà theo về. Nếu Lê Duy Kỳ hiện nay vẫn còn sống, thần nghĩ rằng nghịch phỉ chắc không dám làm hại để chọc giận thiên triều. Tự tôn nếu còn, ắt lòng người đi theo, phục quốc thật dễ dàng. Xin khẩn cầu hoàng thượng đặc biệt phái đại thần, thống lãnh quan binh, hộ tống quyến thuộc nước kia xuất quan, ra lệnh cho tự tôn đích thân đến biên giới đón mẹ về.


3.1.2.1. CHIÊU BÀI HƯNG DIỆT KẾ TUYỆT, TỰ TIỂU TỒN VONG 

Các bộ sử Trung Hoa khi đề cập đến chiến dịch Thanh – Việt đều nhấn mạnh vào nguyên nhân chính đáng của việc Tôn Sĩ Nghị đem quân sang nước ta. Ðó là mục tiêu “ hưng diệt kế tuyệt , tự tiểu tồn vong ” đối với họ Lê, một nghĩa vụ thiên triều nước lớn bắt buộc phải làm cho một nước nhỏ vốn là phiên thuộc của họ.

Trong bất cứ một can thiệp quân sự nào liên quan đến bên ngoài, nhất là khi tấn công một quốc gia hay dân tộc gần bên, sử Trung Hoa đều nêu lên một lý do chính đáng mà không bao giờ thú nhận những âm mưu đen tối của họ. Hệ thống tư tưởng nhân trị, phân biệt chiến tranh công chính với không công chính đã khiến họ hết sức nhấn mạnh đến vai trò “ điếu dân phạt tội ” mặc dù thực chất chỉ là một cuộc xâm lăng giành dân cướp đất.


3.1.2.2. TRUY TÌM VUA LÊ

Trong nhiều thế kỷ, người nước ta luôn luôn chỉ coi những việc tranh chấp nội bộ dù là Trịnh – Nguyễn phân tranh hay những cuộc nổi dậy trên một địa bàn lớn và kéo dài nhiều năm là việc của riêng mình, mượn tay Thanh triều để lấy lại nước cho mình là 1 điều ngoài sở liệu.

Như trên đã trình bày, ngay cả khi thân quyến và tùy tòng nhà Lê chạy được sang đất Thanh, họ chỉ xin được tị nạn một thời gian để chờ tự tôn khôi phục được nước sẽ sang đón về. Việc nương nhờ đó không nằm trong ý định cầu viện mà vì luật pháp của nhà Thanh rất nghiêm nhặt với những ai vượt biên giới vào sống bất hợp pháp ở “ nội địa ” [ đất Trung Hoa ]. Gay go hơn cả, tất cả 62 người chạy được qua đất Tàu đều không có giấy tờ chứng minh thân phận hay xuất xứ, những người tự nhận là quan nhà Lê với tước hầu, tước bá lại không có ấn tín làm bằng. Người Thanh dung chứa không trị tội hay đuổi về cũng đã là một đặc ân, nói gì được cung cấp nơi ăn chốn ở và giúp đỡ để lấy lại nước.

Thế nhưng có biết đâu một số quan lại nhà Thanh lại coi đây là cơ hội bằng vàng để lập chiến công ngõ hầu thăng quan tiến tước, rửa được cái nhục bại trận ở Miến Ðiện là vết thương lòng lúc nào cũng ray rứt vua Càn Long. Một lần nữa chiêu bài “ hưng diệt kế tuyệt, tự tiểu tồn vong ” [ dấy lên kẻ đã bị diệt, nối lại dòng đã bị đứt, nuôi nấng kẻ nhỏ làm cho mất rồi lại còn ] lại được đưa ra để can thiệp vào nước nhỏ. Ðể việc đem quân sang Ðại Việt có chính danh, Tôn Sĩ Nghị phải có được một lá thư chính thức của Lê Duy Kỳ – người nhà Lê được coi như kế thừa đích thực – lên tiếng cầu viện. Theo kế hoạch “ đập cỏ tìm rắn ”, nhà Thanh trước hết nhân danh thiên triều bảo vệ nước nhỏ gửi sang nước ta một bố cáo để đe dọa đối phương, khuyến dụ thổ mục nhưng mục đích chính là để vua Lê tự xuất hiện.


3.2.1. QUÂN THANH ÐÁP LỜI CẦU VIỆN

Trước đó Tôn Sĩ Nghị đã cho thám tử đi dò xét, đặt nhiều trạm tin tức nhưng chỉ thu lượm được những tin tức không rõ rệt về Lê Duy Kỳ. Vì thế nhà Thanh phải đưa 2 “ phái đoàn ”, một đoàn theo đường thủy Quảng Ðông [ Lê Quýnh ] , một đoàn theo đường Vân Nam [ Nguyễn Quốc Ðống, Nguyễn Ðình Mai ] về kiếm vua Lê đồng thời phát hịch hăm dọa và kêu gọi các thổ mục, quan lại dọc theo biên giới nổi lên chống lại Tây Sơn, giúp Lê Duy Kỳ lấy lại nước. Tháng Tám năm Mậu Thân [ 1788 ] , khi Lê Duy Ðản còn đang ẩn trốn thì nhận được chỉ của vua Lê sai Lan Trì Bá Vũ Trinh cho vời gặp, đồng thời ban 4 chữ ngự bút “ Tiết Khí Khả Gia ”. Ông lên gặp vua Lê, đường sá lầy lội vì mưa dầm, đi theo chỉ có một người đầy tớ, thật là gian khổ. Cũng thời gian đó, phái đoàn Lê Quýnh đi từ Khâm Châu ngày mồng 4 tháng Tám theo đường thủy đến được Tứ Kỳ ( Hải Dương ) , ngày mồng 8 tháng chín gặp vua Lê đang trốn tránh ở thôn Ngọc Lâu, Cẩm Giang.

Ðể cho xứng với một sứ bộ triều đình, vua Chiêu Thống phong cho Lê Duy Ðản tước bá [ Hương Phái Bá ] , cầm quốc thư sang Trung Hoa. Phái đoàn gồm hai người, Hương Phái Bá Lê Duy Ðản làm chánh sứ, Ðịnh Nhạc Bá Trần Danh Án làm phó sứ. Người thứ ba đi cùng là Lê Quýnh không đóng vai trò sứ thần mà làm hướng đạo và liên lạc viên.

Sắp xếp lại theo thời gian, khoảng tháng Bảy thì nhà Thanh phát hịch, đầu tháng Tám vua Lê biết tin nên một mặt cho người đi kiếm Lê Duy Ðản, một mặt viết thư cho người đem sang Trung Hoa. Cùng lúc đó Tôn Sĩ Nghị sai Lê Quýnh [ theo đường biển Quảng Ðông ] và Nguyễn Quốc Ðống [ theo đường bộ Vân Nam ] về kiếm vua Lê. Ðến mồng 8 tháng Chín, Lê Quýnh về gặp vua Lê trình bày mọi việc, thấy rằng một lá thư tay gửi Tôn Sĩ Nghị chưa đủ lễ nghi mà phải cử một phái bộ chính thức mang quốc thư sang cầu viện, nhất là không có quốc ấn [ tức ấn An Nam quốc vương mà nhà Thanh ban cho họ Lê đã bị thất lạc ] nên càng cần những người có vai vế đem đi. Vua Lê cử ngay Trần Danh Án thêm ông chú họ là Lê Duy Ðản, đều là tiến sĩ xuất thân. Trần Danh Án vốn là cận thần ở cùng với vua Lê lâu nay, còn Lê Duy Ðản là đồng tộc nên việc đi sứ cũng đồng thời đem tin nhà vì biết rằng nhà Thanh sẽ cho gặp thái hậu, vương phi để nhận diện hầu bảo đảm rằng đúng là người của vua Lê gửi sang thật.

Ngày 15 tháng Chín năm đó, Lê Quýnh đưa Lê Duy Ðản và Trần Danh Án lên đường sang Trung Hoa. Chuyến đi này được miêu tả mỗi nơi một khác nhưng truy ra đều không sát với sự thật. Ðối chiếu tài liệu của chính người trong cuộc với lời tâu của quan nhà Thanh, chúng ta có được những chi tiết khá rõ ràng khác hẳn với lối tường thuật cũa sách vở cũ. 

Một chi tiết chắc chắn là Lê Duy Kỳ gửi thư cầu viện sau khi ông nghe tin quân Thanh chuẩn bị động binh chứ không phải chính ông toan tính việc này từ trước như một số tài liệu Việt Nam miêu tả. Thế nhưng có một uẩn tình cần nêu lên như một giả thiết về những bất tương hợp của vua Lê và bầy tôi. Như trên đã nói, thân quyến vua Lê và những người chạy được sang Trung Hoa lúc đầu chỉ xin nhà Thanh cho tạm trú để chờ khi vua Chiêu Thống khôi phục lại nước sẽ cho người sang đón về. Khi nhà Thanh đưa ra ý kiến động binh giúp đỡ, thần tử nhà Lê cũng chỉ xin “ áp cảnh thanh viện ” [ đem binh đến biên giới gây sức ép ] để Tây Sơn trả lại đất cho nhà Lê, nếu không được toàn cõi thì cũng ít nhiều một mảnh đất ở vùng biên giới làm chỗ dung thân như ngày xưa nhà Lê cho nhà Mạc được tự trị.

Nói chung theo quan điểm của họ thì vua Lê và hào kiệt miền bắc vẫn đảm trách vai trò chính để đánh đuổi Tây Sơn mặc dù vẫn phải tựa lưng vào nhà Thanh để có được một khu vực hậu phương làm căn cứ. Những tính toán đó xem ra khá thực tế vì miền Bắc có rất đông các sắc dân thiểu số sống rải rác ở thượng du và núi rừng còn lưu luyến nhà Lê. Trong cả những lời khai, thư trát còn lưu lại hay hồi ký của những người tham dự, chúng ta chưa thấy một chứng cớ nào nói rằng thái hậu hay cựu thần đã thúc đẩy, cầu khẩn quân Thanh sang nước ta.

Về phía nhà Thanh, Tôn Sĩ Nghị rất chủ quan và cho rằng Nguyễn Huệ vừa nghe tin hăm dọa thì đã vội vàng “ trốn về Quảng Nam ” chỉ để lại một tì tướng giữ miền Bắc. Nếu quân Thanh tiến sang, các trấn mục sẽ nổi lên thu phục đất đai và thành công rất dễ dàng. Ðây là một cơ hội rất tốt để họ Tôn lập công với vua Càn Long làm bàn đạp tiến xa hơn trên đường hoạn lộ. Biết tính vua Càn Long thích phô trương, Tôn Sĩ Nghị ra quân rầm rộ và định dùng chiến công này làm món quà sinh nhật 80 để ông rửa mặt về thất bại ở Miến Ðiện, góp thêm một chiến thắng vào 10 võ công dự tính để hoàn thành danh hiệu “ Thập Toàn lão nhân ”.

Vua Chiêu Thống xem ra cũng đồng tình với kế hoạch này nên triệt để tán thành việc động binh, lại nghĩ rằng nếu hai mặt thủy lục của họ hợp với các cuộc nổi dậy từ bên trong thì giặc không đánh cũng tan. Ngược lại, các bầy tôi chỉ xin đem quân áp cảnh làm thế thanh viện – nghĩa là đóng binh ở gần địa giới 2 nước rồi lên tiếng dọa nạt. Quan điểm đó đã được đề cập đến trong lá thư của Nguyễn Huy Túc gửi Tôn Sĩ Nghị và cũng được nhắc lại trong chính những văn thư của nhà Thanh rằng người nước ta không có ý muốn nhờ họ đem quân sang mà chỉ lên tiếng yêu cầu Nguyễn Huệ phải giao lại toàn bộ hay một phần lãnh thổ cho họ Lê làm chỗ dung thân, thờ phụng tông miếu.

Việc Lê Duy Kỳ công khai yêu cầu quân Thanh sang nước ta trong 2 lá thư nêu trên – tuy thực chất chỉ là hợp thức hóa việc Tôn Sĩ Nghị đã và sắp làm [ và rất có thể theo yêu cầu của Tôn Sĩ Nghị như nhiều trường hợp khác, nhà Thanh muốn nước ta tự ý thỉnh cầu để họ dựa vào đó mà tiến hành cuộc viễn chinh cho danh chính ngôn thuận ] – trở thành một bản án khó gỡ, có lẽ đó cũng là mối ray rứt của ông sau này về việc đã quá tin vào quân Thanh. Tuy nhiên trong số người ủng hộ nhà Lê không phải không có những cảnh giác về mối hiểm họa Bắc xâm. Chúng ta thấy có một tiếng nói khá quyết liệt từ người sau này nổi tiếng với câu nói “ đầu có thể chặt nhưng tóc không thể cắt, da có thể lột nhưng áo không thể đổi ” , đó là Trường Phái Hầu Lê Quýnh.

Tuy không được liệt vào nhân vật chính thức trong phái đoàn sứ thần của vua Lê nhưng Lê Quýnh đã khẳng định quan điểm của mình khác với Lê Duy Kỳ và có thể vì thế sau này ông đã không vừa ý khi thấy Tôn Sĩ Nghị lấn lướt. Vua Lê cũng lệ thuộc quá nhiều vào quân Thanh, không giao cho ông nhiệm vụ xây dựng một lực lượng tự cường để hành xử một cách độc lập. Có lẽ đó cũng là lý do Lê Quýnh chép rất sơ sài về việc sang Trung Hoa lần thứ hai đi cùng sứ bộ cầu viện, rồi cả những chi tiết ở Thăng Long khi cùng với quân Thanh trở về như để gián tiếp minh xác rằng ông chỉ đóng vai bàng quan không trực tiếp liên quan đến những diễn biến này. Chính những bỏ sót cố ý khiến cho nhiều việc bị đứt quãng khiến giáo sư Hoàng Xuân Hãn khi dịch “ Bắc Hành Tùng Ký ” đã phải thắc mắc và đưa ra nhiều phỏng đoán.


PHẦN IV

TRỞ LẠI THĂNG LONG


4.1. TRỞ VỀ

Việc quân Thanh kéo sang nước ta xảy ra thật ngoài dự liệu nên hầu hết các cánh quân “ cần vương ” không nổi lên hưởng ứng như Tôn Sĩ Nghị trông đợi. Chính vua Lê đang tại đào cũng không dám vọng động vì không biết tình hình thực ra sao – và ở nơi hẻo lánh ông cũng khó có điều kiện thu lượm tin tức và e ngại những lực lượng địa phương bắt nạp cho Tây Sơn như trường hợp của chúa Trịnh ngày trước.

Theo lời tường thuật của người đem tin qua Trung Hoa, vua Lê khi đó chỉ có vài ba người tùy tòng, lang thang từ làng này sang làng khác, mỗi nơi ở vài ngày để tránh sự nhòm ngó nên nếu sơ xẩy thì chỉ cần vài tuần đinh cũng có thể bắt giữ dễ dàng. Nếu đúng như thế, sau khi Trần Danh Án đi khỏi, vua Lê xem ra không còn ai ở bên cạnh nên khi Lê Quýnh trở lại kiếm thì chỉ có hai người ra gặp Tôn Sĩ Nghị ở bờ bắc sông Nhĩ Hà. Sự việc đó cũng phủ nhận những miêu tả hư cấu về một “ triều đình lưu vong ” đem trâu bò, rượu thịt ra đón quân Thanh mà người ta vẽ ra trong Hoàng Lê Nhất Thống Chí hay Khâm Ðịnh Việt Sử.

Về việc Tôn Sĩ Nghị chiếm kinh đô, sử nước ta đồng nhất là Ngô Văn Sở đã rút đi từ trước, quân Thanh không gặp kháng cự nào nhưng để cho ra vẻ ác liệt, tổng đốc Lưỡng Quảng đã tưởng tượng và báo cáo rất hùng tráng.


4.1.1. VUA LÊ XUẤT HIỆN

Sử nước ta còn ghi chép nhiều về việc vua Lê ra đón quân Thanh khi đến Kinh Bắc.


* Khâm Ðịnh Việt Sử viết :

..... Bấy giờ nhà vua từ Phượng Nhãn đi Gia Lâm, sắm đủ trâu bò và rượu để khao quân Thanh. Ngày hôm sau, nhà vua vào kinh đô.


* Liệt Truyện viết :

Ðại Nam Chính Biên Liệt Truyện ( Nguỵ Tây ) quyển 30, trang 31b thì :

..... Tôn Sĩ Nghị đã đến Kinh-bắc. Vua Chiêu-thống ra đón tiếp quân Thanh rồi cùng một đường khởi hành đến thẳng bến sông Nhị-hà.

Quân của Tôn Sĩ Nghị trong những đồi cát bờ phía nam làm cầu nổi để thông việc qua lại.

Hôm sau Tôn Sĩ Nghị tuyên phong cho vua Chiêu-thống làm An-nam Quốc vương. Lúc ấy là ngày 21 tháng Một năm mậu-thân ( 1788 ) .


* Hoàng Lê Nhất Thống Chí miêu tả chi tiết hơn :

..... Rồi đó, vua sai Lê Duy Ðản đem thư lên ải để yết kiến Tôn Sĩ Nghị , bẩm rõ tình hình trong nước với Nghị và nói rằng :

– Tự quân vừa bị cảm hàn, không thể đi đường, xin chờ đón ở trấn thành Lạng Sơn.

Ðến khi nghe tin quân Tây Sơn rút lui, vua truyền cho các đạo quân cần vương đến nơi hành tại rồi kén lấy hạng khoẻ mạnh gồm một ngàn người sung làm quân túc vệ ở doanh vua, còn bao nhiêu thì giao cho các tướng lập thành đội ngũ, ai đem bộ thuộc của người nấy chia giữ các trấn : Trần Quang Châu lĩnh trấn Kinh Bắc, Nguyễn Ðạo lĩnh trấn Hải Dương, Hoàng Tố Nghĩa lĩnh trấn Sơn Nam, Hoàng Phùng Tứ lĩnh trấn Sơn Tây. Mọi người đều vâng mệnh đi tới lỵ sở, riêng Trần Quang Châu ở lại thành doanh bảo vệ xa giá. Châu xin dời xe vua về trấn Kinh Bắc, sửa sang thành lũy, xây dựng nhà cửa để chờ quân Thanh. Vua nghe lời. Ðoạn nhà vua lại sai bọn Bình chương Phạm Ðình Dữ, Tham tri Vũ Trinh đem thiếp thỉnh an lên đất Hoà Lạc gặp Tôn Sĩ Nghị nói rõ :

– Hiện đã phái quân chia đi kinh lược bốn trấn ở ngoài đô thành, lùng bắt bọn giặc lẻn trốn ở các nơi. Xin đưa một số thổ sản nhỏ mọn là mười con trâu, một trăm vò rượu làm lễ khao quân, ngước trông thu nhận cho.

Vua lại truyền phải sức cho các kỳ lão và các xã dân mấy huyện ven đường sửa soạn đón rước quân Thanh. Ðại quân của Sĩ Nghị đi sang phương Nam dọc đường đều thuận lợi thông suốt ..... Mới thấy Vũ Trinh, y liền nói :

– Lúc đại binh qua cửa ải, trước hết đã có đưa hịch sang bá cáo, quân giặc sợ hãi đã ôm đầu chạy trốn. Nghĩ rằng thần dân bên ấy ai lại không phấn chấn nổi dậy ? Dựa vào oai trời mà lo giết giặc nước, chẳng mấy chốc sẽ có thể thành công, sao cứ một mực nhu nhược để chúng được chạy trốn một cách rảnh rang ?

..... Lúc Nghị tới trấn Kinh Bắc, vua Lê tự đem các quan đến chào, Nghị yên ủi rằng :

– Quí tự mắc phải nạn lớn đã nhiều năm, nhờ đức Ðại Hoàng đế thương xót, sai bản chức đem quân hộ tống mẹ và vợ ngài về trước. Chuyến này sang đây giúp việc kinh lý trước hết cần bắt cho hết đảng giặc, sau chỉnh đốn qui mô làm kế lâu dài, bao người mọi việc đều muôn ngàn lần ổn thoả bấy giờ mới rút quân, xin chớ lo gì về việc nước nữa.

Vua Lê nói :

– Ðội ơn Ðại Hoàng đế đức cả như trời không sao hình dung được cho hết. Lại nhờ cụ lớn hạ mình tới đây khiến cho nước chúng tôi được thấy ánh sáng của áo cừu, đai ngọc, được thoả lòng ngửa trông sao Bắc Ðẩu, núi Thái Sơn. Mối tình vui mừng kính mến không sao kể xiết !

Rồi nhà vua mời Nghị vào dinh nghỉ tạm. Nghị nói :

– Ðây cách quốc thành không xa, cần đi ngay, không nên dùng dằng.

Nghị liền sai bắn chín phát súng và nghiêm chỉnh đội ngũ mà đi.

Chập tối đến bờ bắc sông Nhĩ Hà, vua Lê xin qua sông vào Kinh thành trước rồi sai sắm sửa giường màn ở điện Kính Thiên, mời Nghị vào ở. Nghị không ưng nói :

– Chỗ ấy không phải là hoành danh ( doanh ? ) của Ðại tướng, đối với việc quân có nhiều điều bất tiện.

Ðoạn Nghị truyền lệnh chia quân đóng ở nơi quang đãng trong hai bãi cát phía bờ nam và bờ bắc sông Nhĩ Hà, lại sai bắc cầu phao trên mặt sông để tiện đi lại. Hôm ấy nhằm ngày 11 tháng Chạp năm Mậu Thân ( 1788 ).

Hôm sau vua thân hành đến chờ đón ở doanh của Nghị. Nghị sai người bày biện nghi trượng rất long trọng ở điện Kính Thiên rồi truyền cho trăm quan tới hầu. Vua Lê đội mũ miện, mặc áo cổn quì ở giữa sân. Nghị dẫn bọn liêu thuộc đến rồi tuyên đọc tờ sắc của Hoàng đế nhà Thanh phong cho vua Lê làm An Nam quốc vương. Trong tờ chế phong vương đại lược nói rằng :

“ Chia ra cõi bờ mười ba đạo, không phải tham gì đất đai này ; đã lo chức cống ba trăm năm há chẳng nghĩ đến tổ tông trước ? ”.....

Xong lễ thụ phong, vua theo lệ thảo tờ biểu tạ ơn, xa trông cửa khuyết mà lạy tạ rồi nhờ Nghị cho đệ tờ biểu đi. Nghị nhận lời. Tuy vua Lê đã được phong Vương nhưng giấy tờ đưa đi các nơi đều dùng niên hiệu Càn Long, vì có Nghị ở đây nên không dám dùng niên hiệu Chiêu Thống. Ngày ngày sau các buổi chầu, vua lại tới chờ ở doanh của Nghị để nghe truyền việc quân việc nước. Vua cưỡi ngựa đi trước, Lê Quýnh cưỡi ngựa đi sau, quân lính hộ vệ chỉ vài chục người. Người trong Kinh có kẻ không biết là vua, hoặc có người biết thì họ nói riêng với nhau rằng :

– Nước Nam ta từ khi có đế, có vương tới nay chưa thấy có ông vua nào luồn cúi đê hèn như thế. Tiếng là làm vua nhưng niên hiệu viết là Càn Long, việc gì cũng do viên Tổng đốc, có khác gì phụ thuộc vào Trung quốc ?


Ðối chiếu chi tiết theo sử triều Nguyễn và Hoàng Lê Nhất Thống Chí, chúng ta thấy dường như nếu không chép của nhau thì hai bên cũng ảnh hưởng qua lại rất nhiều. Ðiều đáng nói là những chi tiết đó lại không chính xác và là đầu mối các sử gia dựa vào để phê phán thái độ của Lê Duy Kỳ. Cứ như những đoạn sử vừa nêu, người ta có cảm tưởng rằng vua Lê khi ấy đã có sẵn một triều đình với đầy đủ nghi vệ chuẩn bị sẵn sàng trâu bò, rượu thịt ra thết đãi tiếp đón đoàn quân viễn chinh rồi ung dung vào “ tiếp thu ” kinh đô. Sự việc xảy ra không đúng như vậy nếu không nói rằng hoàn toàn khác hẳn.


4.1.2. THỰC TẾ THEO CÁC NHÂN CHỨNG

Khi quân Thanh tiến sang nước ta, các cánh quân của Tây Sơn trấn đóng dọc từ Lạng Sơn xuống Thăng Long chỉ kháng cự rất yếu, một phần lực lượng đồn trú tại những vị trí nút chặn không đông, phần vì Ngô Văn Sở không muốn dốc toàn lực quân của miền Bắc lên nghinh địch, e ngại sẽ bị tấn công từ phía nam, cắt đứt đường về rất nguy hiểm. Chính vì thế các tướng Tây Sơn chủ trương rút lui bảo tồn lực lượng để chờ quyết định của Nguyễn Huệ. Việc rút lui đó rất êm thắm như thói quen của họ, bỏ lại kinh đô Thăng Long, triều đình ọp ẹp do Lê Duy Cận “ giám quốc ”. Triều đình này chỉ bao gồm một số quan văn cựu trào và các tông thất, chẳng có quân đội kho đụn nên khi quân Thanh đến, ngoảnh lại quân Tây Sơn đã bỏ đi thì họ chỉ còn nước mở cửa thành “ ra hàng ” gánh chịu sự xỉ vả và trừng phạt.

Còn vua Chiêu Thống, cho đến khi Tôn Sĩ Nghị sắp sửa vào đến Thăng Long thì cũng chưa ai biết ông đang ở đâu. Khi khởi đầu âm mưu can thiệp vào nước ta, Tôn Sĩ Nghị đã mập mờ tâu lên vua Càn Long về công tác chính yếu của việc xuất quân là đánh đuổi một đám cường khấu từ Quảng Nam ra chiếm An Nam để đưa Lê Duy Kỳ phục vị. Với tình thế đáng lạc quan [ phần lớn đất đai còn chưa theo giặc, các lộ cần vương đang ở khắp nơi, đầu mục Tây Sơn đang có tranh chấp chỉ để lại miền Bắc một lực lượng nhỏ ..... ] , vua Cao Tông cũng tin rằng kế hoạch có thể thực hiện dễ dàng và một khi quân Thanh sang khỏi Nam Quan thì vua Lê sẽ xuất hiện để cùng về Thăng Long.

Chỉ đến khi thực tế không đáng phấn khởi như dự tính, vua Lê vẫn thất tung thì Tôn Sĩ Nghị mới chột dạ, sai các cựu thần đi tìm để việc lấy lại kinh đô danh chính ngôn thuận. Chính vì không có vua Lê trong đoàn quân viễn chinh nên các nơi đều án binh bất động, không một lực lượng người Việt nào lên tiếng ủng hộ ngoài một số thôn xã dân tộc thiểu số dọc theo đường đi và những nơi hẻo lánh gần biên giới.

Cũng may là quân Tây Sơn không luyến chiến nên chỉ phòng thủ cầm chừng, vừa đánh vừa rút để cho đại quân ở Thăng Long có thì giờ chuẩn bị, do đó quân Thanh tiến đến đâu thắng lợi tới đó, mỗi ngày trung bình đi được hơn 30 dặm, có thể nói là không gặp kháng cự nào và những miêu tả, báo cáo về những trận Tam Dị , Trụ Hữu ..... chỉ là ngoa ngôn, phóng đại. Có trận Thị Cầu tương đối ác liệt một chút nhưng cũng không đáng kể.


4.1.2.1 Tôn Sĩ Nghị

Các chi tiết của chính tổng đốc Tôn Sĩ Nghị báo cáo về triều đình phải được xem là chính xác mặc dù có thể ông ta thay đổi một số chi tiết để cho hợp ý vua Càn Long. Điều quan trọng nhất là khi đến Thăng Long, trong tay họ Tôn đã cầm sẵn sắc thư và quả ấn An Nam Quốc Vương nên rất nóng ruột khi Lê Quýnh đi tìm vua Lê mà chưa thấy quay về. Ngày 20 tháng Một [ 17 - 12 - 1788 ] , Tôn Sĩ Nghị báo cáo lên vua Thanh về chiến công chiếm được Thăng Long và vào thành tiếp thu các dinh thự, truyền hịch cho dân chúng biết. Vì tình hình chưa biết thế nào, họ Tôn ngại việc đóng quân trong thành có thể bị tập kích hay bao vây nên sau khi thám sát, y ra lệnh cho quân Thanh đóng ở bờ sông và cồn cát bên ngoài. Đến tối hôm đó, lúc canh hai, Lê Quýnh và Lê Duy Kỳ mới đến được quân doanh vào yết kiến Tôn Sĩ Nghị.


4.1.2.2 Lê Duy Ðản

Theo Sứ Diêu Hành Trạng là tập thơ Lê Duy Ðản ghi lại chuyến đi sứ sang Trung Hoa cầu viện [ 7 ] thì khi quân Thanh đến bờ phía bắc sông Phú Lương, quân Tây Sơn đã bỏ đi nên Tôn Sĩ Nghị và Hứa Thế Hanh vào thu phục kinh thành. Kế đó [ Lê Duy Ðản ] theo hầu nhà vua đến điện Vạn Thọ làm lễ sách phong. Ông không nói rõ vua Lê đến lúc nào nhưng ngay trước đó khi quân Thanh qua sông Thị Cầu thì chưa nói tới tự hoàng nên chúng ta có thể biết được vua Lê gặp Tôn Sĩ Nghị khi quân Thanh đã lấy được Thăng Long đúng như lời kể của Lê Quýnh.


4.1.2.3. Lê Quýnh

Theo Bắc Hành Lược Ký là tài liệu do chính Lê Quýnh kể lại về cuộc đời lưu lạc của mình chép : ..... Khi đại quân đến núi Tam Tằng [ 三層 ] , Lê Đản đưa kế đó lên, Tôn đại nhân nghe theo, ngày 20 tiến quân phá được doanh Thị Cầu, đuổi theo đến tận phía bắc sông Phú Lương [ 富梁 ] , quân Tây Sơn bỏ thành mà chạy. Ngày 21, vương tự tôn yết kiến Tôn đại nhân ở bờ sông phía bắc. Ngày 22 lấy lại được Lê thành. Nghe tin báo thắng trận, tháng Chạp, Thanh triều ban xuống sắc ấn phong tự tôn làm An Nam quốc vương, ban cho Lê Quýnh chỏm mũ và đai chức tổng binh. Tháng đó, Lê vương ra lệnh cho Lê Quýnh lo việc binh hướng để đến hạn kỳ thì đuổi theo tiễu giặc, thế nhưng Tôn đại nhân [ Tôn Sĩ Nghị ] ngả theo lời bàn kêu gọi địch trở về, ép quốc vương đuổi theo thu lại kiếm ấn và đổi thành chức bình chương sự.

Vừa khi đó Lê Quýnh bị sốt rét nặng [ 瘧疾 ] nên xin nghỉ về nhà chữa bệnh ......

Tuy không nhiều chi tiết nhưng những miêu tả của Lê Quýnh tương đối ăn khớp với những báo cáo của Tôn Sĩ Nghị về diễn biến của chiến dịch. Lê Quýnh xác nhận là Lê Duy Kỳ chỉ ra gặp Tôn Sĩ Nghị khi quân Thanh đã tới Thăng Long. Tuy có một chút chênh lệch về thời gian nhưng chúng ta tin rằng ngày tháng trên các tờ biểu của Tôn Sĩ Nghị chắc phải chính xác vì được viết ra ngay khi mặt trận còn đang tiếp diễn, không có lý do gì để phải điều chỉnh, còn những điều Lê Quýnh viết là hồi ức sau khi ông đã lui về sống ẩn dật lúc cuối cuộc đời. Ðối chiếu với 2 loại tài liệu thì việc Hoàng Lê Nhất Thống Chí miêu tả triều đình Lê Chiêu Thống đón rước, phục vụ và lệ thuộc vào Tôn Sĩ Nghị khi viên tổng đốc Lưỡng Quảng từ Kinh Bắc tới Thăng Long là hoàn toàn tưởng tượng, chính vì thế chúng ta có thể loại trừ tất cả những chi tiết về phân bố lực lượng, bài trí nghi vệ, khao thưởng quân Thanh ..... như cuốn tiểu thuyết lịch sử này đã miêu tả.

Một cách sơ lược, khi quân Thanh tới bờ phía bắc sông Nhĩ Hà thì quân Tây Sơn đã bỏ đi để lại một thành trống với triều đình Lê Duy Cẩn. Sáng ngày 20 tháng Một, Tôn Sĩ Nghị tiếp thu kinh thành rồi cho đóng quân ở hai bên bờ sông. Canh hai tối 20 tháng Một, Lê Duy Kỳ và Lê Quýnh đến gặp Tôn Sĩ Nghị tại quân doanh.



4.2. TRIỀU ÐÌNH NHÀ LÊ TẠI THĂNG LONG


4.2.1. PHONG VƯƠNG

Ngày hôm sau, 21 tháng Một, vua Lê vào nhận lại kinh thành rồi cả ngày hôm đó triều đình bận rộn việc sắp xếp lễ nghi, chuẩn bị điện Vạn Thọ là cung cũ của vua Hiển Tông để hôm sau, ngày 22 tháng Một năm Mậu Thân ( 1788 ), Tôn Sĩ Nghị vào làm lễ phong vương, tuyên đọc tờ sắc .


4.2.2. TỔ CHỨC VÀ CAI TRỊ

4.2.2.1. XỬ SỰ CỦA LÊ DUY KỲ

Khi quân Tây Sơn ra chiếm Thăng Long, vì chưa đủ điều kiện để phế bỏ triều đình vua Lê, họ vẫn giữ trên hình thức một tổ chức hành chánh rập theo khuôn khổ của miền Bắc. Một số chức vụ được điền khuyết, có lẽ chỉ để làm việc như một công chức [ nếu không nói quá một chút là một người chạy việc ] , còn thực sự quyền hành, tiền bạc, kho lẫm ..... vẫn nằm trong tay của các tướng lãnh Tây Sơn và thổ hào. Những danh vị khá kêu như công, hầu, thượng thư ..... thực chất chỉ là những danh hàm không có thực quyền – và có thể cũng chẳng có lương bổng. Triều đình hữu danh vô thực này đã run sợ ra hàng ngay khi quân Thanh kéo đến, tạo ảo tưởng cho Tôn Sĩ Nghị và quân Thanh về sức mạnh của họ.

Sau đó tuỳ theo tội danh “ cộng tác với địch ”, những người giữ chức vụ trong hệ thống hành chánh “ ảo ” này phải chịu sự xử phạt của Lê Duy Kỳ khi ông trở về. Việc ra oai không khỏi gây hoang mang nhất là nhiều kẻ mượn gió bẻ măng, lợi dụng thời cơ để đền ơn trả oán.

..... Nhà vua đã khôi phục được nước, bèn hạ lệnh thăng chức cho bầy tôi đi hộ giá :

o Phạm Ðình Dữ lên bình chương sự, thượng thư bộ Lại.

o Lê Duy Ðản và Vũ Trinh lên tham tri chính sự.

o Nguyễn Ðình Giản lên thượng thư bộ Binh, tri Xu mật viện sự.

o Trần Danh Án, lên phó đô ngự sử.

o Lê Quýnh lên Trung quân đô đốc, tước Trường phái hầu. Ngoài ra đều được thăng chức có cao thấp khác nhau.


Liền đó nhà vua sai trị tội những người hàng giặc :

o Ngô ( Thì ) Nhậm và Phan Huy Ích đều truất về làm dân.

o Nguyễn Hoãn bị bãi mất tước Quận công.

o Phan Lê Phiên bị giáng xuống Ðông Các học sĩ.

o Mai Thế Uông bị giáng xuống Tư huấn.


Xét những hình thức trừng phạt này [ ngoại trừ việc bắt và giết những kẻ đã trực tiếp nhúng tay vào việc truy sát hoàng đệ Lê Duy Lứu và đuổi bắt vua Lê là Phạm Như Tụy và Dương Bành ] thì không có gì tàn nhẫn. Còn việc ba hoàng thân nhà Lê bị giết bỏ xuống giếng là một biến cố xảy ra khi có sự tranh giành quyền bính thời Nguyễn Hữu Chỉnh [ giữa năm Ðinh Mùi, 1787 ] không ai biết rõ như thế nào.

Ba nhà khoa bảng cựu triều bị phạt nặng hơn cả là Ngô Thì Nhậm, Phan Huy Ích và Nguyễn Hoãn có lẽ vì đã cùng đứng tên với 72 người khác [ trong danh sách 75 người ] ký tên suy tôn Nguyễn Huệ [ Quang Bình ] lên làm vua mà Lê Duy Ðản khi sang sứ đã đọc và sao lại. Ngô Thì Nhậm và Phan Huy Ích bị truất về làm dân đồng nghĩa với việc bị tước danh tiến sĩ, còn Nguyễn Hoãn [ có lẽ vì làm quan lâu năm, mang danh quốc lão ] chỉ bị cách chức mà thôi. Riêng Lê Duy Cẩn bị quản thúc và Tôn Sĩ Nghị có ý đày biệt xứ về Trung Hoa nhưng vua Chiêu Thống cố xin cho ở lại, lấy cớ ông ta là người đần độn chẳng có gì đáng ngại.


4.2.2.2. VAI TRÒ CỦA LÊ QUÝNH

Vai trò của Lê Quýnh trong suốt giai đoạn từ khi theo chân quân Thanh trở về cho đến khi vua Lê phải chạy sang Tàu nương náu chính là chìa khoá để gỡ tất cả mọi oan khiên cho ông vua cuối cùng của nhà Lê. Một điều đáng nói, những gì Lê Quýnh kể lại hoàn toàn khác với miêu tả trong Hoàng Lê Nhất Thống Chí. Vì ông không có mặt trong những biến cố ấy thành thử những sự việc Hoàng Lê Nhất Thống Chí viết về Lê Quýnh chỉ là bịa đặt, có thể mới được thêm vào sau này để câu chuyện thêm mặn mòi. Từ chuyện nọ suy sang chuyện kia, chúng ta thấy rằng những việc khác cũng chẳng có cơ sở nào cả.

Khi thấy rằng thực lực của vua Lê chỉ là một con số không – chẳng phải vì Lê Duy Kỳ bất tài nhưng vì tình thế tạo nên – Tôn Sĩ Nghị phải mập mờ phô trương bằng cách giao cho hoàng đệ Lê Duy Chỉ chỉ huy những thổ binh ở biên giới đi theo quân Thanh. Ông ta cũng đem một số khí giới thu được của Tây Sơn trang bị cho họ nhưng triều đình vua Lê phải đảm trách việc nuôi đoàn quân này. Việc nuôi ăn và bố trí hàng nghìn người ở một thành phố hoang tàn không phải dễ, dẫn đến việc dân chúng ta thán về việc thu góp lương thực để cho giặc, nhất là miền bắc mấy năm trước bị hạn hán mùa màng thất bát, đói khổ. Thực ra quân Thanh có hệ thống tiếp vận riêng, không đến nỗi phải trông vào vua Lê như chúng ta thường nghĩ và nếu có những thúc ép để cung ứng thóc gạo thì để cho chính triều đình nhà Lê. Ghi nhận của một số giáo sĩ Tây phương có mặt tại Bắc Hà thời đó cũng minh xác điểm này.

Ở bên ngoài, các cánh quân địa phương vẫn hoạt động hoàn toàn độc lập, tiếng là quận công, hầu bá nhưng chỉ là danh hàm, vua Lê không có thực quyền điều động, ra lệnh cũng chẳng ai nghe. Khi cần một số nhân sự, tài vật dùng vào những công tác trước mắt, vua Chiêu Thống đành bó tay. Ông không có người để đóng chiến thuyền hay có tiền để mua các loại vật liệu, trang bị theo đòi hỏi của Tôn Sĩ Nghị. Một chi tiết cũng đáng chú ý là sự bất đồng giữa các lực lượng thân nhà Lê và Tôn Sĩ Nghị được ghi lại trong nhiều tài liệu. Trong khi nhóm cần vương muốn thừa thế tiến lên khôi phục những vùng đất cũ thì họ Tôn lại thờ ơ [ lấy cớ là sắp Tết cần cho binh sĩ nghỉ ngơi ] tạo cơ hội cho Nguyễn Huệ kéo quân ra tấn công trong dịp đầu năm.

Thực ra vua tôi Lê Duy Kỳ đã không biết một biến chuyển quan trọng. Sau khi nghe báo cáo về những khó khăn thực tế và tính toán chi phí cho việc chuyển quân từ Thăng Long đến Phú Xuân, vua Càn Long thấy rằng kế hoạch đánh vào Thuận Hoá để bắt sống Nguyễn Huệ sẽ rất tốn kém và dễ dàng bị sa lầy như đã điều binh tiến sâu vào Miến Ðiện trước đây. Ông ra lệnh cho Tôn Sĩ Nghị triệt thoái, lấy cớ là mục tiêu đưa Lê Duy Kỳ trở lại ngai vàng đã hoàn tất. Lệnh triệt binh đó không những đi ngược với mong đợi của vua Lê mà cũng làm hỏng chủ đích của Tôn Sĩ Nghị muốn lập đại công, dùng chiến dịch Việt – Thanh như một nấc thang để thăng tiến trên hoạn lộ. Họ Tôn cũng biết rằng Lê Duy Kỳ và triều đình nhà Lê không có thực lực, nếu rút quân về sẽ để trống miền Bắc lại cho đối phương và công lao của ông ta trong mấy tháng qua sẽ trở thành vô ích.

Do đó Tôn Sĩ Nghị muốn tìm một giải pháp trung dung để có lý do đóng quân thêm một thời gian. Lấy cớ để cho binh sĩ ăn Tết, họ Tôn truyền hịch đe dọa ra Giêng sẽ đánh vào Thuận Hóa “ đảo huyệt cầm cừ ” [ đánh vào sào huyệt để bắt đầu sỏ ] mong Nguyễn Huệ run sợ mà dâng biểu xin hàng. Trong khi chờ đợi kết quả, Tôn Sĩ Nghị tìm cách kiềm chế các lực lượng cần vương đưa đến việc yêu cầu vua Lê thu hồi chiếc ấn của Lê Quýnh, không còn lo việc binh lương mà làm bình chương sự lo việc bộ hộ, bộ binh.

Cũng vì quá khinh địch, khi Nguyễn Huệ gửi mấy tờ biểu giả vờ xin hàng để ngụy trang cho việc kéo quân ra bắc, Tôn Sĩ Nghị tưởng là Huệ sợ mình thật nên đã ậm ọe trả lời bảo “ Huệ phải rút quân về Thuận Hóa để chờ nghe xét xử, không được liều lĩnh làm càn mà chuốc lấy tội ”. Sự thay đổi trong kế hoạch của nhà Thanh khiến Lê Quýnh nghĩ rằng nhà vua không còn tin dùng ông nữa, còn người ngoài thì tưởng rằng Lê Duy Kỳ chỉ lo “ đền ơn báo oán ”, không lo đến chuyện đại sự. Theo lời tâu của Tôn Sĩ Nghị ngày mồng 3 tháng Giêng năm Càn Long thứ 55 ( 1790 ) [ lúc này ông đã đổi sang làm tổng đốc Tứ Xuyên ] thì :

“ Năm trước, Lê Quýnh đưa mẹ và vợ Lê Duy Kỳ đến gõ cửa quan cầu cứu. Thần [ Tôn Sĩ Nghị tự xưng ] đến biên ải Việt Tây [ tức biên giới tỉnh Quảng Tây ] xem xét cựu thần nhà Lê, chỉ thấy Lê Quýnh ngôn từ, cử động có vẻ khí khái, xem ra nhanh nhẹn tháo vát nên đã sai đi theo đường Quảng Ðông về nước tìm chủ. Thần cũng tuân theo thánh ân cấp cho Lê Quýnh tiền bạc phí tổn nên khi gặp Lê Duy Kỳ rồi trở qua báo tin liền cho y theo làm hướng đạo. Về sau không thấy Lê Duy Kỳ đâu nên thần đã sai y đi tìm, mãi đến khi thần tiễu sát qua sông, khắc phục Lê thành [ tức thành Thăng Long ] rồi, Lê Quýnh lúc bấy giờ mới cùng Lê Duy Kỳ đến quân doanh.

Nguyên do là vì bọn họ dò thám thấy quân địch đóng ở các sông Thọ Xương, Thị Cầu, Phú Lương thế mạnh, nghĩ rằng quan binh không thể thắng nổi nên không dám ra. Thần biết ngay bọn Lê Quýnh trước đây qua cửa ải, nói khoác rằng ở xứ này nghĩa sĩ tụ tập, một khi đại binh đến nơi sẽ đứng lên tiếp tay đánh giặc là điều không thực. Thần đóng binh ở bờ sông Lê thành, Lê Quýnh lúc đầu có đi theo Lê Duy Kỳ đến yết kiến mấy lần, sau đó mất tăm không thấy nữa. Thần mới hỏi Lê Duy Kỳ thì nghe nói Lê Quýnh bị sốt rét nặng, hiện đang ngoạ bệnh.

Thần nghĩ lúc này Lê thành mới khôi phục, quân giặc chưa trừ xong, đâu phải là lúc lặng thinh chữa trị nên mới truyền cho y đến bờ sông, trách mắng các ngươi khi còn ở nội địa [ tức ở Trung Hoa ] từng bẩm là một khi đại binh xuất quan, người trong nước sẽ vân tập hưởng ứng, thế mà mấy lần cùng giặc huyết chiến, nào có thấy các ngươi tụ tập nghĩa dũng để trợ thanh uy đâu ? Ðến bây giờ lại cáo ốm không ra đủ biết các ngươi không chút thiên lương, phụ lòng đại hoàng đế giúp cho sự mất còn của kẻ yếu. Thần nặng lời mắng mỏ, Lê Quýnh phục xuống đất dạ dạ khăng khăng nói là quả thực bị bệnh. Thần lại gặng hỏi kỹ càng, Lê Quýnh [ ngươi ] tuy có ốm thật nhưng [ có phải ] vì Lê Duy Kỳ được nước rồi lại không hết lòng uỷ nhiệm nên mới thoái thác ?

Thần xem y tính khí không biết đại thể, lòng dạ bạc bẽo. Lại nghe Lê Duy Kỳ ở kinh thành tru lục mấy kẻ bạn thần là do mấy kẻ tuỳ tòng như bọn Lê Quýnh bên cạnh xúi biểu nên lập tức ngăn Lê Duy Kỳ không cho làm nữa. Lại viết một bài dụ mấy trăm câu chỉ cho y biết lúc này cần phải đối xử khoan dung, thu phục nhân tâm để an lòng kẻ phản trắc, tuyệt đối không được toan tính chuyện trả thù khiến cho lòng dân phản bạn, thân thích chia lìa.

Lê Duy Kỳ vâng lời, cầm tờ dụ của thần viết đi ra. ”

Những lời trên đây của Tôn Sĩ Nghị được viết ra hơn một năm sau, tuy có thể phần nào sự thực nhưng vào lúc Tôn Sĩ Nghị và Phúc Khang An đang xúc xiểm hạ uy tín của Lê Quýnh. Ở thời điểm đó Lê Quýnh là người cương quyết không chịu khuất phục, gióc tóc thay áo theo ý vua quan nhà Thanh, Nguyễn Huệ [ Quang Bình ] lại đang trên đường tới kinh đô triều cận nên hai người tìm cách xúi giục vua Càn Long ghét bỏ mà đem Lê Quýnh đi an trí thật xa.

Một điều chắc chắn là khi vua Lê ở Thăng Long, Lê Quýnh bị sốt rét chữa mãi không khỏi nên về quê dưỡng bệnh. Khi kinh đô thất thủ Tôn Sĩ Nghị chạy về Tàu, vua Lê và một số tuỳ tòng chạy theo thì không có mặt Lê Quýnh. Về việc này giáo sư Hoàng Xuân Hãn đã nhận xét như sau :

..... Hoàng Lê Nhất Thống Chí lại chép rằng sau khi Sĩ-Nghị chạy, “ Vua Chiêu-thống đương ở trong điện tiếp được tin báo, ngài kíp cùng bọn Lê Quýnh, Trịnh Hiến rước Thái-hậu chạy. Trưa ngày mồng 6, vua Chiêu-thống đến núi Tam-tầng ..... Vua và Thái-hậu cùng đi, đến đồn Hoà-lạc vừa gặp một người thổ hào ..... Người ấy bèn đi giết gà làm cơm thết đãi. Vua mời Thái-hậu và bảo bọn Quýnh cùng ăn ..... Vừa tối thì đến ải. Sĩ-Nghị cũng đã đóng quân ở đó ..... Vua để bọn Quýnh ở lại, bảo họ lẻn về trong nước chiêu dụ những người trung nghĩa ..... ” 

Theo lời chép ấy thì Quýnh cùng chạy với vua và Thái-hậu, từ cung ở Thăng-long cho đến Nam-quan khi nào cũng không rời. Nếu thật thì không lẽ gì Quýnh lại không chép sự ấy, nhất là chuyện vua bảo trở lại mang trọng trách chiêu dụ hào kiệt. Trái lại sau đây ta sẽ thấy Quýnh chép rằng khi Thăng-long mất, Quýnh nằm bệnh ở quê nhà cho nên không biết chuyện ấy. Ai chép đúng sự thật ? Ðiểm nầy theo lý thì chắc rằng Quýnh, vì đang thời nhiều người còn biết chuyện mình rõ ràng, không lẽ Quýnh nhớ sai hoặc cố ý chép sai một việc quan trọng như vậy, nhất là cái việc ấy không làm tổn danh giá mình.


4.2.3. XUẤT BÔN SANG TRUNG HOA

Trong ngày Tết năm Kỷ Dậu [ 1789 ], vua Quang Trung tiến quân ra Bắc đánh tan đoàn quân ngoại nhập, Tôn Sĩ Nghị phải vượt sông chạy về Quảng Tây. Các tướng Hứa Thế Hanh, Thượng Duy Thăng, Trương Triều Long ..... đều tử trận. Theo tấu thư của Tôn Sĩ Nghị, ngày mồng 9 tháng Giêng ông ta chạy được đến Nam Quan nhưng chưa thấy Lê Duy Kỳ đâu cả, chứng tỏ vua Lê thấy Tôn Sĩ Nghị bỏ chạy nên cũng vội vã thu xếp chạy theo nhưng không đi cùng với họ Tôn. Lịch Triều Tạp Kỷ chép :

 .....Trước đó quân của Sĩ Nghị thua trận vội vã tháo chạy, vua Chiêu Thống cũng cưỡi ngựa vượt sông và chạy về Bắc với Sĩ Nghị. Bề tôi của vua chỉ có Nguyễn Viết Triệu cầm cương theo hầu, còn thì đều ở lại bờ sông. Vua Chiêu Thống ngầm sai bề tôi tin cậy là Hoàng Ích Hiểu cấp tốc quay về trong điện cùng với hoàng đệ Lê Duy Chi [ Chỉ ] đưa mẹ con và phi tần của vua ra sông Nhị Hà, vội vàng vượt sông tìm đường đi gấp để đuổi kịp vua. Nhưng cầu phao bắc qua sông Nhị Hà đã bị đứt, không ai qua được sông, Chi liền trốn lên miền Tây.

Theo báo cáo của tuần phủ Quảng Tây Tôn Vĩnh Thanh :

“ Ngày mồng bảy tháng Giêng lúc giờ thân, đồng tri Minh Giang, uỷ viên Trấn Nam Quan là Phan Chung Liêm khai rằng : Bên ngoài cửa quan có An Nam quốc vương Lê Duy Kỳ gõ cửa xin được thâu nạp. Thần liền ra lệnh cho mở cửa quan để tiếp kiến. Cứ như lời dịch của thông sự, Lê Duy Kỳ được hưởng thiên ân lấy lại nước, được kế thừa ngôi vua và phong hiệu, thật chẳng khác gì tái tạo. Thế nhưng Nguyễn Huệ ôm hận rất sâu, ắt sẽ giết để báo thù, tuy quan binh hiện đang hết sức tiễu trừ, bọn chúng chưa thể tiến vào kinh thành được nhưng trong bụng hết sức sợ hãi đã dắt mẹ, vợ con chạy trước, trên đường bôn tẩu lại lạc mất mẹ và vợ, nay xin được thu nhập vào quan ải. ”

Về thời điểm, tài liệu của Thanh triều không ăn khớp với nhau. Sau khi qua khỏi Nam Quan trở về Quảng Tây ngày mồng 9 tháng Giêng, Tôn Sĩ Nghị báo cáo là cho người đi kiếm Lê Duy Kỳ :

“ Còn như Lê Duy Kỳ thật là vô năng, có mất cũng không có gì đáng tiếc. Có điều y đã được hưởng ân huệ của hoàng thượng, không nên để cho Nguyễn Huệ bắt được thoả dạ. Thần đã sai người đến các vùng Lạng Sơn, Nam Quan tìm hỏi xem mẹ con Lê Duy Kỳ hiện như thế nào, tạm thời đưa về Trung Hoa cho khỏi chết. ”

Như vậy ít ra đến ngày mồng 9 tháng Giêng, Tôn Sĩ Nghị vẫn còn chưa biết Lê Duy Kỳ có chạy được hay không ? Mấy hôm sau, Tôn Vĩnh Thanh [ tuần phủ Quảng Tây ] lại báo cáo là Lê Duy Kỳ đã nhập quan ngày mồng 7 tháng Giêng, rõ ràng có điều man trá sau khi đã hội ý với Tôn Sĩ Nghị , cố tình ngụy tạo chi tiết để nói dối vua Thanh. Tôn Vĩnh Thanh là thuộc cấp của Tôn Sĩ Nghị , lẽ nào việc Lê Duy Kỳ chạy sang Trung Hoa lại không báo cáo lên thượng cấp ? Vả lại nếu Lê Duy Kỳ đã chạy sang từ mồng 7 thì quân giữ ải biết ông là ai mà cho ông qua ?

Xem lại, chính Tôn Sĩ Nghị và Tôn Vĩnh Thanh đã đồng mưu để vu cáo rằng Lê Duy Kỳ sợ bị Nguyễn Huệ giết nên bỏ chạy trước làm loạn lòng quân khiến cho thất trận ngõ hầu làm nhẹ tội mình. Các chi tiết này cho đến nay vẫn được các sách vở Trung Hoa lập lại một cách máy móc , còn quan nhà Thanh thì mập mờ nói rằng vua Lê chạy từ ngày mồng 4 tháng Giêng [ nghĩa là trước khi quân Tây Sơn kéo đến ] cho phù hợp với những chi tiết khác mà họ ngụy tạo ra.

Sử nước ta chép rằng khi vua Lê gặp Tôn Sĩ Nghị, ông nói :

- Tôi làm mất xã tắc, nhục nhã nhờ Tôn đại nhân sang cứu, xiết bao cảm khích. Nay ngài bỏ đi không dám nài xin nữa, cúi xin trở về triều được mọi điều may mắn. Tôi xin trở lại đất nước tôi thu thập dân, lính để lo một phen nữa. Nếu may mà thành công được thì đó là do quan thượng hiến giúp cho, nếu chẳng thành công thì lại theo xe thượng hiến để chờ xin che chở.

Lê Quí Dật Sử chép :

“ Vua Chiêu Thống tới trấn Nam Quan, bề tôi mới lục tục kéo đến. Vua từ tạ Sĩ Nghị rằng : Xã tắc bị mất, được ngài thương yêu, vâng lệnh đến cứu viện, thật là cảm kích vô hạn. Nay ngài lại bỏ đi, chưa dám nghĩ bao giờ lại được gặp. Cúi mong ngài về triều được hai chữ “ vạn phúc ”. Cô nguyện trở lại đất nước thu thập dân binh để mưu tính việc khôi phục. Mong mỏi được dựa vào uy thanh, may ra nên việc thì cũng là do ngài ban cho. Nếu việc không thành sẽ lại đến nơi ngài cầu xin.

Nghị lấy ngón tay viết vào ván rằng : “ Không giết được Quang Bình thì không thôi ” ( Quang Bình là tên giả của Tây Sơn ) , Nghị lại nói : “ Ðã dâng biểu tâu về xin thêm quân, không đầy một tháng thì viện binh sẽ đến. Chốn này gần kề bọn giặc, không tiện cho việc đóng quân, tích lương thảo, nên tạm về Nam Ninh nghỉ ngơi để đợi chiếu chỉ của triều đình. ” Vua bèn cùng Sĩ Nghị về Nam Ninh. 

Những chi tiết trên cũng không chắc đã xảy ra, nhất là việc Tôn Sĩ Nghị lấy tay viết vào ván để cho Lê Duy Kỳ đọc vì hai người không cùng chạy một đường và nếu có gặp nhau thì cũng mãi về sau chứ không phải ở Nam Quan. Theo báo cáo của Tôn Sĩ Nghị thì :

“ Hôm trước thần ở bờ phía bắc sông Phú Lương [ tức sông Nhĩ Hà ], thấy thế giặc ở bờ bên kia quá dũng mãnh mà các tướng đề trấn chưa về đến bờ sông hay là đã thất bại rồi nên không triệt hồi được, vì thế mới tự tay viết một mảnh giấy sai di nhân [ tức người Việt ] đem đến bên sông giao lại cho đầu mục của giặc ”.

Như nội dung lá thư này [ do Tôn Sĩ Nghị bịa đặt ra vì ông ta sợ truy binh chạy trốn rất gấp rút, không thể có thì giờ viết thư gửi cho Nguyễn Huệ nên có nhiều điều vô lý ] Tôn Sĩ Nghị đã đoán được vua Càn Long không muốn tái động binh nên cũng đã nhắc khéo về việc chấp thuận cầu hòa với Nguyễn Huệ như một chủ trương để dọ ý về một đường lối tiếp theo.

Xét theo tình hình, vua Lê và tòng thần chạy qua Trung Hoa với lý do cụ thể và gần gũi nhất là để được toàn mạng – theo một phản ứng rất bình thường là chạy ngược với phía quân địch tiến – chứ khi đó cũng chưa biết sau này rồi sẽ ra sao ? Không phải họ không ý thức được việc người Tầu có những tính toán bất thiện nên trước đây chỉ nhờ nhà Thanh “ đem binh áp cảnh, lên tiếng thanh viện ” nghĩa là động binh ở sát biên giới dọa cho Nguyễn Huệ rút đi trả lại nước cho vua Lê. Những chi tiết này về sau bị lược bỏ không thấy nhắc đến. Trong nhiều trường hợp nhà Thanh tìm cách gài đối phương đưa ra những khẩn cầu hợp với ý của họ rồi điều chỉnh bằng văn thư để cho danh chính ngôn thuận. Trong bang giao với Tây Sơn họ cũng áp dụng những biện pháp tương tự và nếu không đối chiếu nhiều tài liệu khác nhau, chúng ta khó có thể biết được sự thực ẩn phía sau.

Cũng theo tài liệu của Việt Nam, Tôn Sĩ Nghị giữ vua Lê lại, nói cứng là đang trình lên để xuất quân lần thứ hai. Những lời nói đó nếu có thực thì cũng chỉ là xoa dịu mặt ngoài cho qua chuyện vì khi Tôn Sĩ Nghị thua chạy về, trong vai trò tổng đốc Lưỡng Quảng cũng như tiết chế binh mã, ông ta còn phải đối phó với rất nhiều vấn đề cấp bách như di chuyển số quân lính sống sót, chuyên chở quân trang, khí giới về nước, kiểm điểm thiệt hại, bố trí phòng ngự ..... nhất là e ngại cơn thịnh nộ của vua Càn Long đổ lên đầu một nguyên soái thất trận. Trong nhiều tháng liền, Tôn Sĩ Nghị, Phúc Khang An và các cấp phủ, bộ đều phải lo việc hậu chiến, còn vua tôi Lê Duy Kỳ thì được cung cấp một nơi sinh sống [ từ ngữ nhà Thanh gọi là an tháp ] chứ không hề được gặp quan lại nhà Thanh. Những điều người trong nước tường thuật về diễn biến cuộc đời lưu vong chỉ dựa theo suy đoán, tin đồn và tưởng tượng.

Về phía nhà Thanh, những gì địa phương báo cáo lên triều đình hoàn toàn có tính cách nội bộ người ngoài không ai được biết. Chính vì thế chỗ nào đúng, chỗ nào sai cũng chỉ trong phạm vi riêng một phía. Chỉ khi nào chúng ta có chứng cớ rõ ràng hơn mới có thể đối chiếu để vạch ra những điều thiếu chính xác nhưng việc đó không phải dễ dàng gì.



PHẦN V

BANG GIAO THANH – VIỆT HẬU CHIẾN


5.1. TRƯỚC KHI THANH TRIỀU CÔNG NHẬN TÂY SƠN

Trong khoảng hai tháng sau khi thua trận tại Thăng Long, Thanh triều tập trung giải quyết những vấn đề liên quan đến chiến dịch, đối ngoại chủ yếu là bảo vệ biên giới đề phòng quân Tây Sơn đánh sang Trung Hoa, đối nội đặt trọng tâm vào việc tổng kết thiệt hại trong chiến dịch để báo cáo lên triều đình và cũng chưa đưa ra được một chủ trương cụ thể phải đối phó với triều đình Quang Trung như thế nào ? Lý do dễ hiểu là vì tin báo về triều phải hạ tuần tháng Giêng mới tới tay vua Càn Long và thư trả lời cũng cần một thời gian nữa mới tới Quảng Tây. Quyết định đầu tiên của vua Thanh là điều động Phúc Khang An khi đó đang là tổng đốc Mân – Triết sang làm tổng đốc Lưỡng Quảng thay Tôn Sĩ Nghị để lấy lại quân uy và chủ trì cách thức giải quyết.

Phúc Khang An rất khôn ngoan, biết rằng vua Càn Long có ý chủ hòa nên đưa ra một tiêu chí gồm sáu chữ “ dưỡng quân uy, tồn quốc thể ” làm then chốt trong việc đàm phán để giúp vua Cao Tông có thể trút bỏ biện pháp quyết liệt vốn dĩ ông không mấy thiết tha tuy vẫn nói cứng rằng “ quốc gia đang hồi toàn thịnh, trong ngân khố có đến 60 triệu lượng bạc, dù phải tiêu 30 triệu lượng để đánh An Nam thì cũng không ngại ”. 

Trong thời điểm còn nhiều công tác qui mô và quan trọng hơn, đối với nhà Thanh nhóm vua Lê và bầy tôi chỉ là một chuyện phụ thuộc không đáng lưu tâm. Họ được cung cấp nơi ăn chốn ở nhưng chưa hẳn vì ưu đãi mà chỉ theo chính sách chung của Thanh triều và dự phòng dùng họ như một thứ con tin để điều đình với Tây Sơn hơn là mục tiêu tiến quân lần thứ hai như Lê Duy Kỳ mong đợi. Những tài liệu của nhà Thanh cho thấy vua Lê và người theo ông đã bị gạt ra ngoài ngay khi chiến tranh vừa chấm dứt.


5.1.2. ÐỐI VỚI TÂY SƠN

5.1.2.1. ÐÀM PHÁN SƠ KHỞI

Có thể nói việc Nguyễn Huệ được phong làm An Nam quốc vương thật dễ dàng tưởng như một trò đùa bỡn. Thực tế trong lịch sử nước ta, việc được triều đình Trung Hoa công nhận thường trải qua nhiều thủ tục rắc rối, thử thách nhiêu khê nên có khi mất hai ba năm trước khi được họ ban cho một danh hiệu và một quả ấn.


5.1.2.2. QUAN ÐIỂM PHÍA NHÀ THANH

Khi từ bỏ nhà Lê để công nhận Nguyễn Huệ, chính vua Càn Long cũng biết rằng nếu như họ cố gắng bằng mọi giá để tái lập vua Chiêu Thống thì bước đầu cũng có thể thành công nhưng việc duy trì một triều đình ở An Nam thì lại là chuyện khác. Dù không có một Nguyễn Huệ ngày hôm nay thì trong tương lai cũng sẽ lại có một hay nhiều Nguyễn Huệ nổi lên và sớm muộn nhà Lê cũng mất. Còn nếu thừa cơ đánh chiếm nước ta làm quận huyện thì việc duy trì một đạo quân viễn chinh thường trực và một bộ máy hành chánh cai trị cũng phức tạp không kém, hao tiền tốn của mà rồi cũng sẽ bị đánh đuổi khiến thiệt hại về tài lực, vật lực sẽ còn cao hơn gấp bội.

Ngay từ đầu Thanh triều biết rằng trước sau gì cũng phải công nhận một người làm chủ nước Nam nên họ tính toán thế nào để cho có lợi nhất. Kinh nghiệm Miến Ðiện cho thấy nếu đối phương tỏ thái độ bất cần ngang ngược thì việc động binh cũng chẳng đi đến đâu. Ở An Nam, nhà Thanh có lợi thế hơn vì nước ta thần phục Trung Hoa trong nhiều triều đại, nhiều thế kỷ, lại chịu ảnh hưởng sâu rộng văn hóa và học thuật của người Tàu nên vốn sẵn có tập quán nội phụ vào phương bắc.

Bỏ đi những hình thức bề ngoài, đứng trước chọn lựa giữa hai đối tượng – Nguyễn Huệ và Lê Duy Kỳ – chúng ta thấy nhà Thanh chọn Nguyễn Huệ không phải là việc khó suy nghĩ. Ðiều quan trọng chính là làm sao để Nguyễn Huệ cũng đi đúng như con đường Thanh triều muốn Lê Duy Kỳ tuân thủ. Ngay từ cuối tháng Giêng năm Kỷ Dậu – vua Càn Long đã mật dụ cho Phúc Khang An [ người được bổ nhiệm làm tổng đốc Lưỡng Quảng thay Tôn Sĩ Nghị nhưng chưa tới nhiệm sở mới ] trong đó có đoạn như sau :

“ Lúc này bọn Nguyễn Huệ tự biết rằng làm tổn thương đến quan binh là đã gây nên tội cực lớn, [ hẳn là ] sợ thiên triều cử đại binh tiễu trừ, ắt sẽ sai người đến cửa quan chịu tội xin hàng. Phúc Khang An và Tôn Sĩ Nghị đều là phong cương đại thần [ đại thần trấn nhậm nơi biên giới ], vậy phải nên nghiêm khắc. Nếu [ Nguyễn Huệ ] nhiều lần sai người đến gõ cửa cầu khẩn với vẻ cung thuận thì đợi tới lúc đó hãy tâu lên, trẫm sẽ tuỳ cơ mà hành sự.

Huống hồ hiện nay quốc gia đang toàn thịnh, Nguyễn Huệ chỉ là một thổ mục đất An Nam, nếu đem binh hội tiễu đánh vào sào huyệt bắt lấy thủ lãnh thật không khó gì. Thế nhưng xứ này vốn nhiều chướng lệ, nếu thu nhập bản đồ [ sáp nhập vào lãnh thổ của họ ] như đã làm ở Tân Cương [ tức là chiếm nước ta ] thì phải phân phối rất đông viên chức trấn thủ mà tiền thuế thu được ở xứ này cũng chẳng đủ.

Huống chi An Nam dân tình phản phúc, trước đây những nước thắng được họ [ tức là các triều đại Hán, Minh ..... ] lấy làm quận huyện chẳng bao lâu cũng sinh biến cố, trong lịch sử đã có gương xe đổ rồi [ nên bây giờ chẳng nên đi theo vết cũ ]. Trẫm suy đi tính lại không nên làm lớn chuyện mà nên mở cho họ một đường thoát, nếu như thành khẩn sợ tội thì không phải hao binh lực, việc xong mà mọi sự đều thành. Phúc Khang An không thể không biết ý đó của trẫm. ” .

Trong mấy tháng đầu tiên, Thanh đình đưa ra hai chủ trương, bề ngoài chỉ thị cho Tôn Sĩ Nghị tiếp tục cứng rắn để dò xét phản ứng của đối phương, bề trong chỉ thị cho Phúc Khang An chuẩn bị một biện pháp uy hiếp để chiếm lấy ưu thế trong thương lượng. Trong một thời gian ngắn tại Quảng Tây có mặt cả Phúc Khang An lẫn Tôn Sĩ Nghị thay phiên tung hứng để làm áp lực với triều đình Quang Trung. Vua Càn Long cũng ra lệnh cho các tỉnh dọc theo biên giới phía nam tăng cường canh phòng vừa để đối phó với một cuộc chiến vượt biên giới nhưng cũng bắn tiếng rằng việc họ chuẩn bị động binh là có thực.

Ðể xem thái độ Ðại Việt, nhà Thanh làm như tức giận bác khước mọi đề nghị bằng một thái độ trịch thượng, hống hách. Lần thứ nhất, ngày 20 tháng Giêng, họ ném trả tờ biểu cầu hòa. Lần thứ hai, ngày mồng 9 tháng Hai, họ hoạnh họe sao chưa trả tù binh, lại hăm dọa đang chuẩn bị đem quân sang lần nữa. Sau khi xem biểu văn, Thang Hùng Nghiệp đưa ra điều kiện họ chỉ chuyển lên vua Càn Long khi số tù binh được trả về. Lần thứ ba, ngày 21 tháng Hai, vua Quang Trung cho người mang biểu văn và ngày 22 tháng Hai đưa lên Nam Quan 500 tù binh bao gồm 300 binh lính và 200 phu dịch. Trong suốt thời kỳ đàm phán sơ khởi này, hai sứ thần nước ta là Nguyễn Hữu Trù và Vũ Huy Phác [ Tấn ] đã phải chạy đi chạy lại từ Thăng Long đến Lạng Sơn bảy lần mới đạt được kết quả.

Tuy bên ngoài như thế nhưng một trong những tiêu điểm của trao đổi là ép vua Quang Trung bằng lòng sang tham dự lễ bát tuần khánh thọ của vua Càn Long vào năm sau. Hàng năm nhà Thanh vẫn thường tiếp đón những phái đoàn phiên thuộc và các vương công, thai cát như Mông Cổ, Tân Cương, Tây Tạng ..... nhưng trong kỳ đại lễ vô tiền khoáng hậu này, vua Thanh khao khát muốn có một quốc vương ngoại phiên tham dự. Trước đây khi lập Lê Duy Kỳ lên làm An Nam quốc vương, vua Lê đã tự nguyện sang triều cận nhưng nay không còn Lê Duy Kỳ nữa thì quan lại nhà Thanh phải tìm đủ mọi cách để vua Quang Trung thay thế vị trí của vua Chiêu Thống.


5.1.2.3. PHẢN ỨNG PHÍA ÐẠI VIỆT

Có thể nói vua Quang Trung đã chủ trương cầu hòa với nhà Thanh rất sớm, sớm hơn mọi dự liệu mà dân Bắc Hà có thể tưởng tượng được. Ngày 20 tháng Giêng năm Kỷ Dậu [ 14 - 2 - 1789 ] , triều đình Tây Sơn sai người đến Nam Quan dọ ý nhà Thanh về việc tình nguyện nạp cống và thông báo cho đối phương biết về tình hình những quan binh của họ bị bắt hiện đang giam giữ tại Thăng Long.

Việc xúc tiến giảng hòa một cách gấp rút và đơn phương có nhiều nguyên nhân phức tạp. Trước hết vua Quang Trung cần có một vị thế trong mô hình chính trị thiên triều – phiên thuộc mà người Việt đã tuân thủ hàng nghìn năm qua. Bất cứ một ông vua nào của nước ta cũng cần sự công nhận của Trung Hoa để được coi như một dòng chính thống. Ðối với những vị vua sáng nghiệp, mở nước, việc cầu phong lại càng quan trọng nhất là sau khi có chiến tranh để lấy lại nước [ từ chính Trung Hoa ] như nhà Lê, nhà Tây Sơn. Chính vì thế tuy là phía chiến bại, Thanh triều vẫn có lợi điểm là “ nước lớn ” để khai thác trong việc đàm phán. Vả lại vua Quang Trung cũng có những khó khăn phải giải quyết nên việc cầu hòa là thông lộ quan yếu nhất để hóa giải những mấu chốt phải vượt qua.

Thứ nhất, tuy đánh bại quân Thanh trong một cuộc chiến ngắn ngủi, vua Quang Trung cũng nhận ra rằng ngoài những kẻ thù đã có sẵn – kể cả anh ông là Nguyễn Nhạc – nay ông lại phải đối diện với một cường địch rất lớn về vật chất cũng như tinh thần. Có thể nói Nguyễn Huệ rơi vào thế tứ bề thọ địch trong khi ông không có một đồng minh nào ngoài một vương quốc Bắc Hà tan hoang còn nhiều vấn đề thực tế phải giải quyết. Ðể tìm kiếm hòa bình, Nguyễn Huệ đã kịp thời tận dụng được thành phần sĩ phu Bắc Hà vốn có sở trường về văn mặc hiện lẩn trốn và còn đang hoang mang vì không biết số phận của mình sẽ ra sao.

Ngay trong tháng Giêng năm Kỷ Dậu, Nguyễn Huệ đã tập trung mời gọi – theo lối trọng đãi nhân tài cũng có mà ngầm cưỡng bách cũng có – rất nhiều danh sĩ. Những nhà nho đó nếu không được Nguyễn Huệ biết tới thì tên tuổi cũng mai một như hàng trăm tiến sĩ, cử nhân khác trong lịch sử. Theo Lịch Triều Tạp Kỷ, những người đầu tiên được triệu dụng là Ngô Thì Nhậm, Phan Huy Ích, Nguyễn Thế Lịch, Vũ Huy Tấn, Ðoàn Nguyễn Tuấn, Ðào Xuân Lãng .....

Chỉ nửa tháng sau khi trận đánh kết thúc, phái đoàn giảng hòa đã có mặt ở Trấn Nam Quan với ba sứ thần Nguyễn Hữu Trù, Vũ Huy Phác [ Tấn ], Nguyễn Ninh Trực trong một thái độ hết sức mềm dẻo. Chính vì được sử dụng đúng sở trường của họ, những danh nho miền Bắc đã có dịp chứng tỏ khả năng “ lấy ngọc lụa thay cho gươm giáo ” và làm nổi bật niềm tự hào mà sau này chính vua Càn Long đã phải khen ngợi nước ta là “ văn hiến chi bang ”. Hiện nay trong văn khố nhà Thanh và rải rác các sử liệu, chúng ta còn tìm thấy nhiều văn kiện đặc sắc trong khuôn mẫu ngoại giao thời Tây Sơn.

Thứ hai, Nguyễn Huệ biết rằng muốn làm nguội nồi nước ở trên bếp, việc đầu tiên là phải rút bớt củi ra. Do đó ông đã đề ra một chính sách đối xử rất nhân đạo đối với những thương binh, tù binh bị bắt. 


5.1.3. BƯỚC NGOẶT TRONG CHÍNH SÁCH THANH TRIỀU

Khi Phúc Khang An đáo nhậm tổng đốc Lưỡng Quảng thay Tôn Sĩ Nghị [ giữa tháng Ba năm Kỷ Dậu ] , ông đã nắm vững chủ trương của vua Càn Long nên tiếp tục đường lối dọa nạt của Tôn Sĩ Nghị. Phúc Khang An còn đi xa hơn trong việc kiềm chế cả phe Lê Duy Kỳ lẫn phe đối địch là vua Quang Trung. Tuy bên trong chủ hòa, bên ngoài Phúc Khang An vẫn gióng tiếng rằng sẽ điều bốn lộ binh sang đánh nước ta. Trong công tác chiến tranh tâm lý đó, vua Lê và những người chạy theo vẫn tưởng rằng họ còn có một vai trò khi nhà Thanh đi bước kế tiếp.

Ðọc lại một số thơ văn của những người theo vua Lê sang Tàu thời đó ta thấy họ vẫn lạc quan, tin rằng nếu Thanh triều không thương một dòng họ thần phục lâu năm thì cũng sẽ hưng binh vấn tội, rửa nhục bại binh.

Tháng Năm năm Kỷ Dậu, Phúc Khang An sai một người anh họ [ biểu huynh ] của Lê Quýnh là Lê Trình bí mật về nước tìm Lê Quýnh dụ họ sang Trung Hoa nói rằng họ Phúc muốn gặp để “ bàn quốc sự ”. Trong tình hình đang mong chờ Thanh triều cứu viện lần thứ hai, Lê Quýnh cho rằng “ bàn quốc sự ” đồng nghĩa với tính toán việc quân cơ nên đã cùng 28 đồng chí phấn khởi lên đường. Khi nhóm này vượt biên sang đất Thanh, họ được cho tạm trú, sống biệt lập nhưng không có cơ hội nào để gặp Phúc Khang An như dự tính. Việc câu lưu được nhóm Lê Quýnh khiến cho lực lượng phù Lê ở trong nước tạm thời nằm im đãi biến cũng là một uy hiếp ngầm đối với triều đình Tây Sơn, ngụ ý một lực lượng lưu vong mưu tính phục quốc đang ở nội địa là có thực.


5.1.3.1. CẦU PHONG

Những diễn tiến thuận lợi đó không những làm dịu đi tình hình căng thẳng và xóa dần hiểm họa chiến tranh mà còn đóng góp tích cực vào việc ổn định tình hình chính trị của Bắc Hà. Nhà Thanh không những công khai khẳng định việc từ bỏ ủng hộ các tòng vong nhà Lê mà trong một số trường hợp còn giúp cho Nguyễn Huệ loại trừ được những nguy cơ bạo loạn mà không phải đổ máu. Việc đối xử với vua Chiêu Thống theo từng bước khác nhau tùy thuộc vào những biến chuyển trong chính sách ngoại giao, vì không biết được điều đó nên người ngoài vẫn coi là một việc “ đánh lừa ” hay ngẫu nhiên xảy đến.

Ðối với Thanh triều, vấn đề An Nam không chỉ là chuyện tùy tiện làm theo cảm hứng nhất thời. Ðiều cốt lõi là xây dựng được một tương quan của chính sách thiên triều – phiên thuộc, họ Lê hay họ Nguyễn làm chủ nước chỉ là bề mặt. Công nhận vua Quang Trung giúp Thanh triều không phải tái động binh trong một cuộc chiến tốn phí mà vẫn có được một phên giậu ổn định.

Trong thời điểm ấy, việc quan trọng nhất không phải là những đòi hỏi có tính rửa mặt như trao trả tù binh, lập miếu thờ tướng nhà Thanh tử trận hay khấu đầu xưng thần mà làm sao ép được vua Quang Trung đi theo bước chân vua Chiêu Thống : đích thân sang Bắc Kinh dự lễ bát tuần khánh thọ năm Canh Tuất. Ðể đạt được mục tiêu đó, vua Càn Long ra lệnh cho Phúc Khang An thi hành đúng chính sách “ ki mi ”, vừa cương vừa nhu, nằm trong sáu chữ “ dưỡng quân uy, tồn quốc thể ”.

Việc thương lượng đó qua lại khá lâu tuy không hẳn đã xuôi chèo mát mái như nhà Thanh miêu tả là Nguyễn Huệ vui vẻ nhận lời ngay từ đầu. Dưới áp lực ngoại giao, hai bên đã ngầm đồng ý là phải có một phái đoàn mang tính cách dò đường trước nên Nguyễn Huệ sai cháu là Nguyễn Quang Hiển trong vai trò một sứ giả đem biểu cầu phong lên kinh đô.


5.1.3.2. PHÁI BỘ NGUYỄN QUANG HIỂN

Việc đưa một phái bộ sang cầu phong và nhận sắc ấn là một trường hợp đặc biệt trong lịch sử bang giao Trung Hoa – Việt Nam. Phái bộ Nguyễn Quang Hiển được tiếp đón bằng một nghi thức khác thường. Ông không phải chỉ là một sứ thần mà là một đại diện chính thức của vua Quang Trung – nói theo ngôn ngữ ngoại giao của nhà Thanh là “ tuy đại do thân ” [ 雖代猶親 ] ( tuy thay mặt nhưng cũng như chính mình vậy ). Theo như lời khai, Nguyễn Quang Hiển là đích trưởng điệt [ cháu lớn nhất dòng chính ] , con của anh cả vua Quang Trung là Nguyễn Quang Hoa đã mất sớm nên không khác gì con trưởng của Nguyễn Huệ.

Nhà Thanh cũng sắp xếp nghi lễ để khi Nguyễn Quang Hiển sang Nam Quan “ thay mặt vua Quang Trung đến dâng biểu cầu hàng ” thì sau đó sẽ “ đích thân lên kinh đô để chứng tỏ sự thành tâm qui phục ”. Chính việc này cũng khiến cho vua Thanh tự hào là việc các triều đại trước phải “ đưa người vàng thay mặt ” [ đại thân kim nhân ] thật đáng khinh bỉ [ vì chỉ là hình thức giả dối ] không phải như Nguyễn Huệ qui phục một cách thành tâm. 


5.1.1. ÐỐI VỚI NHÀ LÊ

5.1.1.1. THU NHẬN NHỮNG NGƯỜI CHẠY QUA

Chỉ sau khi việc bang giao với nước ta được định hình, Thanh triều mới bắt đầu đề cập đến những người nhà Lê chạy sang Trung Hoa. Trước đó họ chỉ được cung cấp một chỗ ăn ở nhưng không có những chi tiết cụ thể – hay đúng hơn – chính sách đối với họ còn bỏ ngỏ. Nói chung hầu như trong những tháng đầu, những ai chạy sang Trung Hoa đều được tạm thu nhận, sau đó mới phân loại và xử trí tùy theo thành phần, tùy theo trường hợp. Binh lính và phu phen nhà Thanh dĩ nhiên được ưu tiên nhưng ngoài ra cũng có cả dân chúng, xưởng dân [ người Thanh trốn sang làm nghề khai mỏ ở nước ta ] và một số thổ hào. Những người chạy theo vua Lê hay đã từng giúp đỡ quân Thanh sợ bị trả thù cũng đều được cho vào để tránh sự truy sát của Tây Sơn.

Một số đông trong thành phần này về sau thấy sống ở Trung Hoa không thoải mái, nhất là những người bị đưa đi khá xa, ở những vùng hoang vu lạnh lẽo đều xin trở về nước khi nhà Thanh thỏa hiệp với vua Quang Trung cho phép họ trở về mà không bị bắt tội. Việc “ vượt biên ” sang Trung Hoa còn kéo dài đến tận đời vua Cảnh Thịnh tuy rằng càng về sau càng thưa thớt và mỗi người lại có những lý do riêng.

Theo tổng kết sơ khởi, nhóm nhà Lê đầu tiên chạy được sang Trung Hoa vào khoảng hơn 20 người [ nhưng chưa có mẹ và con vua Lê ].

Cuối tháng Giêng, số người sang được Quảng Tây bao gồm :

– Mẹ và con vua Chiêu Thống ( Nguyễn thị Ngọc Tố và Lê Duy Thuyên )

– Hoàng Ích Hiểu, phiên mục Cao Bằng, tước Ðịch Quận Công

– Nguyễn Quốc Ðống, người xã Tì Bà, huyện Lang Tài [ anh của vương phi Nguyễn Thị Kim ]

– Phạm Như Tùng, người Thư Trì, đề lĩnh

– Lê Hân, người xã Nộn Liễu, huyện Nam Ðường

– Phạm Ðình Thiện, người xã Bác Trạch, huyện Chân Ðịnh

– Lê Văn Trương, người xã Nghĩa Ðồng, huyện Nam Ðường

– Lê Quí Thích, người xã Ðồng Bằng, huyện Yên Ðịnh


Ðến tháng Ba, báo cáo nhà Thanh ghi nhận thêm những tên sau đây :

– Phan Khải Ðức

– Nguyễn Ðình Bái

– Hoàng Ðình Cầu

– Nguyễn Ðình Liễn

– Nguyễn Hiền


Ðến tháng Tư, Phúc Khang An lại tâu lên có thêm những người sau đây :

– Lê Duy Án ( con út vua Hiển Tông, chú của Lê Duy Kỳ ) tước Trung Quận Công

– Lê Duy Trợ ( thân tộc nhà Lê )

– Lê Duy Doanh ( thân tộc nhà Lê )

– Trần Ðắc Bồi

– Nguyễn Ðình Hoa

– Ðặng Kim Huân

– Nguyễn Ðình Dung

– Vũ Xuân Bỉnh

– Phan Khải Tích

– Phan Mạnh Hiền .....


Theo báo cáo của Phúc Khang An và Tôn Vĩnh Thanh thì số người qua tị nạn được tạm trú ở Quế Lâm là 376 người.


5.1.1.2. BỐ TRÍ SINH SỐNG

Những người sang được Trung Hoa không được ở gần nhau mà chia ra nhiều địa phương mỗi nơi một ít. Tuy nhiên những người có họ hàng, thân thiết thì được ở gần nhau. Một số người đầu tiên theo vua Lê lên Bắc Kinh nhưng về sau cùng nhau đồng mưu xin được can thiệp để Nguyễn Huệ nhường cho một mảnh đất ở biên giới làm chỗ dung thân nên bị Thanh triều trừng phạt, vua Lê bị tước hết chức vụ, lương bổng, bọn Hoàng Ích Hiểu bị đày đi xa.

Riêng nhóm Lê Quýnh vì không chịu cắt tóc thay áo nên bị giam trong ngục của bộ Hình, đến khi vua Gia Khánh chính thức cầm quyền mới được thả ra.


5.1.2. THẾ PHÁT CẢI PHỤC

Trong thời gian chờ đợi đó, nhà Thanh công khai cho nhóm nhà Lê biết họ không còn vai trò gì nữa. Nếu họ sống ở Trung Hoa thì phải áp dụng qui tắc “ làm dân thiên triều thì phải theo luật thiên triều ” nghĩa là cắt tóc thay áo như người Thanh. Việc áp đặt triệt để và gấp rút đó đã khiến cho vua tôi Chiêu Thống rất uất ức, nhất là lại được đưa ra “ trình diện ” phái đoàn Tây Sơn khi họ đi ngang qua Quế Lâm. Trước đây chi tiết về việc hai bên gặp nhau hầu như không ai nói đến, có lẽ những người theo vua Lê khi trở về cũng không muốn đề cập làm gì cho khỏi mất phẩm giá của một ông vua vong quốc nên câu chuyện người Thanh đánh lừa được thay vào cho qua.

Theo tài liệu của nhà Thanh, việc công nhận Tây Sơn không giữ bí mật và họ cũng chẳng cần giấu nhóm nhà Lê. Có điều lúc đầu có lẽ việc ép buộc chưa gắt gao lắm cho đến khi vua Càn Long ra lệnh Phúc Khang An đưa phái đoàn Nguyễn Quang Hiển đến gặp Lê Duy Kỳ để xác định họ đã thành dân nhà Thanh thì không người nào có thể cưỡng lại được nữa. Những người nhà Lê chỉ bị bắt buộc thay đổi y phục từ tháng Năm năm Kỷ Dậu, tính ra 4 tháng đầu tiên họ chưa được coi như dân thiên triều, phù hợp với tiến trình bang giao và khi nhà Tây Sơn được công nhận là triều đại chính thống thì mọi việc ngã ngũ, không còn hồ nghi gì nữa.

Riêng trường hợp Lê Quýnh, nhóm người này sang Trung Hoa không phải vì lý do “ tị nạn ” mà do Phúc Khang An triệu sang nên họ không bằng lòng nhập cư mà xin về nước. Ðòi hỏi này nếu được chấp thuận sẽ trở thành một chướng ngại cho bang giao Thanh – Tây Sơn, dễ gây ngộ nhận là Thanh triều ám trợ việc nổi dậy và vua Quang Trung sẽ không chịu sang dự lễ Bát Tuần Khánh Thọ. Chính vì thế sau những lần thúc ép, Phúc Khang An đã tâu với vua Thanh đày bọn Lê Quýnh sang Y Lê nhưng không thành công.


5.1.2.1. CẮT TÓC ÐỔI ÁO LÀ GÌ ?

Khi người Mãn Châu chiếm được trung nguyên, họ tiến hành một chính sách cải biến văn hóa [ cultural assimilation ] một cách triệt để với chủ đích là trấn áp người Hán và tiêu diệt những ai chống lại họ. Henry McAleavy đã viết như sau :

Việc đầu tiên mà người Mãn Châu làm [ trong việc đồng hóa ] là thay đổi diện mạo quốc gia bằng cách bắt buộc tất cả đàn ông phải cạo bỏ phần tóc ở phía trước và tết tóc thành đuôi sam. Y phục chính thức không còn theo kiểu Trung Hoa nữa, vốn lụng thụng như áo kimono của người Nhật và vạt áo gập ở đằng trước thành kiểu áo dài Tartar [ tức người Mông Cổ ] có cổ cao, gài khuy bên hông và mũ chỏm [ skullcap ].

Trong một hai năm đầu vừa thống trị, nhất là tại trung điểm của văn hóa truyền thống Trung Hoa, lưu vực sông Dương Tử, việc chống đối chính sách này rất mãnh liệt và hàng ngàn người ở mọi thành phần thà chết còn hơn là phải chấp nhận biểu trưng phục tòng này. Một nam nhân có thể tránh bằng cách tham gia vào hàng tăng lữ, vào chùa tu cạo đầu hoàn toàn không để đuôi sam hay thành một đạo sĩ, tết tóc thành một búi ở trên đỉnh đầu kiểu Tàu.

Thế nhưng cũng lạ đời, chỉ vài chục năm sau người ta lại coi cái đuôi sam như một biểu tượng của văn minh Trung Hoa và đến cuối thế kỷ XIX, khi có những phong trào cắt tóc ngắn, chuyển sang Âu phục thì cũng không ít người chống đối. Một số các bang hội khởi thủy với mục tiêu Phản Thanh phục Minh sau này lại chạy theo triều đình trong những công tác bài Tây phương.

Ngày Tân Dậu mồng 5 tháng Năm ( 29 - 5 - 1789 ) , vua Càn Long giáng chỉ dụ cho Phúc Khang An như sau :

Lê Duy Kỳ vì không có khả năng nên mất nước, bỏ ấn chạy trốn. Nay khoan hồng cho tội thất thủ phiên phong an tháp ở tỉnh thành Quế Lâm, chước cấp để cho sinh sống như mọi người dân thường.

Có nghe rằng nhiều kẻ còn giữ tóc theo tục cũ, y phục dùng theo y quan nước họ, khác với nhân dân nội địa, như thế không hợp với thể chế.

Vậy truyền dụ cho các đốc phủ lập tức ra lệnh cho Lê Duy Kỳ cùng tất cả các tùy tòng đều phải cắt tóc [ theo tục Mãn Thanh ] , đổi sang phục sức thiên triều. Trong tương lai khi Nguyễn Quang Hiển đi qua Quế Lâm gặp mặt Lê Duy Kỳ, thấy họ đã cạo đầu, đổi cách ăn mặc, sẽ thấy rằng họ không thể về nước được nữa.

Cũng ra lệnh cho Nguyễn Quang Hiển sai người về nước, báo tin cho Nguyễn Huệ để cho y hết nghi kỵ , sợ hãi.

Ngày 11 tháng Năm [ nhuận ] ( 3 - 7 - 1789 ) , Phúc Khang An và Tôn Vĩnh Thanh gọi nhóm vua Lê tất cả 54 người đến phủ đường truyền lệnh phải đổi sang y phục Trung Hoa.

Ở đây chúng tôi xin mở ngoặc để nhìn lại sách vở nước ta viết về đời sống những người nhà Lê chạy sang Trung Hoa tưởng như lúc nào họ cũng kề cận bên vua quan nhà Thanh sẵn sàng bàn thảo, trao đổi ý kiến. Hãy xem một đoạn “ dật sử ” của người Việt :

Tháng 5 [ năm Kỷ Dậu ] , Phúc Long An [ đúng ra là Phúc Khang An ] nhà Thanh trở về Quế Lâm, bãi hết binh mã các tỉnh, mở yến tiệc, ca nhạc linh đình. Chiêu Thống ngạc nhiên hỏi, Long An nói : “ Mùa hạ nóng nực, đi đánh phương nam không lợi, đợi đến mùa thu mát mẻ mới điều động quân đi ”. Long An lại mời vua Chiêu Thống yến tiệc say sưa, thong thả nói rằng : “ Thời kỳ ra quân không còn xa nữa, vương nên đích thân dẫn các liêu thuộc đi trước dẫn đường. Nhưng lối trang phục của An Nam vốn bị Tây Sơn coi khinh. Ngày trước Tôn tổng đốc bị bại trận, cái hại chính là chỗ ấy. Nếu cạo đầu tết tóc, thay đổi quần áo như Trung Quốc, khiến quân giặc trông thấy không thể phân biệt được, chỉ thấy màu quần áo của thiên triều thì hồn bay phách lạc, như vậy công việc lớn mới hoàn thành được. Ðợi khi đã khôi phục đất nước sẽ lại theo phong tục nước mình, việc quân phải dùng những kế quỉ quyệt, vương sao chẳng nghĩ tới. Vua tin là thật, đáp rằng : “ Ðể mất nước, mất nhà nhờ được thiên triều cứu viện thì dù bắt cả nước ăn mặc theo lối phương bắc cũng tuân mệnh. Việc đó có hề gì ”. Do đấy vua tôi cạo đầu tết tóc thay đổi cách ăn mặc, hăm hở mong trở về nam. Long An mừng vì đạt được mưu kế, biếu tặng tiền bạc rất hậu, tiếp đãi tử tế và mật tâu với [ vua ] Thanh rằng : “ Vua Lê tự nguyện yên tâm ở đất Trung Quốc, không có ý cầu viện nữa nên đã cạo đầu tết tóc, thay đổi cách ăn mặc ”.

Miêu tả trên hoàn toàn sai lạc nhưng trước đây vì không có các thông tin khác nên vẫn thường được coi như thực tế lịch sử và cho rằng vua Chiêu Thống thay đổi y phục là vì bị đánh lừa một cách dễ dãi. Việc này cũng mâu thuẫn với sự cương quyết không từ bỏ y phục bản quốc của nhóm Lê Quýnh nhưng không ai đặt thành vấn đề.

Thực ra họ đều được an tháp ở những nơi tương đối hẻo lánh, có thể thỉnh thoảng gặp nhau, văn thơ xướng họa cho khuây khỏa nhưng hoàn toàn biệt lập sống tách rời khỏi sinh hoạt chính trị của Trung Hoa. Những điều ở trên tác giả chỉ dựa trên suy đoán, nghe ngóng và tưởng tượng, không phải là sự thực.


5.1.2.2. NGUYỄN QUANG HIỂN GẶP VUA CHIÊU THỐNG

Ngày 18 tháng đó [ 10 - 7 - 1789 ) , Thang Hùng Nghiệp đưa phái bộ Nguyễn Quang Hiển đến tỉnh.

Việc phái bộ Nguyễn Quang Hiển gặp Lê Duy Kỳ không ngoài mục tiêu báo lại hiện trạng của vua tôi nhà Lê ở Trung Hoa khiến vua Quang Trung biết chắc rằng nhà Thanh đã hoàn toàn chấm dứt việc ủng hộ cựu triều mà vui vẻ sang chúc thọ vua Cao Tông.

Không chỉ hậu đãi các sứ bộ Tây Sơn, nhà Thanh còn tích cực yểm trợ triều đình Quang Trung tái lập an ninh, loại trừ những thành phần chưa hàng phục. Cùng với việc quản thúc và giám sát triều đình lưu vong của vua Lê ở Trung Hoa, họ cũng muốn vô hiệu hóa cả những thành phần “ cần vương ” còn ở trong nước để dọn sạch những chướng ngại cho một “ tiểu bang tân tạo ”. Tháng Năm năm Kỷ Dậu, Phúc Khang An sai người về mời Lê Quýnh sang Trung Hoa “ bàn quốc sự ” nhưng khi đó ông đang bệnh chưa khỏi nên đến tháng Bảy mới lên Nam Quan.

Tháng Tám năm Kỷ Dậu, Lê Quýnh cùng bọn Ðoàn Vượng cả thảy 29 người theo ngả Ải Ðiếm, châu Ninh Minh để vào nội địa, tuy không nói ra nhưng họ rất lạc quan. Việc đi chung một nhóm gần 30 người cho thấy Lê Quýnh có ý đưa cả bộ tham mưu của mình để biểu dương uy thế, mong rằng thành phần này sẽ đóng vai trò mạc tân [ người khách ngồi trong màn góp ý ] trong lần động binh thứ hai sang đánh Tây Sơn.

Lúc đầu cả bọn Lê Quýnh bị giữ tại Ninh Minh, một khu vực gần biên giới, nửa tạm trú nửa giam lỏng. Ngày 15 tháng Tám, Lê Quýnh nghe tin vua Lê đang ở Quế Lâm và có lẽ khi đó đã cảm thấy có điều không được như dự kiến. Tháng Chín năm đó, Tả Giang Ðạo Tống Văn Hình đến yêu cầu cả bọn cắt tóc đổi y phục, tạm thời sinh sống ở Trung Hoa. Lê Quýnh biện bạch là họ qua đây không phải xin ở lại mà chỉ để đợi lệnh của Phúc Khang An. Ðến khi Phúc Khang An cho bọn Lê Quýnh gặp, họ biết rằng không còn trông mong vào nhà Thanh được nữa nên xin về nước và nhất định không chịu đổi sang y phục Trung Hoa. Câu nói nổi tiếng còn truyền lại của ông là :

Ðầu tôi có thể chặt nhưng tóc không thể cắt, da tôi có thể lột nhưng áo không thể đổi.

Sau nhiều lần dọa nạt và hạch hỏi, Lê Quýnh và đồng bọn vẫn khăng khăng đòi về tính chuyện khôi phục nên đã bị Phúc Khang An tâu lên vua Càn Long xin đày họ đi Tân Cương. Tuy nhiên vua Càn Long nhận thấy có điều không minh bạch trong tấu thư của Phúc Khang An nên đã hạ chỉ đưa nhóm Lê Quýnh lên kinh đô. Chính nhờ vậy nhóm Lê Quýnh không bị phát vãng đi xa và tuy còn trong cảnh giam cấm nhưng cũng có dịp ở gần vua Lê và những người khác.

Theo dụ của vua Thanh ngày Bính Tuất mồng 6 tháng Ba năm Canh Tuất [ 19 - 4 - 1790 ] thì vua Càn Long cho giải bọn Lê Quýnh đến hành tại, truyền cho quân cơ đại thần tra hỏi, nếu họ chịu cắt tóc thay áo thì sẽ được đưa lên Yên Kinh sống chung với nhóm nhà Lê [ khi ấy đang trên đường đi lên kinh đô ] cho thỏa nguyện. Thế nhưng bọn Lê Quýnh khăng khăng nói rằng họ tính chuyện phục quốc chứ không phải sang đây sống nhờ, chỉ mong được về nước có chết cũng cam. Vua Càn Long thấy họ trung nghĩa, không nỡ giao lại cho Nguyễn Quang Bình [ tức vua Quang Trung ] nên sai giam ở bộ Hình, mãi hơn 10 năm sau, khi có những biến chuyển ở Trung Hoa cũng như ở An Nam thì mới được thả. Việc này Lê Quýnh cũng có thuật trong Bắc Hành Tùng Ký đúng như ghi chép trong Khâm Ðịnh An Nam Kỷ Lược.

Trong khi phái đoàn Nguyễn Quang Hiển lên kinh đô đưa biểu cầu phong và làm lễ nhận sắc ấn thì vua Càn Long đã chỉ thị cho Phúc Khang An cử Lễ bộ viên ngoại Thành Lâm ( 成林 ) sang Thăng Long phong vương cho Nguyễn Quang Bình. Thủ tục nhanh chóng và bất thường đó là một sự kiện không hề xảy ra trong lịch sử bang giao.

Ngày 12 tháng Chín, vua Quang Trung sai đề đốc Lê Xuân Tài ( 黎春材 ) đem 1000 phu dịch và 100 con ngựa cùng 500 vệ sĩ lên Trấn Nam Quan nghinh đón sắc dụ và ngự thi của vua nhà Thanh.

Tuy có một số trở ngại ban đầu khiến việc cử hành đại lễ bị hoãn lại thì sau cùng, đêm 14 tháng Mười, Nguyễn Quang Bình đến Thăng Long, ngày hôm sau Thành Lâm tuyên chỉ phong làm An Nam quốc vương.


5.3. AN THÁP

5.3.1. Quảng Tây ( đầu năm Kỷ Dậu đến đầu năm Canh Tuất )

Trước đây khi còn định sử dụng họ Lê như một lá bài chính trị, nhà Thanh cho họ ở ngay Quảng Tây để gần gũi, tiện lợi liên lạc di chuyển. Ðến khi thấy việc đó không còn cần thiết nữa, vua Cao Tông đã ra lệnh đưa mấy trăm người chạy sang Trung Hoa định cư [ an tháp ] ở các tỉnh khác xa hơn và cho nhập tịch “ làm dân thiên triều ”, gióc tóc đuôi sam và mặc quần áo theo kiểu nhà Thanh.

Ðể giúp họ hội nhập với đời sống mới, vua tôi nhà Lê được phối trí vào những kỳ binh tại địa phương – một hình thức công ăn việc làm được trả lương vì binh lính nhà Thanh không chỉ thuần túy lo việc quân sự mà còn là công sai, có một số đất đai để canh tác. Việc phân chia ra mỗi nơi một ít vừa dễ dàng cho địa phương giải quyết, vừa để họ không tập trung tại một nơi có thể gây khó khăn cho Thanh triều. Những người liên hệ trực tiếp đến hoàng tộc nhà Lê sẽ được đưa lên kinh đô, một hình thức ưu đãi nhưng cũng tiện việc giám sát. Số còn lại chia ra các tỉnh Giang Nam, Chiết Giang, Tứ Xuyên an tháp, nếu ai chống lại sẽ bị chém đầu.

Theo tài liệu nhà Thanh, số đưa lên kinh đô là 165 người trong đó gia đình và thân quyến vua Lê là 61 người, 104 người khác là những bầy tôi thân tín được chia thành 4 nhóm. Nhóm thứ nhất gồm vua Lê và 61 người khác đi từ Quế Lâm ngày 2 tháng Hai [ 17-3-1790 ]. Nhóm thứ hai là gia đình Ðinh Nhạ Hành 27 người lên đường ngày 6 tháng Hai [ 21-3-1790 ]. Nhóm thứ ba gia đình Phan Khải Ðức 24 người lên đường ngày 10 tháng Hai [ 25-3-1790 ]. Nhóm thứ tư gia đình Nguyễn Ðình Bái 56 người lên đường ngày 15 tháng Hai [ 30-3-1790 ].

Các gia đình khác gồm có Bế Nguyễn Cung 71 người đi Giang Nam, Hoàng Ðức Ðặng 68 người đi Chiết Giang, Bế Nguyễn Cửu, Ðoàn Vượng 63 người đi Tứ Xuyên. Những người trên chấp nhận đi lưu vong để thành người Trung Hoa. Ngoài ra còn một nhóm khác cứng đầu không chịu cắt tóc, đổi y phục là Lê Quýnh, Lý Bỉnh Ðạo, Trịnh Hiến, Lê Trị thì bị tù như đã nói ở trên.

Hậu nhân khi đọc về những người lưu vong thường ít khi cảm xúc nhưng những ai đã từng phải đứng giữa nhiều lựa chọn, việc cương quyết giữ cho mình một thái độ chuyên nhất không phải dễ dàng, nhất là đối diện với sự hành hạ, đói khổ, chết chóc.


5.3.2. Yên Kinh ( Canh Tuất đến Quí Sửu )

Cũng giống như hàng nghìn người Việt sang định cư ở Trung Hoa khi nhà Minh diệt nhà Hồ ( 1400 - 1406 ) , những người lưu vong cuối đời Lê không được sử sách đề cập đến ngoài một số chi tiết liên quan đến việc an tháp họ. Trong cuộc dâu bể đến đây họ đã thành ngoài lề và những gì hậu nhân biết được phần nhiều do thơ văn và lời tường thuật sau khi xin về nước. Những sinh hoạt đó không còn liên quan gì đến vận mệnh chính trị nhưng cũng nên biết đến.

Theo một số tài liệu, gia đình Lê Duy Kỳ đến Yên Kinh vào ngày mồng 5 tháng Năm năm Canh Tuất, chỉ hai tháng trước khi phái bộ Quang Trung đến tham dự lễ thượng thọ vua Cao Tông. Họ được an trí ở Chính Dương Môn, còn gọi là An Nam doanh. Gia đình vua Lê sống trong một con đường nhỏ [ hồ đồng ] ở Quốc Tử Giám, Tây Ðịnh Môn hay Tây An Nam doanh. Một năm trước Lê Duy Kỳ và Nguyễn Quang Bình còn ở thế lưỡng vương tranh nhất quốc, ngày nay một người là quốc khách của Thanh triều, một người chỉ là một võ quan cấp thấp, sống nghèo khổ ở một xóm nhỏ tại kinh đô.

Thoạt đầu, vua Lê và tòng thần chỉ được coi như dân thường – nghĩa là bạch đinh – nhưng về sau, vua Càn Long thương tình trước đã từng thụ phong vương tước nên lập một tá lãnh, cho vua Lê đứng đầu, dưới quyền giám sát và chỉ huy trực tiếp của đô thống Kim Giản. Ngay khi vừa đến kinh đô, vua Thanh thấy Lê Duy Kỳ nếu chỉ sống bằng bổng lộc chức tá lãnh có phần thiếu thốn nên đặc dụ cho thêm 200 lượng bạc để chi dụng, đồng thời nâng lên hàm tam phẩm.

Một cách tổng quát, sau khi đã gióc tóc, đổi y phục, đời sống của Lê Duy Kỳ và những người theo ông đã trở thành “ người dân nội địa ” với mọi quyền lợi và nhiệm vụ bình thường, có khác chăng là họ được ban cho một số chức vụ – tuy nhỏ – nhưng có lương bổng để sinh sống ngoại trừ nhóm Lê Quýnh bị giam trong ngục Bắc sở. Những người ở ngoài đi lại không bị giới hạn gì cả.


5.4. ẢNH HƯỞNG CỦA VIỆC SỨ BỘ QUANG TRUNG ÐI YÊN KINH

Việc vua Quang Trung đưa một phái đoàn sang Trung Hoa đã làm thay đổi hoàn toàn vai trò và đường lối ngoại giao của nước ta trong quan hệ phiên thuộc – thiên triều. Chuyến công du đó dĩ nhiên cũng tạo nên chua chát đắng cay cho những người thất thế. Phản ứng của họ nặng phần uất ức và thất vọng nên biến đổi tùy trường hợp.


5.4.1. PHẢN ỨNG CỦA NHÓM NHÀ LÊ

Việc Nguyễn Quang Bình được công nhận có thể là xúc động tâm lý lớn nhất đối với họ, phần vì kỳ vọng rằng nhà Thanh sẽ đem binh sang đánh hoàn toàn tiêu tan, phần khác đời sống lưu vong tẻ nhạt trở thành một nỗi sợ triền miên, không bao giờ có cơ hội trở về cố quốc. Tin tức loan truyền về việc vua Quang Trung đích thân đưa một phái đoàn sang chúc thọ càng làm cho họ thêm hoang mang. Chính nhà Thanh muốn phô trương việc một phiên vương sang chầu nên không riêng gì ở Bắc Kinh nhộn nhịp tổ chức đại lễ mà ở các tỉnh cũng ăn mừng.

Khi biết chắc đó là tin thật thì phản ứng của họ càng thêm phức tạp. Việc phái bộ Quang Trung được đón tiếp rất long trọng khiến ảo tưởng của vua tôi nhà Lê cũng tan biến khi không thấy thái độ gì chứng tỏ nhà Thanh giao thiệp với Tây Sơn chỉ là bề ngoài. Ở kinh đô, triều đình nhà Thanh ra lệnh cho Kim Giản [ khi đó đang làm tổng quản Nội Vụ Phủ ] đặc biệt bảo vệ những người trong phái đoàn Quang Trung phải ở lại Bắc Kinh [ vì không đủ chỗ ở nên một số đông phái đoàn An Nam không được theo Nguyễn Quang Bình đến Nhiệt Hà ] , đừng để hai bên gặp nhau gây rắc rối. Tuy nhiên theo ghi nhận của phái đoàn Triều Tiên có mặt ở đây trong thời gian đó thì nhóm của nhà Lê cũng đi tìm và buông lời thóa mạ những người trong phái đoàn Tây Sơn.

Việc nghe và thấy phái bộ Quang Trung sang Bắc Kinh đã đưa đến nhiều phản ứng khác nhau :

– Một số tòng thần nhà Lê suy đoán rằng việc nhà Thanh “ mời ” vua Quang Trung sang Trung Hoa là kế “ điệu hổ ly sơn ” nhằm mục đích bắt giữ để trị tội ông đã dám đánh bại Tôn Sĩ Nghị. Những tin tức [ đúng hơn là giả thuyết ] về chuyến đi này đã đưa đến một số nghi án còn tồn tại đến tận hôm nay.

– Phản ứng tiêu cực hơn là gây sự với người trong phái đoàn Tây Sơn và tìm cách nói xấu họ. Những chi tiết đó được phái đoàn Triều Tiên ghi nhận vì phù hợp với mặc cảm bị lép vế trong đại lễ này.

– Một số người khác – nhất là những người bị đưa đi tới những nơi hẻo lánh – khi được hỏi ý kiến đã nhân cơ hội xin hồi cư về An Nam. Việc nhà Thanh công nhận tân vương là một minh chứng rằng triều đại mới đã được chính thống hóa và vì thế họ xin được về sống ở quê nhà nếu không bị quấy rầy hay làm hại.

Những phản ứng đó hầu như bình thường trong mọi hoàn cảnh tương tự, xưa cũng như nay. Và đây là một điểm quan trọng trong chính sách của triều đình Quang Trung – không phải chỉ đối với người đã bỏ nước ra đi rồi quay lại mà ngay cả những người còn ở trong nước nhưng không cộng tác, hoặc chống đối tiêu cực, cũng không bị bách hại. Nó cũng cho chúng ta thấy tâm lý thụ động của người dân lúc đó, tuy vẫn hoài vọng nhà Lê nhưng một khi tân triều đã được Trung Hoa công nhận thì họ cũng tin rằng mệnh trời đã đổi và bằng lòng với chúa mới, ai còn sĩ khí thì không cộng tác, sống ẩn dật, chỉ một số ít là toan tính việc lấy lại nước mà thôi.

Tháng 9 năm Canh Tuất ( 1790 ) , vua Càn Long thương tình Lê Duy Kỳ sống cô độc ở kinh đô ( khi ấy đã đến Bắc Kinh, nhận chức tá lãnh trong Hán kỳ nhà Thanh ) , thê thiếp còn lưu lạc ở quê nhà nên đã cho phép ông tìm trong số những người đàn bà đi theo lấy một, hai người làm vợ kế nhưng ông tâu lên là những người đi theo ông cũng bị thất lạc thân nhân, trong cảnh hoạn nạn không nỡ nào vui sướng một mình.


5.4.2. CHÍNH SÁCH HỒI HƯƠNG VÀ ÐOÀN TỤ

Ngay sau khi phái bộ vua Quang Trung trên đường về nước thì các tỉnh có người An Nam an tháp nhất loạt thực hiện những xét hỏi xem ai muốn về, ai muốn ở. Chính sách “ hồi hương ” và chương trình “ đoàn tụ thân nhân ” của những người lưu vong muốn sống ở Trung Hoa lại càng khiến cho những người ra đi thêm phần tuyệt vọng. Theo Lê Quí Dật Sử :

..... Tháng 8, vua nhà Thanh về Yên Kinh, Kim Giản vâng lệnh vua Thanh đến thăm hỏi [ vua Chiêu Thống ]. Cho Phan Khải Ðức làm Kiêu kỵ hiệu úy, Ðinh Nhạ Hành, Phạm Trần Thiện làm Lãnh thôi. Ngoài ra còn cấp cho mỗi người khẩu phần lương thực bằng ba người, mỗi tháng 3 lạng bạc. Sau Khải Ðức vô lễ, bị tội với vua, sai Ðinh Nhạ Hành làm Kiêu kỵ hiệu úy thay Ðức.

Theo tấu thư của Kim Giản đề ngày 19 tháng Mười năm Càn Long 55 [ Canh Tuất ] thì khi vua Càn Long ngỏ ý muốn vua Quang Trung tìm thân quyến của Lê Duy Kỳ đưa sang đoàn tụ với vua Lê, Nguyễn Quang Bình cũng đề nghị cho tìm luôn cả thân nhân những người đi theo đưa sang luôn thể. Ngược lại, những người đã sang Trung Hoa nếu muốn trở về nước thì cũng được chấp thuận. Chính vì thế Kim Giản đã đến gặp vua Lê và tòng vong để xác định chính sách và thông báo cho họ về chương trình đang được xúc tiến ở khắp nơi. Theo danh sách của Kim Giản, những người vua Lê yêu cầu nhà Tây Sơn tìm để đưa sang gồm có :


* Quyến thuộc của Lê Duy Kỳ :

–  Em trai : Lê Duy Chỉ

–  Em gái : 3 người [ chỉ đề Lê thị, không đề tên ]

–  Vợ : Nguyễn thị [ Kim ]

–  Thiếp : 2 người, Lê thị và Nguyễn thị [ không có tên ]

–  Tớ gái : 3 người, Phan thị, Trần thị và Trương thị [ không có tên ]

–  Tớ trai : 2 người, Nguyễn Võ và Nguyễn Văn [ không có tên ]


* Quyến thuộc của người đi theo vua Lê :

Lê Hân :

–  Vợ : Nguyễn thị [ không có tên ]

–  Con trai : 1 người, Lê Thận

–  Con gái : 2 người, Lê thị [ không có tên ]

Phạm Trần Thiện :

–  Mẹ vợ : Nguyễn thị [ không có tên ]

–  Vợ : Trịnh thị [ không có tên ]

–  Con trai : Phạm Đình Tụ, Phạm Đình Trị, Phạm Đình Khản

–  Thiếp : Dương thị [ không có tên ]

–  Điệt : 3 người, Phạm Đình Thể, Phạm Đình Truyền, Phạm Đình Đệ

–  Em gái : Phạm thị [ không có tên ]

–  Điệt nữ : Phạm thị [ không có tên ]

–  Nhũ mẫu : Trần thị [ không có tên ]

Nguyễn Viết Triệu :

–  Vợ : Nguyễn thị [ không có tên ]

–  Con gái : 2 người, Nguyễn thị [ không có tên ]

–  Con nuôi : Nguyễn Hữu Thanh

–  Điệt : Nguyễn Viết Thịnh

–  Nhũ mẫu : Nguyễn thị [ không có tên ]

Lê Văn Trương :

–  Vợ : Nguyễn thị [ không có tên ]

–  Con trai : 2 người, Lê Văn Sưu, Lê Văn Siêu

–  Con gái : Lê thị [ không có tên ]

–  Thiếp : Nguyễn thị [ không có tên ]

–  Điệt : 2 người, Lê Văn Đắc, Lê Văn Liên

–  Điệt nữ : 2 người, Lê thị [ không có tên ]

Lê Quí Thích :

–  Vợ : Nguyễn thị [ không có tên ]

–  Em trai : 2 người, Lê Quí Thì, Lê Quí Nghi

–  Em gái : Lê thị [ không có tên ]

Nguyễn Hữu Vọng :

–  Vợ : Nguyễn thị [ không có tên ]

Lê Thức :

–  Vợ : Lê thị, Trần thị [ không có tên ]

–  Con trai : Lê Văn

Lê Quang Duệ :

–  Vợ : Nguyễn thị [ không có tên ]

–  Em gái : Lê thị [ không có tên ]

Nguyễn Văn Lương :

–  Vợ : Phan thị [ không có tên ]

–  Em gái : Nguyễn thị [ không có tên ]

–  Điệt : Nguyễn Khả Gia

Nguyễn Văn Quyên :

–  Vợ : Phạm thị [ không có tên ]

–  Em trai : 2 người, Nguyễn Hữu Trí, Nguyễn Hữu Tín

Trần Văn Đối :

–  Vợ : Đào thị [ không có tên ]

–  Em trai : Trần Văn Đức

Đào Trọng Quang :

–  Thiếp : Nguyễn thị [ không có tên ]

–  Điệt : Đào Văn Toản

Nguyễn Thế Đăng :

–  Vợ : Nguyễn thị [ không có tên ]


Với những người tự nguyện xin về, chúng ta có thể ghi nhận như sau :

–  Ở Tứ Xuyên, nhóm Cao Xuân Vượng cùng xin về ngoại trừ một người con trai nhỏ của Lê Quýnh là Lê Doãn Toàn [ Thuyên ] mới 12 tuổi và 6 gia nhân được đưa lên Bắc Kinh sống chung với gia đình Lê Duy Kỳ để được ở gần cha [ đang bị giam ].

–  Ở Bắc Kinh, nhóm Nguyễn Ðình Bái và thân quyến tổng cộng 81 người nhờ Kim Giản tâu lên để cho về nước.

–  Ở Chiết Giang, nhóm Nguyễn Ðình Liễn 59 người xin về nước.

–  Ở Tô Châu, nhóm Lương Ðình Hiệu và thuộc hạ xin về nước.

–  Ở An Huy, gia đình Nguyễn Hiền 4 người xin về nước.

Những tin tức đó được Thanh triều báo cho vua Quang Trung [ khi đó còn đang trên đường trở về ] và vua Quang Trung đã gửi thư về nước để các quan tiến hành việc tìm kiếm. Vua Quang Trung trên đường đi cũng trả lời Phúc Khang An ngay và đề nghị họ Phúc viết vài trăm tờ hịch có đóng dấu nhà Thanh để truyền bá trong dân chúng ngõ hầu tông tộc và cựu thần nhà Lê yên tâm ra đầu thú. 

Một thời gian sau, khi thấy công việc chưa được trình báo, vua Càn Long lại gửi dụ tra hỏi, khi đó triều đình Tây Sơn trả lời Phúc Khang An có đoạn như sau :

Ngay khi về đến Hồ Nam tôi đã sức cho các viên mục bản quốc lưu thủ ở Thăng Long hãy hiểu dụ trước để cho thân quyến Lê Duy Kỳ các nơi đều kịp biết. Đến tháng Chạp, tôi vừa về đến quốc thành lập tức dụ ra khắp nơi để thần dân mọi nhà mọi người đều biết rằng thánh thiên tử có lòng tài bồi cho đạo tồn vong kèm theo danh sách em trai, em gái, thê thiếp đầy tớ của Lê Duy Kỳ cùng quyến thuộc bọn tòng nhân Lê Hân. Tôi cũng đem một trăm tờ cáo thị trong đó nói rõ tấm lòng truân thiết của thánh thượng, có đóng dấu của phủ bộ viện [ tức tuần phủ tỉnh Quảng Tây ] kèm theo danh sách tra tìm đem treo khắp những nơi rừng sâu xa vắng, không nơi nào không đến.

Cứ theo lời của em gái thứ Lê Duy Kỳ là Lê thị Ngọc Diệp đến trình thì y và chị thứ hai đều đã lấy chồng nên không muốn đưa sang, nay đã đưa giấy viết tay để chuyển sang cho Duy Kỳ biết. Còn người nhà của bọn Lê Hân cũng liên tiếp đến nơi, người thì nói là mình đang bị bệnh, người thì bảo rằng đã an cư, ai ai cũng viết thư để chuyển đi.

Xem như thế thì Lê Duy Kỳ mất nước chạy sang nội địa, quyến thuộc của y và những người đi theo lênh đênh lưu lạc [ 瑣尾流離 ] phiền đến thánh thượng phải thương xót. Thế nhưng những ai có chút kiến văn cũng phải nghĩ rằng không phải chỉ mình y ở trong hoàn cảnh thất tán dẫu xưa kia nước Sở mất con vượn tình thế cũng không thay đổi được. Trừ những người đã chết rồi thì không tìm thấy, những người còn sống đều vui bề gia thất, sống nghiệp canh cửi.

Bản quốc thể theo đức nhân của hoàng đế nên vỗ về để cho mọi người tuỳ ý, ai nấy đều đã yên ổn. Chung qui ai cũng sợ đường xa, tuy với Lê Duy Kỳ vạn dặm chia lìa nhưng trong khoảng trời che đất chở không vật gì không có chỗ dung, nay họ gửi thư trần tình rõ ràng nên chúng tôi cũng không có thể bắt ép họ phải ra đi được. Chúng tôi còn đang sợ hãi không biết xử trí vụ án này thế nào thì nhận được ân luân của thánh thượng giáo huấn đến cả những điều nhỏ nhặt, còn dụ của thượng hiến nói rằng để vỗ yên những người lưu vong nhưng sao đến nay chưa thấy một ai đưa sang, quả thực xấu hổ, bàng hoàng còn dám nói hay sao được. Nay xin gửi sang năm lá thư của bọn Lê thị Ngọc Diệp để làm bằng xin chuyển giao cho Lê Duy Kỳ tiếp nhận. Ngoài ra xin soi xét cho mọi việc nguyên do uẩn khúc để xin tâu lên rằng bản quốc đã khâm tuân, mong xét để miễn việc phải đưa họ qua.

Xem như thế trong ba cô em gái của vua Lê chỉ có một cô đi sang với anh, hai cô khác đã lấy chồng xin ở lại. Chúng ta hình dung được tới lúc này tình hình tương đối ổn định và miền Bắc cũng không còn bao nhiêu người mưu toan việc khôi phục như toan tính hay mơ tưởng của nhóm cựu thần luyến cũ.


5.4.3. NỖ LỰC PHỤC QUỐC

5.4.3.1. ÐỜI SỐNG LƯU VONG

Khi phái bộ Quang Trung qua Bắc Kinh trở về rồi, vua Lê và tùy tòng biết rằng việc xin nhà Thanh giúp đỡ phục quốc không còn hi vọng gì nữa nên đành tính một kế hoạch nhỏ hơn. Lê Quí Dật Sử viết :

Tháng 10 [ năm Canh Tuất 1790 ] , biết không thể trông cậy vào người nhà Thanh, vua Chiêu Thống cùng bề tôi đồng tâm quyết chí mưu tính kế khác, lựa chọn 10 người bề tôi : Phạm Như Tùng, Hoàng Ích Hiểu, Lê Hân, Nguyễn Quốc Ðống, Nguyễn Viết Triệu, Lê Văn Trương, Lê Quí Thích và Nguyễn Ðình Cẩm ( người Từ Liêm ) , Lê Tùng ( người Tây Ðàm ) , Lê Thức ( người Hoằng Hóa ) cùng uống máu ăn thề, thảo tờ biểu .....

Tuy không nói rõ là tờ biểu xin điều gì nhưng theo tài liệu nhà Thanh thì họ xin với vua Càn Long can thiệp để Nguyễn Quang Bình đem một trong bốn tỉnh Cao Bằng, Lạng Sơn, Tuyên Quang, Hưng Hoá cắt cho nhà Lê để phụng thờ tông miếu.

..... Mùa đông năm ngoái [ tức năm Canh Tuất 1790 ] bỗng bẩm với đô thống cai quản Kim Giản khẩn khoản xin trở về An Nam, lại xin cấp cho một trong bốn xứ Cao Bình, Lạng Sơn, Tuyên Quang, Hưng Hóa để ở, ngu xuẩn hão huyền đến thế. Cứ theo đô thống Kim Giản tâu lên thì Lê Duy Kỳ tầm thường vô năng, nghe lời bọn Hoàng Ích Hiểu, Phạm Như Tùng, Nguyễn Quốc Ðống, Lê Hân xúi biểu nên vọng thỉnh chuyện đó. Còn bọn Lê Quang Duệ 20 người thì cũng không chịu lãnh lương, cùng xin theo về, đều là bọn gây chuyện nên đã xin phát vãng bốn tên đó [ tức Hoàng Ích Hiểu, Phạm Như Tùng, Nguyễn Quốc Ðống, Lê Hân ] ra Y Lê làm lính ăn lương, còn bọn Lê Quang Duệ thì đưa đi Giang Ninh an tháp.

Nói đúng ra, việc xin một khu vực để dung thân không phải là chưa từng có trong lịch sử nước ta. Trước đây khi con cháu nhà Mạc bị đánh bại chạy sang đầu hàng nhà Thanh năm Khang Hy thứ 8 [ Kỷ Dậu, 1669 ] , vua Khang Hy cũng đã sai sứ sang bắt vua Lê Huyền Tông đem bốn châu thuộc Cao Bằng cho Mạc Kính Vũ ( tức Mạc Nguyên Thanh theo sử nhà Thanh ). Khâm Ðịnh Việt Sử, quyển XXXIII, tr 25-6 viết :

Tháng Giêng năm ấy [ tức Kỷ Dậu 1669 ] sứ nhà Thanh đến Thăng Long, triều đình nhà Lê dùng lý lẽ biện bác bắt bẻ kéo dài đến hơn 10 ngày mới tuyên bố sắc văn, rồi lại bàn cho họ Mạc được giữ một châu Thạch Lâm, nhưng Lý Tiên Căn cũng cố giữ lẽ không nghe, thành ra giằng co đến hơn 40 ngày. Sau Tạc [ chúa Trịnh Tạc ] lấy cớ rằng “ thờ nước lớn cần phải cung kính theo mệnh lệnh ” mới tâu với, vua gượng gạo theo lời. Triều đình bèn bỏ đất bốn châu thuộc Cao Bằng cho Kính Vũ .....

Nay việc vua Chiêu Thống và tòng thần xin một mảnh đất dung thân cũng không có gì trái lệ. Tuy nhiên Thanh triều khi ấy đang có những liên hệ tốt với vua Quang Trung, không muốn làm điều gì bất lợi cho sự ổn định của An Nam nên không chấp thuận yêu cầu đó. Không những thế, những người chủ trương còn bị trừng phạt, Hoàng Ðình Cầu, Bế Nguyễn Cung 49 người bị an trí tại Giang Ninh, cấp đất cho làm ruộng sinh sống, bọn Hoàng Ích Hiểu bị phát vãng sang tận Y Lê ( Tân Cương ) , bọn Phạm Như Tùng thì bị đày lên Hắc Long Giang, Nguyễn Quốc Ðống bị đưa qua Cát Lâm, Lê Hân ( 黎忺 ) bị đày đi Phụng Thiên, Lê Quang Duệ ( 黎光睿 ) cả bọn 20 người bị đày đi Nhiệt Hà, giao cho quan lại địa phương quản thúc để không còn có thể liên lạc với nhau.

Cũng theo tờ dụ ngày Giáp Tí tháng Tư năm Càn Long 56 [ 1791 ] , bọn Hoàng Ích Hiểu dù đã bị đi đày làm lính thú cũng chỉ được hưởng một nửa lương. Tấu thư của Kim Giản cùng với châu phê của vua Càn Long được gửi cho Nguyễn Quang Bình xem, vua Càn Long ra lệnh thân quyến người nào tìm được thì đưa sang, nếu chưa tìm được thì đình lại. Vì việc này, bọn Lê Quýnh đang bị giam trong ngục cũng bị cô lập, không còn liên lạc được với vua Lê nữa. Vua Càn Long cũng ra lệnh cho Kim Giản quản thúc riêng một nơi [ nguyên văn cấm cố ] một số người [ bao gồm thủ hạ của Ðinh Nhạ Hành, Phan Khải Ðức, Lê Quýnh ] không được tiếp xúc với bên ngoài. Vua Chiêu Thống cũng bị cắt hết bổng lộc chức tước nên đời sống càng thêm cơ cực.



5.4.3.2. VỤ ÁN PHỤC QUỐC

Nhân vật quan trọng nhất có thể gây khó khăn cho triều đình Tây Sơn là hoàng đệ Lê Duy Chỉ vẫn còn được một số dân thiểu số khu vực thượng du ủng hộ. Cuối năm Tân Hợi ( 1791 ) , Nguyễn Quang Bình tiến hành hai chiến dịch, một mặt đích thân đem quân tiễu trừ các nhóm người Lào ở tây nam giáp với Nghệ An, một mặt sai quân lên đánh Lê Duy Chỉ khi đó đang dựa vào bọn thổ tù là Nùng Phúc Tấn, Hoàng Văn Ðồng hoạt động ở khu vực Tuyên Quang, Thái Nguyên.

Tuy hai chiến dịch ở xa hàng nghìn dặm, triều đình Tây Sơn khi gửi thư báo tiệp cho vua Càn Long lại tâu rằng những người trở về đã bí mật liên lạc với Lê Duy Chỉ, nhân danh vua Chiêu Thống để kêu gọi cần vương, liên kết với Tiêm La, Vạn Tượng toan đánh úp kinh đô Nghệ An. Chúng ta có thể ngờ rằng khi làm việc này, Nguyễn Quang Bình chỉ nhằm mượn tay nhà Thanh tiêu diệt luôn cả những người đang ở bên ngoài cho hết hậu hoạn.

Ngoài việc tâu với vua Thanh là Lê Duy Kỳ mạo chỉ bảo Lê Duy Chỉ tụ tập cất quân đón vua Chiêu Thống về nước, Nguyễn Quang Bình lại tạ ơn vua Thanh về việc giúp đỡ để trừ Lê Duy Chỉ [ ông Hoàng Ba ], có lẽ muốn nhắc đến việc nhà Thanh cho mượn đường Vân Nam để bắt được Lê Duy Chỉ đem về Thăng Long giết đi. Việc giả mạo chiếu chỉ vua Thanh sau này không thấy các bầy tôi nhà Lê nhắc đến nên chúng ta ngờ rằng cũng chỉ là một việc bịa đặt để vu cáo vua Chiêu Thống. Tuy nhiên vua Càn Long không phải vì thế mà tin ngay nên Thanh triều đã cho điều tra khá kỹ lưỡng để tìm hiểu sự việc đưa đến một số hậu quả bất lợi khiến hảo cảm của nhà Thanh với vua Quang Trung bị suy giảm khá nhiều.


5.4.3.3. VUA LÊ QUA ÐỜI

Kể từ sau vụ án “ ám thông tin tức ”, sự tuyệt vọng đã đưa đến những hành động làm liều – đa phần vì uất ức hơn là chống đối. Một hôm vua Chiêu Thống đến phủ đệ của Kim Giản để giãi bày bị quân gác cửa lôi kéo nên người dắt ngựa cho ông là Nguyễn Văn Quyên lên tiếng chửi bới, bị chúng xúm vào đánh trọng thương, về ốm chết. Vua Thanh ban cho hai chữ Mã Ðồng [ người hầu ngựa ] và hai hàng chữ “ Lâm Nạn Bất Cẩu, Tuẫn Tiết Cô Trung ” [ 臨難不苟,殉節孤忠 ] nghĩa là khi gặp nạn không cầu an, cô trung nên tuẫn tiết. Khi di hài Nguyễn Văn Quyên đưa về nước, Nguyễn Huy Túc có làm một bài ca ngợi tên là “ Mã đồng hãn quân lụy ”, đặt tên cho Quyên là “ Trung Tráng Công ” và một bài thơ để phúng điếu.

Vua Lê càng buồn rầu vì tình thế , nhất là cũng vào khoảng thời gian đó, ngày 20 tháng Năm năm Nhâm Tí ( 1792 ) , con trai [ duy nhất ] là Lê Duy Thuyên lên đậu qua đời. Ðến tháng Chín năm Quí Sửu ( 1793 ) , vua Lê bị bệnh nặng, các bầy tôi ở các tỉnh biết tin đều viết thư thăm hỏi. Gia đồng của Phạm Như Tùng là Lê Huy Vượng ở cạnh vua hầu hạ thuốc thang, vua cho đổi tên là Duy Khang, nhận làm con nuôi để sau này cúng tế và hầu thái hậu. Tháng Mười năm ấy, bệnh vua Lê nặng thêm nên gọi các bầy tôi lại di mệnh rằng :

Gặp khi vận nhà suy kém, không thể liều chết để giữ xã tắc, phải chạy sang đất người để mưu đồ khôi phục, không ngờ lại bị người lừa dối để đến nỗi như thế này, không còn biết làm sao được. Ngày sau các người trở về nước nhà được, nhất thiết phải mang nắm xương tàn của ta về chôn ở nước nhà để làm cho chí của ta được tỏ.

Vua Chiêu Thống mất ngày 16 tháng Mười năm Quí Sửu ( 1793 ) thọ 27 tuổi ( 1866 - 1793 ) , được mai táng theo nghi thức tước Công tại ngoài cửa Đông Trực [ 東直 ] phía bắc Tân Trang, con nuôi Lê Duy Khang thế tập. Bảy năm sau, Gia Khánh thứ 5 [ 1800 ] , Thanh triều phóng thích bọn Lê Quýnh, cho an tháp ở xưởng Lam Ðiện [ 藍靛 ] bên ngoài Hỏa Khí Doanh. Họ được cấp lương thực, còn đầu tóc, y phục thì được tự do [ không bị bắt buộc phải theo tục nhà Thanh ] và được đi lại như những người khác mặc dù vẫn bị giám sát. Theo bài “ Cảm Tác ” của Lê Quýnh thì cứ bốn ngày ông lại đi thăm mộ vua Lê một lần, lần nào cũng có binh mã của Hỏa Khí Doanh đi theo.


5.5. TÌNH HÌNH TRONG NƯỚC

Giữa năm Nhâm Tí ( 1792 ) , sau khi thắng trận ở Nam Lào, [ tuy chưa hoàn toàn thành công ] vua Quang Trung rút quân về Nghệ An. Việc ông triệt binh khá đột ngột khiến chúng ta liên kết với việc quân Tây Sơn bị nạn dịch trong khi hành quân [ như Kennon Breazeale ghi nhận ]. Chính bản thân ông cũng bị bệnh – có thể thuộc loại thương hàn ngã nước là căn bệnh tối nguy hiểm ở khu vực rừng núi tây Trường Sơn – đưa đến cái chết khá đột ngột vào mùa thu năm đó [ Nhâm Tí, 1792 ].

Vì việc rút quân không tiên liệu, nhiều mường chậu [ tù trưởng thiểu số ] vẫn tiếp tục đưa người sang liên lạc để phối hợp hành quân, có lẽ vẫn nghĩ rằng Tây Sơn chưa động binh vì thời khắc không thuận lợi. Cuối năm đó, sau khi vua Quang Trung qua đời, vua Cảnh Thịnh nối ngôi, triều đình Tây Sơn tiếp tục gửi một vài sứ bộ sang điều tra tình hình nhưng có lẽ chỉ nhằm đánh lạc hướng sự dò thám của đối thủ hơn là thực sự muốn đi nốt chiến dịch này.

Việc Nguyễn Quang Bình bị bệnh cũng có thể được triều đình Tây Sơn giữ kín một thời gian như một vài giả thuyết của một số nhà nghiên cứu gần đây. Sau khi Nguyễn Quang Bình mất, dư đảng nhà Lê lại nhân cơ hội nổi lên. Sử triều Nguyễn chép :

..... Trước là ở Bắc Hà nghe tin giặc Tây Sơn Nguyễn Văn Huệ chết, nơi nơi đều nổi dậy, cùng suy tôn Lê Duy Vạn ( con Lê Hiển tông ) lên làm minh chủ. Duy Vạn bèn sai thuộc hạ là bọn Cai cơ Chấn bảy người đưa thư hẹn ta cử binh để trong ngoài ứng nhau. Chấn mượn đường thượng đạo đi sang Xiêm, người Xiêm đưa sang ta, giữa đường bị giặc biển Chà Và bắt đem bán ở Hạ Châu ( Singapore ).

Theo tình hình mà xét, những người từ Trung Hoa về nước mang theo tin vua Chiêu Thống và một số bầy tôi đang ở Bắc Kinh đưa đến một số phỏng đoán khiến nhóm hoài Lê toan tính hành động ở nhiều nơi nhưng chỉ mượn danh nghĩa Lê Duy Kỳ chứ chưa hẳn hai bên đã có những liên lạc cụ thể. Nhóm Nguyễn Huy Túc và hoàng phi Nguyễn Thị Kim cũng tính đường sang Trung Hoa tìm vua Lê nhưng không thực hiện được.

Tuy nhiên ảnh hưởng quan trọng nhất có lẽ về tinh thần hơn là vật chất. Tin vua Lê còn sống đưa đến những tin tưởng lạc quan, những hi vọng về một triều đình ở bên ngoài. Niềm tin hão huyền cũng có thể chính là đầu mối của những chuyện được dựng lên về sự trá ngụy của Nguyễn Huệ, của Nguyễn Quang Toản và những mâu thuẫn [ tưởng tượng ] giữa hai triều đình Thanh – Việt. Ðến khi việc cầu viện nhà Thanh đã nguội lạnh, sĩ phu Bắc Hà lại trông ngóng chúa Nguyễn từ trong nam ra. Không có thực lực thường dễ đi đến việc mong đợi một cơ duyên ở bên ngoài nên thời đó nhiều người đã chạy trốn sự thật bằng những buổi cầu tiên [ đồng thiếp ] hay sấm vĩ huyền hoặc.

Trong suốt thời kỳ Nguyễn Ánh và Tây Sơn còn đang tranh chấp, các di thần nhà Lê vẫn tin tưởng rằng một khi chúa Nguyễn đánh bại triều đình Cảnh Thịnh, khu vực miền Bắc sẽ được giao trả cho con cháu nhà Lê. Cuối năm Tân Dậu ( 1801 ), Lê Huy Dao còn tự đặt ra một bài hịch nhan đề “ Dụ Bắc Thành Trung Nghĩa Hào Kiệt ”, thác danh chúa Nguyễn kêu gọi những nhóm phù Lê miền Bắc nổi lên chống lại nhà Tây Sơn. Chỉ đến khi vua Gia Long lên ngôi và cho người sang Tàu cầu phong, những mong đợi của họ mới hoàn toàn nguội lạnh.


5.6. SAU KHI NHÀ TÂY SƠN BỊ DIỆT

1. Chính sách của tân triều

Khi chúa Nguyễn Ánh kéo quân ra bắc, các phần tử nhà Lê cũ khắp nơi hưởng ứng. Ngày mồng một tháng Hai năm Nhâm Tuất ( 1802 ), Nguyễn Quang Toản sai Nguyễn Ðăng Sở sang nhà Thanh cầu viện. Sứ thần Tây Sơn đi đến Thông Nguyên thì vua Thanh nhận được tấu văn của tri phủ Thái Bình :

“ Nguyễn Quang Toản nước Nam đã gây cuộc binh đao với quốc trưởng Nông Nại, thành Thăng Long sắp sửa thất thủ đến nơi ”.

Vua Gia Khánh bèn ra lệnh cho sứ Tây Sơn trở lại Quảng Tây, về Nam Quan đừng lên Bắc Kinh nữa. Nguyễn Ðăng Sở ngậm ngùi quay về. Trong tình thế nguy cấp đó, hào kiệt các nơi nổi lên. Ngày 25 tháng Hai, Trương Chí và đồng bọn đốt hơn một nghìn nóc nhà, đập phá dinh tư mã Dũng. Trương Chí bị bắt và bị giết, gia sản bị tịch thâu. Ngày mồng 7 tháng Ba, Nguyễn Trọng Tống dấy binh đánh Phao Sơn bị thua. Tháng Năm năm Nhâm Tuất, chúa Nguyễn lên ngôi hoàng đế, đổi niên hiệu Gia Long rồi đem quân đánh Nghệ An, Nguyễn Trọng Tống tới xin nhận chịu quyền tiết chế của triều đình.

Tháng Sáu, vua Gia Long tiến đánh Thanh Hoa, con cháu nhà Lê là Lê Duy Ðạt nổi binh hưởng ứng được giao cho giữ Trấn Ninh. Nguyễn Quang Toản chạy đi Lạng Giang [ Kinh Bắc, giáp giới Lạng Sơn ] nhưng đến Thọ Xương thì cầu đã bị dân phá nên phải cưỡi voi qua sông. Nguyễn Quang Thùy chạy đến Trụ Hữu ( Bảo Lộc ) thì tự tử. Dân chúng bắt được Nguyễn Quang Toản và em là Nguyễn Quang Thiệu đưa về Thăng Long. Tháng Chín năm Nhâm Tuất ( 1802 ) , Gia Long nguyên niên, vua Thế Tổ nhà Nguyễn ( Nguyễn Ánh ) cho tìm dòng dõi nhà Lê. Phiên thần Thái Nguyên Ma Thế Cố tâu là Lê Duy Hoán [ con trai của Duy Chỉ, cháu gọi vua Chiêu Thống bằng bác ruột ] còn ẩn nấp ở đấy. Vua Gia Long phong cho Lê Duy Hoán làm Diên Tự Công, thế tập tước vị và 10.000 mẫu tư điền để thờ cúng lăng miếu.


2. Xin đưa hài cốt về quê quán

Sang đời Gia Khánh, nhất là từ khi Thái Thượng Hoàng Cao Tông qua đời, vấn đề nước ta không còn được quan tâm như trước. Ác cảm với nhà Tây Sơn khiến cho Thanh triều tỏ thái độ lạnh nhạt, trong nhiều trường hợp còn vu hãm cho triều đình An Nam những việc không có thật, đổ tội cho Nguyễn Quang Toản dung chứa giặc bể mà thực ra là quan lại nhà Thanh bất tài. Những người theo vua Lê sang Trung Hoa tuy không còn bị quản thúc nhưng việc nước non cũng tạm lắng xuống. Theo Quốc Sử Di Biên thì :

..... Nguyên trước kia vua tôi nhà Lê cư ngụ ở bên nhà Thanh [ từ năm Tân Hợi, 1791 ] lên đênh lưu lạc, chỉ còn sống sót được vài chục người. Phần nhiều những người theo hầu hạ nhà vua ngày trước đã lấy vợ người Tàu và sanh con. Các ông Doãn Hữu [ tức Lê Quýnh ] bị cầm chân ở đất Tàu quá lâu ngày, chỉ còn một cái mão rách mang theo đã hơn 10 năm.

Năm Canh-thân ( 1800 ) , vua Gia-khánh nhà Thanh được sách lập lên nối ngôi. Các ông Doãn Hữu may được vua Thanh cho tại ngoại mới nghe nói tang lễ vua Lê đã thành phục .....

Khi nghe tin nhà Tây Sơn bị diệt vong, nhóm Lê Quýnh tìm cách xin đem hài cốt vua Chiêu Thống, thái hậu và nguyên tử về nước nhưng Thanh đình không trả lời vì chưa có sự thỏa hiệp với nước ta. Ðến khi sứ thần nhà Nguyễn sang cầu phong, trong phái bộ có con của Lê Quýnh là Doãn Trác [ 允倬 ]. Theo tài liệu của nhà Thanh, Lê Quýnh lấy cớ là đi thăm mộ vua Lê có lẻn đi Trác Châu [ 诼州 ] để hỏi tin con, nhờ phái bộ xin với vua Gia Long để đưa di hài vua Lê về an táng. Vua Gia Long bằng lòng nên nhà Thanh cũng phóng thích tất cả những tòng vong nhà Lê, ai muốn trở về đều được chấp thuận.


5.6.1. HỒI QUI CỐ QUỐC

Năm Giáp Tí ( 1804 ) , quan tài Lê Duy Kỳ từ Trung Hoa được đem về nước. Sau 15 năm lưu lạc, một số lớn đã xin hồi hương khi phái đoàn Quang Trung sang Trung Hoa dự lễ khánh thọ của vua Cao Tông, những người khác đã ổn định, số người còn sống theo linh cữu vua Lê chỉ chừng vài mươi người. Ngày 24 tháng Ba [ năm Giáp Tí ] bọn Lê Quýnh khâm liệm di cốt của vua Lê, quốc mẫu [ thái hậu ] , nguyên tử và những người đi theo đã qua đời, tất cả 18 cỗ quan tài. Những người về nước lại được chia thành ba nhóm do quan nhà Thanh hộ tống về Nam Quan.

Tháng Bảy năm đó, Lê Quýnh và mọi người về đến Nam Quan rồi vào trấn Lạng Sơn. Tòng thần đặt hương án vua Lê ở ngoài thành, hiệp trấn Lạng Sơn Nguyễn Duy Thản cùng các cựu thần đến khóc trước linh cữu. Vì chưa được phép của triều đình, tất cả 18 cỗ quan tài phải để tại đây để Lê Quýnh về Thăng Long trình báo với tổng trấn Nguyễn Văn Thành và tán lý Ðặng Trần Thường.

Giữa tháng Tám, Lê Quýnh lên đường vào kinh đô Huế để xin được phép đem di hài vua Lê về táng ở làng Bố Vệ. Cuối tháng Chín, khi việc phép tắc đã xong, Nguyễn Văn Thành cho lính và đinh phu lên Lạng Sơn đưa quan tài về Thăng Long, đặt tại nhà Diên Tự Công Lê Duy Hoán. Cựu thần nhà Lê mặc đồ tang đến viếng vua Lê, còn thi hài những người tòng vong thì được thân nhân nhận về an táng.

Có lẽ những di thần nhà Lê nghĩ rằng vua Gia Long là hậu duệ của chúa Nguyễn ắt vẫn còn tình nghĩa với cựu triều và sẽ cho hưởng một số ân huệ nhưng mọi đòi hỏi đều không thành công và các ưu đãi chỉ đến thế. Những ai mưu tính xa xôi hơn hay không yên phận về sau cũng đều bị trừng trị. Chính vì thế ngay từ đầu, triều đình nhà Nguyễn đã dứt khoát không để sự việc đi xa hơn. Ðại Nam Thực Lục chép lời của triều thần bàn về việc tang lễ vua Lê :

– Hoàng thượng ra ơn với triều trước, kẻ còn người mất đều được nhờ, rất là nhân vậy. Nay quan tài vua Lê đã đưa về, nhờ lượng thánh đoái thương nên cấp cho tiền gạo để tỏ hậu đạo, chứ nếu lấy lễ khách mà đãi, sai quan đến viếng thì về nghĩa e chưa được ổn. Lại nếu họ Lê có xin đặt thuỵ , bọn thần thấy đã không đúng nghĩa thì không nói được, vậy không nên cho hiệu là phải.

Vua Gia Long cho 700 quan tiền, 500 phương gạo và dùng binh thuyền hộ tống về táng ở Thanh Hoa.


5.6.2. LÊ MẠT TIẾT NGHĨA TỪ ( 黎末節義祠 )

Ðến đời Tự Ðức, theo lời tâu của đình thần, vua Dực Tông cho sưu tầm lại tên tuổi, công nghiệp và tính cách của những người tiết nghĩa cuối đời Lê để xây đền thờ gọi là Lê Mạt Tiết Nghĩa Từ ( 黎末節義祠 ) ở Hà Nội. Theo lời tâu của bộ Công và bộ Lễ thì ngôi đền này thờ chính giữa là Lê Quýnh, bên trái 11 người, bên phải 11 người, thêm hai điện nhỏ đông tây mỗi bên 5 người, tất cả 33 người. Trong số này, một số theo vua Lê chạy sang Trung Hoa, một số khác đã chết khi chống với Tây Sơn. Những người đã theo vua Lê nhưng sau lại xin về thì không được đề cập đến. Việc lập từ này thực ra không nhằm mục đích tôn vinh triều Lê mà muốn nêu gương trung nghĩa cho người sau, khuyến khích dân chúng cũng trung thành với triều Nguyễn như vậy.


PHẦN VI : NHÂN CÁCH VÀ TÀI NĂNG

Hầu hết người ta khi nhắc đến Lê Chiêu Thống thường kèm theo những lời trách cứ, nhẹ nhất cũng kết án ông là phường bán nước. Tội danh đó tùy theo sự nhận định của mỗi người nhưng hầu hết chỉ làm công việc lập lại một định kiến có sẵn. Cũng nên thêm là việc kết án này chỉ mới xuất hiện gần đây, trong khi những tài liệu vào đầu thế kỷ XX, các sử gia đề cập đến vua Lê thường tỏ ra thương cảm hơn là kết án.

Trong phần này, chúng tôi thử đánh giá lại ông qua những gì chúng ta còn có được.


6.1. TỘI DANH

6.1.1. VỤ ÁN SÁT THÚC, DÂM MUỘI

Trong những tội danh mà nhà Tây Sơn gán cho ông có bốn chữ “ sát thúc, dâm muội ”. Những tội ác này được nhắc đến nhưng không thấy đưa ra một chứng cớ rõ rệt. Về việc dâm muội thì chúng ta biết ông có một vợ [ họ Nguyễn ] và hai người thiếp [ họ Lê, họ Nguyễn ]. Có lẽ vợ ông là Nguyễn Thị Kim, người làng Tì Bà, [ em của Nguyễn Quốc Ðống ] cũng là bản quán của thái hậu ( mẹ ông ) nên có thể có liên hệ họ hàng xa. Hai người có một người con là Lê Duy Thuyên mất sớm. Lê Duy Kỳ khi sang Trung Hoa không lấy vợ khác, bà Nguyễn Thị Kim thủ tiết rồi tự tử khi di thể của chồng được đưa về. Ngoài vợ cả là vương phi họ Nguyễn xuất hiện khi quan tài vua Lê về nước rồi tự tử chết theo, hai người vợ lẽ họ Lê và họ Nguyễn không biết về sau ra sao.

Còn chuyện sát thúc thì được nhắc lại trong sử triều Nguyễn cho rằng hành vi trả thù này được thi hành khi ông đang ở Thăng Long dưới sự bảo hộ của quân Thanh. Khâm Ðịnh Việt Sử chép như sau :

..... Nhà vua có tính hẹp hòi, khắc nghiệt. Trong họ tôn thất có người phụ nữ lấy tướng giặc, đang có mang cũng bị nhà vua sai mổ bụng chết. Lại sai chặt chân 3 người hoàng thúc, quăng ra chợ cung ( chợ ở trong cung ). Lòng người dần dần ngờ vực, không nhất trí.

Những chi tiết về tội ác đó cũng được lập lại trong Hoàng Lê Nhất Thống Chí :

..... Ngoài ra có 3 người chú vua liên lạc với Tây Sơn, lại gả con gái cho họ, bị vua ngầm sai người bắt đem chặt chân rồi vứt xuống cái giếng ở trong cung.

Thực ra như trong lá thư của Lê Duy Cẩn gửi Tôn Sĩ Nghị trước khi quân Thanh tiến binh đã nhắc đến vụ án này xảy ra khi Nguyễn Hữu Chỉnh cầm quyền mà chúng ta còn biết được tên 3 người này là Lê Duy Lữ, Lê Duy Lân, Lê Duy Hội. Như vậy sự việc xảy ra không biết chính xác lúc nào và cũng không rõ nguyên ủy, do tranh chấp quyền hành hay vì ở trong một âm mưu của họ Lê chống lại Cống Chỉnh. Phía Tây Sơn cũng còn nhắc đến những việc “ sát hại công thần ” chẳng hạn vụ Dương Trọng Tế [ tức Khiêm ] , nhưng theo nhiều tài liệu cùng thời, họ Dương tuy có học [ đỗ tiến sĩ khoa Giáp Tuất 1754 ] nhưng tâm địa phản trắc, một trong những thành phần muốn đưa họ Trịnh trở lại nắm quyền nên khi thua trận bị dân bắt giải đến kinh đô.

Việc vua Lê mổ bụng đàn bà có mang vì đã có thai với tướng Tây Sơn cũng không có chứng cớ gì. Ðáng để ý nhất là khi Tôn Sĩ Nghị muốn đưa Lê Duy Cẩn về Trung Hoa để đày biệt xứ, Lê Duy Kỳ đã không chịu và xin cho ông này ở lại nước cho thấy ông không phải là người tàn ác. Tội lỗi của vua Chiêu Thống còn được kẻ thù ghét dùng ngay mẹ ông để tô điểm và nhấn mạnh :

..... Kịp khi ấy Thái hậu ở Cao Bằng về, vừa tới Kinh, thấy vua chỉ thích làm những việc báo ân báo oán trái với phép thường như vậy thì nổi giận nói :

– Ta phải trèo đèo lội suối khó nhọc vất vả mới xin được quân sang đây ..... Phỏng chừng nhà nước chịu được mấy phen ơn thù mà phá hoại như thế ? Nếu cứ cách ấy thì trị sao được thiên hạ ? Gái già này lại đến làm đứa lưu vong mất thôi !

Rồi Thái hậu gào khóc, không chịu vào cung.

Thực ra mãi đến đêm Trừ Tịch ( 30 tháng Chạp ) Tết năm Kỷ Dậu, thái hậu và những người tòng vong mới về đến sông Nhị Hà, vào đến nơi là Tết Nguyên Ðán. Hôm sau mồng Hai đã nghe tin quân Tây Sơn đánh ở phía Nam, anh em vua Lê lo việc đốc thúc quân Cần Vương lập phòng tuyến trấn thủ. Những việc kể lại trong Hoàng Lê Nhất Thống Chí về việc quân Thanh và vua Lê ở Thăng Long phần nhiều là bịa đặt mặc dù có thể có một số bầy tôi lợi dụng thời cơ để đền ơn trả oán.

Chính những chi tiết lấp lửng với dụng ý cho rằng vua Lê cậy thế quân Thanh để làm những điều bất nghĩa đã khiến cho hậu nhân tin chắc Lê Duy Kỳ là một hôn quân tàn nhẫn.


6.1.2. CẦU VIỆN NHÀ THANH

Việc cầu viện nhà Thanh trước đây sử nước ta vẫn đổ riệt cho mẹ con vua Chiêu Thống vẫn còn nhiều uẩn khúc, bề ngoài lấy tiếng là cứu giúp một triều đại đã thần phục hơn trăm năm nhưng bề trong Thanh triều, cả chính sách chung lẫn tham vọng riêng, đều có tính hình thức chỉ để hợp thức hóa tham vọng của họ. Chính vì thế khi thấy đối tượng không còn phù hợp với nhu cầu nữa, nhà Thanh lập tức thay đổi kế hoạch để quay sang công nhận Nguyễn Quang Bình mặc dù dư âm cuộc chiến khốc liệt vẫn còn vang vọng. Trong thế cuộc “ đuổi hươu tranh đỉnh ”, dù triều đại nào của nước ta đều cũng phải thần phục Trung Hoa, tư thế còn tùy theo từng lúc, từng khi nhưng tương quan giữa hai nước không suy suyển.

Một điều ít ai nhắc đến là chính Nguyễn Quang Bình đã tự ý xin được đổi hạn kỳ triều cống từ 3 năm lên 2 năm một lần và việc này đã trở thành thông lệ cho tới khi người Pháp chiếm Ðông Dương, nước ta không còn là thuộc quốc của Trung Hoa nữa. Khi chê bai việc cầu viện Trung Hoa, chúng ta cũng đừng quên Nguyễn Quang Toản và các em ông khi thất thế cũng cho người sang Tàu cầu cứu [ nhưng bị cự tuyệt ], và khi người Pháp đánh Bắc Kỳ thì vua Tự Ðức cũng xin nhà Thanh trợ giúp. Tuy Thanh triều chỉ điều động một số thổ phỉ ở thượng du, hậu quả cũng đưa đến việc chúng ta bị mất một số đất dọc theo biên giới [ cho Trung Hoa ] theo thỏa ước mà người Pháp ký với Thanh triều.


6.2. CAI TRỊ VÀ NHÂN CÁCH

6.2.2. ÐỐI XỬ

Về nhân cách của Lê Duy Kỳ, phần lớn các sử gia phán đoán theo những chi tiết mà Khâm Ðịnh Việt Sử, Liệt Truyện hay Hoàng Lê Nhất Thống Chí miêu tả. Thực ra khi lên ngôi, vua Chiêu Thống cũng hết sức làm những gì mình có thể làm nhưng ngoài một số văn quan trói gà không chặt, một số lính hầu trong cung, các thế lực bên ngoài không ở trong tầm tay. Những người có binh lực dù không đáng kể cũng bắt ép đủ điều, từ Trịnh Lệ, Trịnh Bồng cho đến Ðinh Tích Nhưỡng, Nguyễn Cảnh Thước, Hoàng Phùng Cơ ..... đều nay về mai phản. Ðó là chưa kể Tây Sơn ở phía nam luôn luôn đe dọa và phá tan những gì vừa mới hình thành. Khác với miêu tả trong Hoàng Lê Nhất Thống Chí, theo Lê Quí Kỷ Sự, khi thiêm đô ngự sử Nguyễn Ðình Lượng dâng biểu đàn hặc những người chạy theo giặc, nhà vua nói :

- Nào ai có thích theo giặc đâu, chẳng qua người vì tình nhà, kẻ vì bố mẹ nên mới không tránh khỏi mối liên quan đến giặc thôi. Vả lại ta không giữ nổi nước nhà thì sao còn nghiêm trách tôi con nữa ?

Chi tiết này ngược lại hẳn với những tin đồn về việc ông đền ơn trả oán. Tình nghĩa với người đi theo cũng đáng ghi nhận, nhiều lần ông cho người đem quà và gửi thư cho những người bị giam trong ngục ở Bắc Kinh. Trong văn chương để lại, chúng ta thấy những tòng thần vẫn trung thành và kính trọng đến khi ông qua đời, không hề thấy điều gì tỏ ra coi thường chúa cũ. Lê Quýnh khi ra khỏi ngục luôn luôn đến viếng mộ ông và sau này tìm đủ mọi cách để thực hiện di mệnh đưa nắm xương tàn của ông về quê cũ. Cũng nên nhấn mạnh rằng khi lên làm vua ông mới 19 tuổi, và khi chạy sang Trung Hoa ông cũng chỉ mới 23. Khí độ như thế, chúng ta thấy tư chất ông không tầm thường mặc dù theo sử sách thì việc học của ông cũng rất hạn hẹp, không phải vì lười biếng mà vì thời thế tạo nên.

Nhìn lại tài liệu của nhiều phía, chúng ta thấy có sự đồng tình của cả Thanh triều lẫn Tây Sơn muốn dựng ông trên cùng một mẫu số : bất tài, nhút nhát, không có chí tiến thủ ..... và được lập lại dưới ngòi bút của sử thần triều Nguyễn. Nếu bỏ đi những thêm bớt mà thiên hạ thêu dệt để nhân dáng ông thích hợp hơn với mô hình ngụy tạo này, ông vua cuối trào kia quả là đáng thương hơn đáng ghét.


KẾT LUẬN

Trong hầu hết sách vở Việt Nam, việc nhà Thanh bãi binh không đánh An Nam lần thứ 2 vẫn được ghi nhận là do Ngô Thì Nhậm làm trung gian đút lót để Phúc Khang An hết sức khuyên Thanh đế từ bỏ việc xâm lăng. Như đã trình bày, chính sách của triều đình Trung Hoa được thực hiện trên qui mô lớn, mỗi quyết định đều được thảo luận và nghiên cứu kỹ càng xét theo đủ mọi tình huống, không phải chuyện đơn giản và trẻ con đến như thế.

Xét cho cùng, mục tiêu tối hậu của họ là có một nước phiên thuộc tiếp tục thần phục và triều cống thì dù Lê Duy Kỳ, Nguyễn Huệ hay Nguyễn Ánh làm chủ nước Nam cũng không khác gì. Việc cứu giúp chỉ là cái tiếng ở bên ngoài và nếu thành công thì họ có thể can thiệp sâu hơn vào nội tình nước ta mà thôi. Ðiều khúc mắc trong việc công nhận triều đình Tây Sơn là làm sao thi hành một giao ước trước đây Tôn Sĩ Nghị đã đạt được : quốc vương An Nam đích thân sang triều cận trong lễ bát tuần vạn thọ của vua Cao Tông năm Canh Tuất. Khi tái lập Lê Duy Kỳ làm An Nam quốc vương, trong hoàn cảnh chết đi sống lại, vua Lê đã sốt sắng tình nguyện làm việc này. Nay việc đưa Lê Duy Kỳ trở lại ngai vàng là một việc làm khó khăn và tốn kém, việc công nhận một vua mới dễ dàng hơn nhưng làm sao để tân vương cũng chấp nhận điều kiện đó lại là một việc không đơn giản.

Khi chép về một giai đoạn lịch sử đã trở thành “ hồng hoang ” như thời đại Tây Sơn, không những chúng ta phải xét lại nhiều vấn đề, nhiều nhân vật, mà chúng ta cũng cần tìm hiểu những âm mưu đã ngụy tạo tài liệu để hướng dẫn quần chúng. Sử thần nhà Nguyễn tuy không tuyệt đối nâng cao sự chính thống của triều đại một cách lộ liễu nhưng việc hạ thấp các thế lực khác là một điều bắt buộc. Ðối với kẻ thù dĩ nhiên việc bôi bác có chiều triệt để hơn nhưng ngay cả với những thế lực “ bạn ” như Xiêm La, Pháp, cũng bị phủ nhận một cách khéo léo nhằm chứng minh cho quốc dân biết rằng công lao chính yếu trong việc khôi phục giang sơn vẫn là của chúa Nguyễn, sự giúp đỡ nếu có chỉ là rất nhỏ nhoi.

Nhà Lê tuy không phải là một thế lực tranh bá đồ vương với họ Nguyễn nhưng vẫn còn nhiều ảnh hưởng với quần chúng Bắc Hà, người dân vẫn ghi nhớ công lao của vua Thái Tổ đuổi quân Minh và những thời kỳ thịnh trị kế tiếp. Vương triều họ Lê cũng đã một thời chúa Nguyễn ở trong Nam phải thần phục không phải một đời mà kéo dài đến hơn 200 năm. Chính vì thế, vị vua cuối cùng của nhà Lê và những người theo ông đã bị nhấn mạnh trong nỗ lực “ rước voi về dầy mả tổ ” không nằm ngoài mục đích truất đi cái thiên mệnh của họ, xoá nốt những dư hưởng của một triều đại chính thống. Cho đến những ngày cuối cùng khi chúa Nguyễn sắp sửa hoàn thành công cuộc thống nhất đất nước và tiêu diệt toàn bộ đối phương, ông vẫn khôn khéo nhân danh nhà Lê, sử dụng chiêu bài tôn Lê như miếng mồi nhử sĩ phu Bắc Hà để họ tích cực trong việc ủng hộ ông hay ít nhất giữ thái độ chống đối nhà Tây Sơn dù chỉ tiêu cực :

..... Cho tới bấy giờ [ 1802, ghi chú của người viết ] chúa Nguyễn vẫn công nhận họ Lê là dòng chính thống, hễ làm việc gì cũng nhân danh Lê triều và chỉ xưng là Tổng trấn, chiến đấu nhân danh vua Lê và cố gắng phục hưng vương tộc đã bị giặc Tây Sơn cướp hết quyền. Chỉ theo quan điểm ấy thì khắp nơi dân chúng mới sốt sắng giúp dập chúa và tất cả nhân dân Ðàng Ngoài ngã ( sic ) về phe chúa. Tóm lại, ngay khi chắc chắn hoàn thành cuộc chinh phục giang sơn, vị chúa ấy đòi hỏi việc suy tôn vương hiệu và đối với các hậu duệ họ Lê chỉ tỏ lòng trắc ẩn và coi như không xứng đáng với đế vị .....

Chính vì có nhiệm vụ nêu cao sự chính thống của nhà Nguyễn và nhấn mạnh vào sự “ đánh mất thiên mệnh ” của nhà Lê nên cuộc đời của Lê Duy Kỳ bị xuyên tạc ở nhiều điểm, thêu dệt thêm cũng có mà bóp méo với ác ý cũng có. Các sử thần nhà Nguyễn cố tình miêu tả triều đại cuối cùng của nhà Lê như một nhóm người hèn yếu chủ trương nhờ cậy người ngoài, mất hết chủ quyền và hoàn toàn lệ thuộc vào quân địch. Trong khi đó Thanh triều lại nhấn mạnh vào cái thế chính nghĩa của họ và đổ cho Lê Duy Kỳ vô tài “ bị trời ghét bỏ ” nên phải chấm dứt sự yểm trợ và chuyển sang việc công nhận một họ khác.

Một cách thẳng thắn, không phải con người của Lê Duy Kỳ không có những điểm đáng ghi nhận. Tuy suốt thời kỳ thơ ấu bị giam trong ngục, chỉ được sống vài năm gọi là thoải mái khi vua Hiển Tông còn sống nhưng qua thơ văn, hành trạng, chúng ta thấy ông không phải là một hôn quân. Những nỗ lực cải cách để nắm thực quyền của ông không có cơ hội thực hiện, phần vì triều đình đơn bạc, phần vì các sứ quân cát cứ không khuông phò, những người có đôi chút thực lực thì lại chỉ muốn lợi dụng thời cơ để thay quyền chúa Trịnh mà không đoái tưởng đến việc phù Lê.

Trong hoàn cảnh khắc nghiệt, vua tôi nhà Lê tuy chỉ có thể có những phản kháng tiêu cực và lẻ tẻ, nhưng dầu sao chăng nữa, tình cảnh của một ông vua thất thế cũng nói lên sự chua chát của cuộc đời :

- Năm Giáp Tí ( 1804 ) niên hiệu Gia Long thứ 3 ( Thanh năm Gia Khánh thứ 9 ), vua Thanh cho phép đưa linh cữu vua Lê, thái hậu và nguyên tử về nước. Tháng Hai, mở quan ván ra thì thấy vua Lê da thịt đều tiêu cả, chỉ riêng có quả tim vẫn không nát, hãy còn rớm máu tươi đỏ như lúc sống. Ai trông thấy cũng phải xót xa, kinh ngạc .....

Sự kiện này tuy có chỗ còn đáng ngờ, có thể do bịa đặt để làm cho hoàn cảnh vua Lê thêm bi phẫn nhưng cũng đáng cho chúng ta phải nhìn lại vấn đề một cách nhân bản hơn. Lúc đầu vua Gia Long có hậu đãi con cháu nhà Lê nhưng chủ yếu là để trấn an dân tình miền Bắc, tuy nhiên khi có cơ hội, ông vẫn không tha dù âm mưu bội phản rất mơ hồ. Tháng Một năm Bính Tí ( 1816 ), Gia Long thứ 15, Diên Tự Công Lê Duy Hoán mưu phản nên bị bắt, toàn gia bị xử tử. Quốc Sử Di Biên chép rằng :

- Diên tự công Lê Duy Hoán có tội, bị giết.

Năm Quí Dậu trước, Hoán có tội bị tước bổng thường uất ức không vui, ngầm nuôi sư Hà Liễu làm ấn đồng giả. Việc phát giác, Hoán cùng vợ con bị giải vào Kinh phải tội lăng trì, thây ném xuống Băng Hồ ; gia đồng 13 người đều bị xử tử. Con nhỏ là Duy Lương trốn vào núi. Chiếu rằng : “ Ðã phong tước thượng công lại hậu cấp lương bổng, xét vào lý thì lấy oán báo đức ; trách vào lòng thì lấy tôi thờ vua. Trẫm vẫn không muốn trị tội nhưng đình thần bàn khép vào pháp luật ..... ”.

Ðến đời Minh Mạng, một số người Lào cũng bị nghi là hậu duệ nhà Lê nên bị bắt và bị xử tử.

Việc tìm lại chân diện mục của vua Lê trở nên khó khăn hơn khi ông là nạn nhân của cả 3 thế lực nổi bật thời đó : Thanh triều thế lực lúc đầu ủng hộ, về sau ruồng rẫy ông. Tây Sơn là kẻ thù trong những giai đoạn khó khăn nhất cố tình đuổi tận giết tuyệt. Và triều Nguyễn là đao phủ sau cùng để chặt nốt những di sản mà họ e ngại rằng còn rơi rớt trong tâm tư người dân đất bắc.

Thế nhưng cá nhân ông không đến nỗi tệ hại dù rằng bất cứ một vị vua sau cùng nào của một triều đại cũng đều bị qui trách tội lỗi làm mất nước. Người ta không tìm thấy chứng cứ ông đam mê tửu sắc, tin dùng nịnh thần nên bịa ra một số tội trạng mơ hồ như “ sát thúc, dâm muội ”, chỉ lo trả oán như mổ bụng đàn bà chửa, chặt chân chú vứt xuống giếng ..... xem ra chỉ là những vu cáo có ác ý. Sử quan cũng gán cho mẹ ông chủ mưu sang Long Châu vào sân tổng đốc “ gào khóc xin cứu viện ”, lại can thiệp vào triều chính theo mẫu hình Từ Hi, Võ Hậu, còn cận thần là Lê Quýnh thì “ chỉ lo đền ơn trả oán và công nhiên ăn của đút lót ”. Biến chuyển trong 28 năm cuộc đời của Lê Duy Kỳ là những dấu mốc quan trọng nếu chúng ta lần theo đó để nhìn lại toàn bộ tương quan chằng chịt làm nền tảng cho chính sách ngoại giao của Trung Hoa với phiên thuộc.

Vua Lê nếu chỉ xét trong một giai đoạn ngắn như sử sách thường nhấn mạnh – từ lúc vong thần nhà Lê chạy qua Long Châu đến khi quân Thanh kéo sang để rồi bị đánh cho tan tác khiến vua tôi lại lếch thếch chạy sang Tàu nương nhờ đến cuối đời – là một mẫu người nếu không đáng trách thì cũng chẳng có gì đáng khen. Thế nhưng khi một số chi tiết khả tín khác được bạch hoá, chúng ta mới thấy rằng sự thật chưa hẳn đã hoàn toàn như những gì chúng ta từng biết.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét